“Sấm Rền”

Từ tháng Hai 1965, Hoa Kỳ chủ yếu dựa vào cuộc chiến tranh ném bom. Bắt đầu là do thiếu những sự lựa chọn khác, đợt không kích chống Bắc Việt Nam có nhiệm vụ ngăn chận cuộc thâm nhập vào miền Nam và làm ổn định chế độ ở Sài Gòn về mặt tâm lý. Về mặt quân sự thì nó hầu như không có nghĩa lý gì, vì Bắc Việt Nam là một nước mang dấu ấn nông nghiệp, hầu như không có cơ sở công nghiệp nào đáng kể. Nhưng chính phủ Johnson vẫn bám chặt vào nó, vì họ hy vọng rằng có thể ném bom đẩy Hà Nội tới bàn đàm phán. Ngoài ra, nó giúp họ làm hài lòng giới đối lập bảo thủ.

Lúc đầu, các cuộc không kích tập trung vào các mục tiêu ở khu phi quân sự. Rồi trong diễn tiến của năm 1966, nó từng bước di chuyển lên hướng Bắc. Để tránh việc Trung Quốc tham chiến, Hoa Kỳ ngần ngại không tấn công Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng. Tổng thống Johnson cũng chống các cân nhắc ném bom hệ thống đê đập rộng lớn để gây ngập lụt và nạn đói. Ông cũng khước từ yêu cầu ném bom toàn phần Bắc Việt Nam của Không quân hay của Hội đồng Tham mưu trưởng. Thay vì vậy, ông để cho phát triển một hệ thống đánh giá tinh vi mà nhờ vào đó có thể lựa chọn ra các cơ sở quân sự quan trọng ở Bắc Việt Nam để ném bom. Đích thân ông và các cố vấn quan trọng nhất của ông tìm các mục tiêu tại những cái được gọi là “ăn trưa ngày thứ Ba”, với niềm tin tưởng sai lầm rằng bằng cách này có thể tiến hành một cuộc chiến tranh ném bom “chính xác như phẫu thuật”.

Máy bay B-52 đang ném bom
Máy bay B-52 đang ném bom

Những con số khô khan hầu như không thể cho thấy được quy mô của đợt không kích: trong năm 1965, máy bay chiến đấu của Mỹ đã bay 25.000 phi vụ từ các căn cứ của họ ở Nam Việt Nam, Guam cũng như từ các hàng không mẫu hạm. Một năm sau đó, họ đã bay 79.000 phi vụ, và 1967 là 108.000. Nếu như họ ném 63.000 tấn bom xuống Bắc Việt Nam trong năm đầu tiên của Sấm Rền thì 1966 là 136.000 và 1967 là 226.000. (Để so sánh: tại lần ném bom Dresden trong tháng Hai 1945, người ta đã ném 2659 tấn bom). Không quân Hoa kỳ sử dụng tất cả những gì mà các phòng nghiên cứu và các lò sản xuất vũ khí có thể đưa ra, trong số đó là vũ khí tự điều khiển, tên lửa không người lái, máy bay siêu âm, và những chiếc B-52 đáng sợ. Những chiếc máy bay ném bom tầm xa bốn động cơ này với sức chứa gần 30 tấn bom có thể biến một vùng đất rộng 800 mét dài 4,5 kilômét thành một cảnh toàn hố bom. Thêm vào đó là napalm hay bom bi, những cái nổ tung ra thành hàng trăm viên đạn thép ngay trước khi chạm đất, đặc biệt gây nhiều thiệt hại cho dân thường và đã gây ra phẫn nộ trên khắp thế giới. “Hình ảnh siêu cường quốc lớn nhất của thế giới”, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng McNamara nhận ra trong tháng Năm 1967, “siêu cường mà hàng tuần đã giết chết hay làm bị thương nặng 1000 người dân thường. để ép buộc một đất nước nhỏ, chậm phát triển, phải nhượng bộ cho một mục đích mang nhiều tranh cãi, không phải là một hình ảnh đẹp”.[1]

