Quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam

“Khi chúng tôi hành quân qua những cánh đồng ruộng lúa vào buổi chiều đầy sương đó trong tháng Ba, bên cạnh ba lô và vũ khí của chúng tôi, chúng tôi cũng mang theo niềm tin tự nhiên, rằng sẽ nhanh chóng đánh bại Việt Cộng, và chúng tôi đang làm một điều gì đó tốt đẹp và đáng được vinh dự. Chúng tôi giữ lại ba lô và vũ khí; chúng tôi đánh mất niềm tin của chúng tôi. Cho tới mùa thu, những gì bắt đầu như một chuyến phiêu lưu thám hiểm đã biến thành một cuộc chiến tranh tiêu hao gây kiệt sức và bất phân thắng bại mà trong đó, chúng tôi không chiến đấu cho điều gì khác hơn là cho sự sống còn của chúng tôi.”[1] Các ấn tượng của Philip Caputo, người là lính Thủy Quân Lục Chiến đã đổ bộ vào Đà Nẵng trong tháng Ba 1965, là điển hình cho các dự kiến vào lúc ban đầu của những người lính, của nhiều chính khách ở Washington và của phần lớn người Mỹ: họ lạc quan tin rằng chỉ cái nhìn đến những người lính có vũ khí vượt trội và được trang bị thật tốt đó sẽ khiến cho địch quân hoảng sợ.

Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966
Trực thăng UH-1D ở Việt Nam, 1966

Thật sự là vào lúc ban đầu thì du kích quân của MTDTGP khó có thể đương đầu lại được với cỗ máy chiến tranh Mỹ. Sau một chiến dịch chống các căn cứ của MTDTGP trong tỉnh Quảng Ngãi, được tiến hành trong tháng Tám 1965, người Mỹ đếm được gần xác chết 600 du kích quân, chỉ thiệt hại 46 người. Tin chắc sẽ chiến thắng, Tổng tư lệnh của lực lượng quân đội Mỹ, Tướng William C. Westmoreland tuyên bố lực lượng của ông có khả năng quyết định  địa điểm và thời gian của các trận đánh và tiêu diệt kẻ thù. Nhưng vị tướng này đã giấu không nói rằng ba phần tư các đơn vị của MTDTGP đã có thể trốn thoát khỏi vòng vây. Ngoài ra, các trận đánh diễn ra trong những vùng đông dân cư: nhiều làng mạc đã bị tàn phá, nhiều dân thường đã chết. Vài tuần sau đó, các đơn vị chính quy Bắc Việt Nam cũng bị thiệt hại nặng tại thung lũng Ia Drang trên Cao nguyên Trung phần. Tuy vậy, trong trận đánh kéo dài nhiều ngày này, người Bắc Việt đã chứng minh rằng họ có ý chí chống cự và sức chịu đựng. Hai trận đánh củng cố thêm cho đánh giá của Westmoreland về cuộc chiến: về một mặt, ông tin rằng những chiến dịch có quy mô lớn chống MTDTGP chính là biện pháp hữu hiệu nhất để chống lại du kích quân, mặt khác, ông nhìn thấy giả định của mình đã được xác nhận, rằng các lực lượng chính quy Bắc Việt Nam chịu đựng gánh nặng chính của cuộc chiến. Các báo cáo của CIA mà trong đó người ta cảnh báo sự lạc quan và đánh giá quá thấp đối thủ, biến mất vào trong các kho lưu  trữ hồ sơ của các bộ và Tòa Nhà Trắng mà không hề được đọc tới.

