Nam Việt Nam: một xã hội trong chiến tranh

Hoa Kỳ không những chỉ nhận lấy phần mang tính quyết định trong lúc tiến hành chiến tranh. Không có sự hiện diện của người Mỹ thì giới lãnh đạo chính trị của Nam Việt Nam, với tướng Kỳ và Thiệu ở hàng đầu, hầu như không thể nắm giữ lấy quyền lực được. Nguyễn Văn Thiệu, sinh năm 1923, là một sản phẩm đặc trưng của giới tinh hoa Việt Nam mới, mang dấu ấn của chiến tranh. Hoàn cảnh gia đình  của ông mang tính tỉnh lẻ và khiêm tốn. Trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Thiệu thăng tiến lên đến cấp thiếu tá trong quân đội Việt Nam do Pháp thành lập. Năm 1954, ông tham gia QLVNCH của Diệm và tốt nghiệp một khóa đào tạo ở Hoa Kỳ. Năm 1958, ông bước lên cao: con người theo đạo Phật này kết hôn vào trong một gia đình Công giáo giàu có. Thiệu chuyển đạo và dùng các quan hệ tốt của người vợ để nhanh chóng thăng tiến. Qua đó, ông đã được định trước cho một chức vụ quan trọng trong QLVNCH, nhưng lại không có khả năng lãnh đạo.

Ngoại trừ quân đội, chính quyền quân sự có được chỗ dựa ở người Công giáo cũng như ở giới tinh hoa kinh tế người Hoa và người Việt. Tổng cộng thì đó là một phần tám toàn bộ dân số. Nhưng ngoài các thành phố ra thì chính phủ ở Sài Gòn hầu như không nhận được sự đồng tình thật sự. Nhiều vùng rộng lớn của đất nước trước sau vẫn nằm dưới sự kiểm soát của MTDTGP (1965 khoảng hai phần ba, năm năm sau đó vẫn còn tròn 25%). Trong những vùng tranh chấp và trong những vùng mà chính phủ Nam Việt Nam nắm quyền, đa số người dân cố gắng tránh cuộc chiến càng xa càng tốt. Họ trung lập – đứng trước tình hình quân sự lúc đó thì việc này có lợi nhiều hơn cho MTDTGP. Nhưng ngay trong quân đội và người dân thành thị thì chính quyền quân đội cũng bị tranh cãi.

Quốc trưởng Thiệu và Thủ tướng Kỳ vào ngày 19/06/1966 (Ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa)
Quốc trưởng Thiệu và Thủ tướng Kỳ vào ngày 19/06/1966 (Ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa)