Nhiều thị trấn bị san phẳng theo nghĩa đen. Là một trong những người Mỹ đầu tiên, Harrison E. Salisbury của tờ New York Times có thể tận mắt nhìn thấy quy mô của sự tàn phá trong thời gian cuối 1966 đầu 1967. “Cũng như phần lớn các ‘mục tiêu quân sự’ mà tôi có thể nhìn thấy ở Bắc Việt Nam, Nam Định trong lời nói của một phát ngôn viên Lầu Năm Góc dường như quan trọng nhiều hơn là người ta tận mắt nhìn thấy. Nó không phải là một thành phố lớn. Nó chưa từng bao giờ. Bây giờ, đứng trước việc sơ tán vì chiến tranh, nó gần như là không người. […] Từ khu phố này sang khu phố khác, tôi không thể nhìn thấy gì hơn là sự tàn phá. Nhà ở, cửa hàng, tất cả các ngôi nhà đều bị phá hủy, hư hại hay bỏ hoang. Tôi có cảm giác như đang đi qua thành phố của một nền văn minh đã suy tàn. Đây đó có vài người đàn ông và phụ nữ trẻ tuổi đang làm việc. Họ kiên nhẫn lôi gỗ xây dựng ra khỏi những đống đổ nát, để chồng nó lên nhau một cách cẩn thận. […] Người ta nhìn ra được ý nghĩa nào từ sự tàn phá này? chúng phục vụ cho mục đích quân sự nào?”[2]

Mặc dù không bao lâu sau đó không còn có mục tiêu nào có liên quan tới quân sự nữa, chính phủ Johnson vẫn duy trì cuộc chiến tranh ném bom. Các nghiên cứu về lợi ích quân sự ít ỏi không thể làm thay đổi được gì cũng như những chỉ dẫn tới Đệ nhị Thế chiến, khi không quân của Đồng Minh tuy đã mang lại nhiều đau khổ cho người dân Đức và Nhật, nhưng chỉ đóng góp phần không đáng kể vào chiến thắng. Cuộc chiến tranh ném bom có nhiệm vụ bẻ gãy ý chí của giới lãnh đạo Hà Nội và ép buộc họ chấp nhận các điều kiện do Hoa Kỳ đưa ra.

Với sự trợ giúp của Trung Quốc và Xô viết, đặc biệt là nhờ vào sự động viên xã hội cho chiến tranh mà Bắc Việt Nam đã thành công trong việc hạn chế các thiệt hại về vật chất. Hàng chục ngàn người sửa chữa đường sá, cầu và đường sắt, thường là vào ban đêm và với nổ lực hết sức lớn. Nhiều nhà máy thủ công và công nghiệp được dời lên những vùng đồi núi khó đi lại hay được chuyển xuống lòng đất. Một hệ thống đường hầm chằng chịt dài trên 40.000 km chạy dài qua những vùng bị ném bom nhiều nhất ở dọc theo vùng phi quân sự ở phía Nam. Nhiều người, từ những cân nhắc về kinh tế chiến tranh mà không được di tản về vùng nông thôn, sống phần lớn thời gian ở dưới mặt đất. Trong khi đàn ông phải nhập ngũ, bảo quản hạ tầng cơ sở hay được cử làm việc trong nền kinh tế chiến tranh, thì ngày càng có nhiều phụ nữ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Ngay từ 1967 họ đã chiếm hai phần ba tổng số những người làm việc trong nông nghiệp, cột sống của nền kinh tế Bắc Việt Nam. Cuộc chiến tranh ném bom gây ra hàng chục ngàn nạn nhân, nhưng nó không hạn chế được khả năng tiếp tục tiến hành chiến tranh của Bắc Việt Nam. Mặc cho nhiều trở ngại, công cuộc chuyển người và vật chất qua con Đường mòn Hồ Chí Minh vào miền Nam đã tăng lên liên tục. Với thời gian, hiệu quả phòng không của Bắc Việt nam cũng tăng lên. Radar Xô viết, pháo phòng không và tên lửa đất đối không đã gây thiệt hại đáng kể cho phía quân đội Mỹ: cho tới 1968, họ mất 950 máy bay trị giá trên 6 tỉ dollar. Các phân tích hiệu quả do McNamara yêu cầu tiến hành đã đi đến một kết quả thất vọng: phải bỏ ra 9,6 dollar để gây thiệt hại một dollar cho Bắc Việt Nam.

Cuộc chiến tranh ném bom không đạt được các mục tiêu của nó. Ở Hoa Kỳ, cuộc phản đối của những người chống chiến tranh đã bộc phát ra từ nó, những người mà đã lên án chính phủ đã phạm tội ác chống nhân loại và ngày càng khiến cho họ khó giải thích hơn. Các phi công bị bắn rơi trở thành con tin của Hà Nội, cuộc khủng bố từ trên không đã gắn kết người dân Bắc Việt Nam lại với nhau nhiều hơn nữa. Thay vì làm suy yếu chế độ, nó đã tăng cường tình đoàn kết của xã hội Bắc Việt Nam.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

—————————————————————————————————————————————–

[1] McNamara gởi Johnson, 19/05/1967, trong Pentagon Papers (NYT), trang 580.

[2] Harrison E. Salisbury, Behind the Lines – Hanoi. December 23, 1966 – January 7, 1967, New York and London 1967, trang 98-102.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s