Cho tới tháng Chín 1965, Westmoreland và bộ tham mưu của ông phát triển một kế hoạch tiến hành chiến tranh dựa trên những kinh nghiệm của quân đội Mỹ trong Đệ nhị Thế chiến và ở Triều Tiên, và phản ánh những gì được xem như là thành công của những tháng đó. Đầu tiên, vị tướng muốn đứng vững trước những cuộc tấn công của đối phương, ổn định QLVNCH và kiểm soát được toàn bộ những vùng đất ven biển đông dân cư. Trong giai đoạn thứ nhì được dự định vào nửa đầu 1966, quân đội Mỹ cần phải chuyển sang thế tấn công. Song song với đó, kế hoạch dự định tăng cường nổ lực trên lĩnh vực an ninh cho vùng nông thôn,. Sau khi thiết lập hoàn toàn cỗ máy quân sự Mỹ, người ta dự định chiến thắng cuộc chiến trong giai đoạn ba, kéo dài cho tới cuối 1967. “Chiến lược tiêu hao” (strategy of attrition) dựa trên ba yêu cầu về chiến thuật: “tìm và diệt” (search and destroy), “quét sạch” (clearing) và “hoạt động bảo vệ” (securing operations). Chiến lược tiêu hao có hệ quả hầu như bắt buộc là một sự phân chia hoạt động giữa các lực lượng quân đội Mỹ và QLVNCH. Trong khi các đơn vị Mỹ “tìm và diệt” những đơn vị tương đối lớn của kẻ địch thì việc kiểm soát đất nước được dành lại cho QLVNCH. Qua đó đã xảy ra đúng điều mà Tướng Taylor đã cảnh báo trước: Người Mỹ nhận lấy việc tiến hành cuộc chiến thật sự, trong khi quân đội Nam Việt Nam làm tròn những nhiệm vụ phòng thủ. Thế nhưng QLVNCH chỉ thích hợp có điều kiện cho việc bảo vệ và bình định lâu dài nhiều vùng đất rộng lớn của Nam Việt Nam. Cuối cùng thì quân đội Nam Việt Nam không quan tâm tới việc chiếm lấy “trái tim và đầu óc” của người dân ở nông thôn, mà chỉ muốn kiểm soát người dân về mặt thể xác. Mặc dù Westmoreland luôn phải chỉnh sửa các dự đoán lạc quan không nao núng của ông trong diễn tiến của cuộc chiến, ông vẫn kiên quyết bám chặt vào chiến lược tiêu hao. Những người phê phán trong nội bộ đều bị bịt miệng hay không được lắng nghe ở những cấp cao hơn. Vẫn còn trong tháng Tư 1967, Westmoreland từ chối thay đổi chiến lược và chiến thuật: “Chúng ta cứ tiếp tục để cho họ chảy máu, cho đến khi Hà Nội nhận ra rằng đất nước đã chảy máu tới mức gần như là một thảm họa dân tộc cho nhiều thế hệ. Rồi thì họ phải xét lại quan điểm của họ.”[2] Việc vị tướng cho rằng không phải Hoa Kỳ mà Bắc Việt Nam phải chịu trách nhiệm cho các thiệt hại cũng tương ứng với lập luận cấp trên của ông. Cuối cùng thì Tổng thống luôn để cho Hà Nội hiểu rằng họ nắm trong tay khả năng chấm dứt chiến dịch “Sấm Rền”.