Với lần chấn động về chính trị làm rung chuyển phần phía bắc của đất nước trong mùa xuân 1966, chính phủ Johnson có được cơ hội lần cuối để xét lại sự ủng hộ vô điều kiện của họ cho chính quyền ở Sài Gòn và gắn kết mọi sự giúp đỡ tiếp theo với nhiều điều kiện. Việc Tổng thống Johnson để cho khả năng này đi qua mà không dùng đến nó đã làm rõ thêm một lần nữa, rằng các yêu cầu dân chủ hóa và phát triển kinh tế của ông cuối cùng chỉ mang tầm quan trọng thứ yếu. Viễn tưởng “Great Society” cho Việt Nam lộ ra đơn thuần chỉ là một ý muốn. Tình trạng bất ổn về chính trị ở Nam Việt Nam bùng nổ trong tháng Ba 1966 khi tướng Kỳ muốn mở rộng sự kiểm soát cá nhân của ông ra miền Bắc và cách chức viên chỉ huy vùng I chiến thuật (năm tỉnh ở phía nam của khu vực phi quân sự). Nhưng lần cách chức người lãnh chúa của các tỉnh đó, Tướng Nguyễn Chánh Thi, đã thể hiện ra là một sai lầm lớn. Người Phật giáo có tổ chức nhận ra cơ hội tiến đến chấm dứt chiến tranh bằng con đường chính trị. Người dẫn đầu họ, Trí Quang, người mà ba năm trước đó đã lãnh đạo cuộc nổi dậy chống Diệm, liên kết với Thi, người cùng tín ngưỡng với ông. Sau những cuộc biểu tình nhiều ngày chống cách chức Thi, trật tự công cộng ở Huế và Đà Nẵng sụp đổ, nhiều phần của các đơn vị QLVNCH đóng quân ở đó đã chạy sang với người Phật giáo. Với lời hứa tổ chức bầu cử Quốc Hội, Tướng Thiệu cố gắng làm dịu tình hình vào giữa tháng Tư. Nhưng điều này không giúp được gì nhiều. Trong bộ chỉ huy Mỹ, trong đại sứ quán và ở Washington, sự lo lắng đã tăng lên, vì những cuộc biểu tình đó ngày càng mang tính bạo lực nhiều hơn và mang tính chống Mỹ mạnh mẽ. Để ngăn chận một cuộc nội chiến trong nội chiến đang sắp sửa bắt đầu, Kỳ với sự giúp đỡ của người Mỹ đã cho chiếm đóng Đà Nẵng và bao vây các ngôi chùa. Điều này về phần nó lại kích động thêm cho cuộc chống đối ở Huế. Tổng lãnh sự Mỹ bị phóng hỏa, trong khi lực lượng cứu hỏa đứng nhìn. Ở Sài Gòn, sự chống đối có nguy cơ lan tràn sang những người Công giáo trung lưu và nhiều phần rộng lớn trong giới sinh viên. Có ít nhất mười nhà sư và ni cô đã tự thiêu, để gây sự chú ý của công chúng thế giới đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Nhưng cuối cùng thì phong trào Phật giáo thiếu một đường lối thống nhất và rõ ràng về chính trị, và các cuộc đàm phán giữa những lực lượng chống đối và giới tướng lãnh ở Sài Gòn cho thấy rõ thêm một lần nữa cấu trúc thống lĩnh manh mún của đất nước Đông Nam Á này. Cuối cùng, đầu tháng Sáu, các đơn vị Mỹ và lực lượng trung thành của Sài Gòn chiếm đóng thành phố Huế. Sau những trận đánh kéo dài nhiều ngày, mà qua đó có trên 700 người bị thương và 180 người bị giết chết, cuộc chống đối bị bẻ gãy. Sau khi cuộc chống đối của phe Phật giáo bị đập tan, người dân thành thị về cơ bản chỉ còn có sự lựa chọn giữa MTDTGP và chính phủ ở Sài Gòn.

Để có thể trưng ra cho người Mỹ thấy mặt ngoài của một trật tự dân chủ được chính danh hóa, Kỳ và Thiệu tổ chức bầu cử trong tháng Chín 1967. Người Phật giáo từ chối không tham gia, và ở những nơi mà MTDTGP thống trị thì người dân cũng không đi bầu. Trong những vùng do chính phủ quản lý đã có gian lận rất lớn. Mặc dù vậy chỉ có 34,8% số phiếu là bầu cho Thiệu, người ứng cử chức vụ tổng thống, và Kỳ, người buộc phải hài lòng với chức vụ thủ tướng. Đa số phiếu phân tán ra cho rất nhiều đảng dân sự tương đối nhỏ và bất đồng với nhau. Vì những bất thường trong cuộc bầu cử, Quốc Hội đã không muốn công nhận kết quả này. Mãi sau sự can thiệp mạnh mẽ của đại sứ Mỹ, Ellsworth Bunker, cơ quan đại diện cho nhân dân mới nhượng bộ và bầu Thiệu làm tổng thống. Hai ứng cử viên cạnh tranh, những người yêu cầu chấm dứt cuộc chiến tranh ném bom lên Bắc Việt Nam, đã bị bắt giam Nhiều người xem cuộc bầu cử này như là một màn kịch của Mỹ với những diễn viên người Việt.