Yêu cầu của Westmoreland, nhận lấy thế tấn công và mang chiến tranh tới với kẻ địch, đặt dấu ấn lên cách tiến hành chiến tranh của Mỹ ở Nam Việt Nam. Chiến lược tiêu hao và “tìm và diệt” đã biến nhiều phần lớn của Nam Việt Nam thành một chiến trường với những vùng chiến sự luôn thay đổi. Với ngoại lệ của vùng phi quân sự – ranh giới giữa miền Bắc và miền Nam, nơi các lực lượng Mỹ và Bắc Việt Nam chồng chéo lên nhau trong một cuộc chiến tranh bất động – nó không có chiến tuyến. Qua đó, hai con số đã trở thành thước đo của chiến lược tiêu hao: đếm xác (body count) chết của quân địch và “tỳ lệ giết chết” (kill ratio). Những cuộc ném bom lớn, hỏa lực pháo binh mạnh và việc sử dụng rộng rãi napalm đã phá hủy nhiều diện tích rộng lớn trong nhiều vùng đất. Chiến tranh ném bom ở miền Nam còn vượt xa cuộc chiến tranh trên không trung ở miền Bắc. Chỉ riêng từ 1965 tới 1967, máy bay Mỹ đã ném trên một triệu tấn bom xuống vùng đất của nước đồng minh. Kế tiếp theo sau những cuộc ném bom là quân đội mà có thể được chở bằng trực thăng đến nơi hành quân trong thời gian ngắn. Westmoreland đã để cho lập nhiều vùng được gọi là “vùng bắn phá tự do” (free fire zones). Như trên đường hoài công tìm tổng hành dinh của MTDTGP trong khuôn khổ của chiến dịch Attleboro, tỉnh Tây Ninh ở cạnh biên giới với Campuchia đã bị tàn phá nặng nề (tháng Tư 1966). Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn đã hãnh diện công bố các thống kê mà trong đó có nói đến một tỷ lệ giết là 1:15. Dưới tên Junction City, đợt tấn công đó được lập lại. Người ta lại hài lòng về con số tử vong của địch quân và về thiệt hại ít ỏi của chính mình. Thế nhưng vẫn không phát hiện được trung tâm chỉ huy của MTDTGP. Một tháng trước đó, dưới mật danh Cedar Falls, Westmoreland đã để cho san phẳng một vùng đất chỉ cách thủ đô Sài Gòn hai mươi kilômét. Đầu tiên, người dân được di tản. Tiếp theo đó, máy bay ném bom B-52 tàn phá cái được gọi là “Tam giác Sắt”, một vùng đất có nhiều vùng dân cư được sử dụng làm căn cứ rút lui của MTDTGP. Sau đó, 30.000 người lính lùng sục vùng đất và bắn vào tất cả những gì còn cử động. Những chiếc xe ủi đất khổng lồ san phẳng các ngôi làng đã bị phá hủy. Cuối cùng, người ta sử dụng thuốc rụng lá và các chất độc thực vật chứa dioxine để bảo đảm rằng cuộc sống con người là không thể trong tương lai tới đây. Nhưng ngay cả một chiến dịch như Cedar Falls, biến một vùng đất từng thịnh vượng thành một phong cảnh hoang vắng tiêu điều, cũng không thể ngăn chận được các du kích MTDTGP lại sử dụng khu “Tam giác Sắt” làm căn cứ hoạt động chỉ vài tháng sau đó.

Đặc trưng cho cuộc chiến tranh của Mỹ là các trải nghiệm mà nhà báo Neil Sheehan đã thu nhận được trong tháng Giêng 1966. Trả lời cho câu hỏi của anh, viên Thiếu Tướng chỉ huy định sẽ làm gì sau khi kết thúc những trận đánh kéo dài nhiều ngày, người này trả lời ông sẽ rút quân của ông đi. Không có kế hoạch bình định. “Tôi ngạc nhiên vì câu trả lời này. Tôi không bao giờ nghĩ rằng một vị tướng người Mỹ hy sinh từng ấy người lính và gây ra những tàn phá như vậy chỉ để rồi đơn giản là bỏ đi. Tại sao ông lại tiến quân vào cái làng này nếu như ông không muốn ở lại đó và đạt tới những gì đó lâu dài, tôi hỏi ông. Ông không có đủ lính Mỹ để mà để lại một phần nhằm bảo vệ đội bình định, ông nói. Điều duy nhất mà ông có thể làm là làm cho Việt Cộng và QĐND mất thế cân bằng.”[3]