Ảnh hưởng của chiến tranh lên xã hội vượt xa những tác động của nó lên chính trị. Sau 1965, hỏa lực tập trung của quân đội và du kích quân đã quyết định sự phát triển về nhân khẩu học Nam Việt Nam. Cuộc chiến đã khiến cho hàng trăm ngàn người chết, bị thương hay bị hành hạ. Hơn nửa số nông dân bị ép buộc phải tái định cư hay bị mang vào trong các trại tỵ nạn – vào năm 1967 là ba triệu người. Tiếp theo sau chiến sự, nhiều người dân đã dọn vào các thành phố để sinh sống. Bên cạnh các trại tỵ nạn, chúng phát triển trở thànnh những vùng hội tụ dân cư nông thôn bị mất gốc rễ. Nếu như trong năm 1960 chỉ có 20% tất cả người Nam Việt Nam sống trong thành phố thì 1968 đã nhiều hơn gấp đôi  (năm 1974 được cho là 60%). Trong những khu dân cư nghèo của các thành phố, tỷ lệ thất nghiệp cao đã khiến cho tội phạm, tiêu thụ ma túy và bán dâm tăng vọt. Sự xa lạ, đi cùng với chuyến chạy trốn ra khỏi những không gian sống truyền thống và sự sụp đổ của xã hội nông thôn, đã mở cửa cho tính ít kỷ trần trụi và lối đối xử phản xã hội. Bị tác động nhiều nhất là thanh thiếu niên dưới hai mươi tuổi, chiếm 60% dân số thành thị vào đầu những năm bảy mươi. Thời đó, nhà chính trị học Harvard đã dùng mỹ từ “đô thị hóa bắt buộc” để gọi quá trình này. Chính phủ không làm gì để giải quyết vấn đề tỵ nạn khổng lồ này. Cuối cùng thì nó cũng có mặt tốt như thế nào đó cho họ, vì họ có thể tăng cường kiểm soát nhiều người dân hơn nữa.

Trung tướng Nguyễn Chánh Thi
Trung tướng Nguyễn Chánh Thi

Vì chiến tranh mà nền kinh tế đã suy sụp trong nhiều vùng rộng lớn của đất nước. Chỉ nhờ vào việc nhập khẩu ngày càng tăng từ Mỹ (đặc biệt là lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng), cho tới 1970 đã đạt tới gần 50% giá trị của tổng sản phẩm nội địa, mà đời sống có thể giữ được ở mức cao một cách nhân tạo và khiến cho kinh tế phi chính thức phát đạt, nền kinh tế mà nhiều phần rộng lớn của người dân đã tham gia vào trong đó. Trong các thành phố biển và đặc biệt là ở Sài Gòn, người ta có thể mua trên đường phố không chỉ hàng lậu và hàng trộm cắp thông thường như hàng tiêu dùng, hàng xa xỉ và lương thực thực phẩm mà thậm chí cả súng máy, mìn và súng cối. Vì lạm phát đã ngốn mất tiền lương từ giữa những năm sáu mươi – thu nhập thực của một người lính VNCH năm 1969 chỉ còn là một phần ba của giá trị năm 1963 –, nên nhiều người dân phải dựa vào chợ đen.

Chắc chắn là có những nhân viên nhà nước và quân nhân liêm chính, nhưng vì người dân thường sống thiếu thốn, các nhân viên cao cấp trong bộ máy nhà nước và các sĩ quan muốn thu lợi nhiều hơn, nên tham nhũng, theo một nghiên cứu do Lầu Năm Góc yêu cầu thực hiện, đã trở thành “một đặc tính trung tâm của xã hội Nam Việt Nam”.[1] Ngay Thiệu cũng đã làm giàu từ tiền thuế của Mỹ và trong lúc chạy trốn ra khỏi Sài Gòn năm 1975 đã có nhiều triệu dollar trong các tài khoản ở nước ngoài. Một Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tuồn các số tiền chuyển khoản của Mỹ cho việc sử dụng bất động sản sang tài khoản cá nhân của ông, quận trưởng nhận vàng cho những việc làm sắp cần người, và nhân viên nhà nước cấp dưới ở các tỉnh lỵ dùng một phần tiền nhà nước để trả cho MTDTGP như là tiền bảo hộ. Như một căn bệnh ung thư, tham nhũng lan ra trong toàn bộ các lĩnh vực kinh tế và hành chánh, và đi ngược lại với các nổ lực của Mỹ nhằm ổn định đất nước về mặt kinh tế.