U.S. Marines hold a tower position overlooking a street in the stone fortress of Hue, Vietnam's ancient imperial capital, in February, 1968, during the Tet Offensive. (AP Photo) US-Marines halten ihre Position auf einem Turm in Hue (Vietnam). Erst am 24. Februar 1968 wurde die alte vietnamesische Kaiserstadt von den GIs zurückerobert.
Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ở Huế, Mậu Thân 1968

Thật sự là Hoa Kỳ đã ngăn chận được sự sụp đổ của Nam Việt Nam và cho tới 1970 đã đẩy lùi đối thủ co cụm vào 25% lãnh thổ. Nhưng Westmoreland luôn phải yêu cầu tăng quân. Vào cuối 1965 có 184.000 người lính Mỹ ở Nam Việt Nam. Hai năm sau đó, trong tháng Mười Hai 1967, quân số của lính Mỹ đã là 485.000 người. Nhưng cả con số tử trận cũng tăng lên – cho tới 1967, trong số lính Mỹ đã có 16.000 người là nạn nhân của chiến tranh. Tuy vậy, bộ chỉ huy Mỹ vẫn kiên quyết bám chặt vào con đường đang đi: “Giải pháp ở Việt Nam”, Tướng William Depuy giải thích, một trong số những người cha tinh thần của chiến lược tiêu hao, “là nhiều bom, nhiều đạn pháo, nhiều napalm hơn nữa, cho tới khi đối thủ quỵ xuống và bỏ cuộc”.[4]

Về mặt tiếp vận, lần xây dựng lực lượng của Mỹ là một thành tích sáng chói: nhiều cảng, nhiều sân bay, căn cứ, bệnh viện và kho tiếp liệu được xây dựng. Nhân viên kỹ thuật và kỹ sư thiết lập hệ thống truyền thông và thông tin hiện đại nhất, có máy tính hỗ trợ. Vào cuối những năm sáu mươi, vùng trời trên Nam Việt Nam là vùng trời có mật độ bay cao nhất của Trái Đất. Những người lính không hề thiếu thứ gì: từ bàn chải đánh răng cho tới ô tô hạng sang, các cửa hàng PX bán mọi thứ mà thị trường Mỹ có bán. Bù vào đó, cuộc chiến đã làm tiêu tốn những số tiền khổng lồ: chỉ riêng 1967, chi phí cho hoạt động tham chiến của Mỹ đã đạt tới tổng số tiền khổng lồ là 21 tỉ dollar.