Xua đuổi, kinh tế khó khăn, tỷ lệ sinh con cao và tài trợ tài chính của Mỹ đã tạo khả năng mở rộng lực lượng quân sự Nam Việt Nam, lực lượng mà năm 1968 đã bao gồm 800.000 người – tương ứng với 9% dân số nam giới. Trước sự hiện diện của Mỹ, cho tới năm 1968, công cuộc xây dựng quân đội chính quy hay các lực lượng tự vệ vùng và địa phương không phải là một sự cần thiết về mặt quân sự. Các tướng lãnh của QLVNCH thúc đẩy nó từ những lý do về xã hội, kinh tế và chính trị. Quân đội và các lực lượng tự vệ đứng dưới quyền của quân đội luôn là triển vọng duy nhất cho những người dân tỵ nạn và nam giới từ những tầng lớp dưới ở thành thị; họ ràng buộc những con người mà nếu không thì có thể chạy sang với MTDTGP; và họ tạo thành nền tảng quyền lực cơ bản mà chính phủ có được. Nếu như tính cả vợ và con của các quân nhân thì có trên ba triệu người phụ thuộc vào quân đội – tương ứng với 20% dân số.

Việc mà quân đội từ 1965 cho tới 1968 không thể được đào tạo để trở thành một công cụ có sức chiến đấu cao thì có nhiều lý do. Một lý do là tiền lương thấp. Một phần tư quân nhân vì vậy mà phải làm thêm việc để có thể nuôi sống được gia đình (với trung bình là bốn đứa con). Chỉ có ít khả năng thăng tiến cho những người không xuất thân từ giới nhân viên trung cao cấp của nhà nước hay từ giới tinh hoa kinh tế. Nhiều sĩ quan cao cấp thì lại thích quan tâm đến công việc quản lý mang lại nhiều tiền hơn là đến tinh thần chiến đấu và huấn luyện cho những người lính. Ví dụ như trong năm 1966, trên thực tế là không có những khóa đào tạo cơ bản hết sức quan trọng trong quân đội chính quy. Điều này chỉ thay đổi dưới sự thúc giục kiên trì của người Mỹ. Một điểm yếu khác của quân đội là đào ngũ quá nhiều và tỷ lệ cao của tân binh không có kinh nghiệm. Chỉ riêng năm 1965 là đã có trên 110.000 người lính đào ngũ, trong khi có 150.000 người nhập ngũ. Các cố gắng của người Mỹ đã làm giảm tỷ lệ này xuống một chút trong vòng những năm kế tiếp theo sau đó, nhưng đến 1972 thì lại có 130.000 người quay lưng lại với QLVNCH. Qua đó, trong một năm, quân đội đã mất khoảng ba mươi phần trăm sức chiến đấu. Hiếm khi nào mà những người đảo ngũ có động cơ chính trị; nguyên nhân phần lớn là vì thiếu khả năng thăng tiến và tiền lương thấp hay không đều đặn.

Đứng trước những vấn đề to lớn về xã hội trong quân đội, không có gì đáng ngạc nhiên khi công cuộc đào tạo nhiều năm trời của người Mỹ trên thực tế đã không mang lại tác dụng. Vì vậy mà nhiệm vụ được trao về cho QLVNCH – bảo vệ các vùng đất do chính phủ kiểm soát – không phải là một quyết định chiến lược, mà xuất phát từ việc chấp nhận thực tế, rằng quân đội không có khả năng hoạt động tấn công. Sau những cuộc nổi dậy ở Huế và Đà Nẵng vào đầu mùa hè 1966, Tướng Westmoreland cương quyết từ chối không cho QLVNCH tham gia vào trong các chiến dịch tấn công, Ông tin rằng qua đó sẽ gây hại đến tính ổn định vừa mới tìm lại được của chính phủ Sài Gòn và quân đội của họ. Westmoreland cam chịu sự yếu đuối kéo dài này, nhưng đồng thời cũng sử dụng nó như một lý lẽ để yêu cầu Washington tăng thêm ngày càng nhiều quân lính. Nỗi lo sợ có lý do của ông trước các gián điệp trong hàng ngũ của QLVNCH đã ngăn cản một sự hợp tác và mọi trao đổi thông tin hợp lý. Vì vậy mà quân đội Nam Việt Nam vẫn là một công cụ tương đối không hiệu quả để bảo toàn tình trạng đương thời. Nó làm tròn các chức năng quan trọng về xã hội, kinh tế và chính trị, nhưng chỉ thích hợp có điều kiện để bảo vệ đất nước.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

—————————————————————————————

[1] Trích dẫn theo Stephen T. Hosmer, The Fall of South Vietnam, New York 1984, trang 45.

Advertisements

One thought on “Nam Việt Nam: một xã hội trong chiến tranh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s