Niềm tin của những người chỉ huy, để cho kẻ địch chảy máu mà chết, và việc giới lãnh đạo không muốn đi đến hòa bình qua con đường đàm phán, đã đặt số phận Việt Nam vào tay những người lính. Những người lính này khác nhiều so với những người lính từ các cuộc chiến tranh trong quá khứ của Mỹ. Vì sinh viên, chủ yếu thuộc tầng lớp trung lưu, hiếm khi bị gọi nhập ngũ cho tới 1969 nên tròn 80% người lính xuất phát từ tầng lớp dưới. Với tuổi trung bình là 19, họ rất trẻ (so với 27 tuổi trong Đệ nhị Thế chiến và ở Triều Tiên). Vì không có chiến tuyến rõ ràng ngoại trừ vùng phi quân sự và kẻ địch có thể rình rập ở khắp mọi nơi nên những người lính cảm nhận toàn bộ vùng đất hoạt động của họ như là lãnh thổ của quân địch. Không có những mục tiêu có thể nhìn bao quát được, không nhận thức được là có những bước tiến triển xuất phát từ một lần chiếm một vùng đất, từ việc tiến quân. Tuyên bố chính trị và các nguyên tắc không thay thế được cho những mục tiêu nhất định. Vì vậy mà nhiều người lính hoài nghi ngày càng nhiều hơn về ý nghĩa sự hoạt động của họ. Ngay cả khi quân đội Mỹ cố gắng tạo mọi điều kiện dễ dàng có thể được cho những người lính của họ, tinh thần chiến đấu đã giảm sút đánh kể với thời gian. Đa phần những người lính chiến là những người phải đi lính hay những người tình nguyện – những người đàn ông trẻ cố thoát khỏi những khu ổ chuột trong thành phố hay khỏi những vùng đất nông thôn nghèo. Thời gian phục vụ của họ thông thường chấm dứt sau một năm, thỉnh thoảng hai hay ba năm. Vì vậy mà điều dễ hiểu là vào cuối thời gian phục vụ của họ, nhiều người tránh né các tình huống nguy hiểm và tìm đủ mọi cách để lành lặn trở về. Việc liên tục thay thế những người lính hết hạn phục vụ đã ngăn cản không cho tình đồng đội phát triển. Các vấn đề đó lại càng trầm trọng thêm qua các xung đột sắc tộc. Ngay cả khi người Mỹ gốc Phi với 12,6% không vượt quá tỷ lệ của họ trong xã hội, họ phải chịu thiệt hại nhiều hơn thấy rõ trong những năm 1965 và 1966. Vì thông thường là ít học nên các cơ hội thăng tiến hoàn toàn không làm cho họ hài lòng. Nhiều người có cảm giác bị mang ra làm bia đỡ đạn. Mãi cho đến khi Martin Luther King và những nhà đấu tranh nhân quyền người Mỹ gốc Phi khác lên án những việc gây bất bình đó thì bộ chỉ huy ở Sài Gòn mới cố gắng phân bổ tân binh người Mỹ gốc Phi đồng đều về cho các đơn vị và tạo điều kiện thuận lợi cho họ thăng tiến từ những cấp bậc thấp qua các khóa đào tạo. Qua đó, con số nạn nhân chiến tranh là người Mỹ gốc Phi dần dần đã dao động ở một mức tương ứng với tỷ lệ của họ trong người dân Mỹ.

Nhưng phát triển trở thành những vấn đề lớn nhất vượt xa các vấn đề khác lại là những khác biệt về văn hóa giữa người Mỹ và người Việt, và sự thiếu hiểu biết về lịch sử và xã hội Việt Nam của người Mỹ. Hầu như không có người lính nào hiểu tiếng nói của đất nước mà anh ta đang chiến đấu ở trong đó. Về phía mình, người Nam Việt Nam cố gắng bảo toàn tính độc lập về văn hóa của họ trước người đồng minh vượt trội hơn về kỹ thuật và tổ chức. Tình bạn giữa những người lính Mỹ và Việt Nam vì vậy chỉ là trường hợp ngoại lệ. Càng ngày, những người lính Mỹ càng cảm nhận tất cả những người Việt Nam như là kẻ thù, và nguyên tắc cơ bản trên chiến trường là nếu như có nạn nhân người Việt, thì đó phải là “Việt Cộng”. Để tự bảo vệ mình trước những cuộc tấn công, những người lính thường buộc phải hành động chống lại tất cả những người bị nghi ngờ. Qua đó, nhiều tầng lớp rộng lớn của người dân nông thôn đã lọt vào trong tầm ngắm của quân lính Mỹ và trở thành những mục tiêu tiềm năng. Một người lính Thủy Quân Lục Chiến tóm lược lại trong một công thức đơn giàn. “Về đêm thì bất cứ người Việt nào cũng là kẻ thù.”[5]

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

—————————————————————————————————————————————–

[1] Philip Caputo, A Rumor of War, New York 1977, xii.

[2] Trích dẫn theo Guenter Lewy, America in Vietnam, New York 1978, trang 73.

[3] Neil Sheehan, Die Große Lüge. John Paul Vann und Amerika in Vietnam, Wien/München 1992, trang 584 và tiếp theo sau đó.

[4] Trích dẫn theo Daniel Ellsberg, Papers on the War, New York 1972, trang 234.

[5] Trích dẫn theo Wallace Terry, Bloods: An Oral History of Vietnam, New York 1984, trang 45.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s