Con đường đi tới chiến tranh của Hoa Kỳ

Washington không cần phải chờ lâu để có một cơ hội nhằm bắt đầu các cuộc không kích: vào ngày 7 tháng Hai 1965, MTDTGP tập kích một căn cứ máy bay trực thăng Mỹ ở Pleiku trên cao nguyên Trung phần. Tám cố vấn bị giết chết và 126 bị thương, thiệt hại vật chất rất lớn. Như là sự phản ứng, Tổng thống cho phép tiến hành chiến dịch “Mũi Tên Lửa” (Flamming Dart): 132 máy bay cường kích của Hải quân Mỹ tấn công các mục tiêu quân sự ở Bắc Việt Nam. Sau khi MTDTGP bắn phá thêm một căn cứ của Mỹ vào ngày 10 tháng Hai và giết chết hai mươi người Mỹ trong lúc đó, Johnson cho phép bắt đầu chiến dịch không kích – không giới hạn về thời gian – chống Bắc Việt Nam. Chiến dịch “Sấm Rền” (Rolling Thunder) bắt đầu.

Chính phủ tránh không thông tin đầy đủ về diễn tiến cho người dân Mỹ. Cũng như trường hợp của các sự kiện trong tháng Tám 1964, họ nói giảm tầm quan trọng của các quyết định xuống. Phát ngôn viên chính phủ bảo đảm rằng các cuộc không kích này là những biện pháp trả đũa mà người ta dùng chúng để phản ứng lại trước sự xâm lược của Hà Nội. Rằng “Sấm Rền” không phải là một cú đánh trả đơn độc, mà là một chiến dịch không kích vô thời hạn, điều đó không được nói ra.

Từ khi Johnson nhậm chức trong tháng Mười Một 1963, chính phủ Mỹ đã liên tục tăng số tiền viện trợ cho Sài Gòn và gởi ngày một nhiều cố vấn sang; con số của họ trong tháng Hai 1965 là 23.300 người. Mặc dù vậy, ngày càng có nhiều vùng nông thôn rơi ra khỏi tầm kiểm soát của Sài Gòn. Quân đội chủ yếu bận rộn bảo vệ các căn cứ của chính họ, vô số làng mạc, đường sá, cầu , ngõ vào thành phố và các chủ thể kinh tế. Về mặt chiến lược, QLVNCH nằm trong thế phòng ngự, thiệt hại của họ vào thời gian đó đã lên tới tròn 2000 người lính trong một tháng, tỷ lệ đào ngũ nằm ở 10.000. Đứng trước sự phát triển bi đát này, lần bắt đầu chiến dịch Sấm Rền có tác động giống như một trận mưa làm sạch ở Washington. Cả ở Sài Gòn cũng có thay đổi: Sau khi Tướng Khánh liên hệ với MTDTGP trong tháng Mười Hai 1964, và rõ ràng là hoạt động hướng tới một hòa bình qua đàm phán, các tướng lãnh trẻ Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi và Nguyễn Văn Thiệu tiến hành một cuộc đảo chánh không đổ máu vào ngày 18 tháng Hai 1965. Khánh bị gởi ra nước ngoài, và một người đứng đầu chính phủ dân sự được bổ nhiệm để làm mặt tiền. Kể từ lần giết chết Diệm, đây là cuộc đảo chánh thứ tám của giới sĩ quan. Những người cầm quyền mới tuyên bố công khai là sẽ không tìm kiếm thỏa hiệp với MTDTGP. Ngoài ra, các viên tướng trẻ đồng ý hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ, và tiến hành cuộc chiến mạnh mẽ và chuyển sang thế tấn công nhiều hơn nữa.

Những cuộc tấn công của MTDTGP vào các căn cứ Biên Hòa và Pleiku đã cho thấy rằng các lực lượng phòng thủ của Mỹ là không đủ, và đồng minh rõ ràng là không có khả năng. Dự tính trước với nhiều chiến dịch của MTDTGP nhằm đánh phá các căn cứ của Mỹ, tướng Westmoreland do đó đã cấp bách yêu cầu có thêm lực lượng Thủy Quân Lục Chiến để bảo vệ căn cứ lớn ở Đà Nẵng vào cuối tháng Hai. Đại sứ Taylor thất kinh vì việc này. Ông hiểu biết Nam Việt Nam nhiều hơn là Westmoreland, người chỉ quan tâm đến những sự việc về quân sự. Vào ngày 22 tháng Hai, Taylor khẩn thiết cảnh báo việc đồn trú Thủy Quân Lục Chiến. Bước đi này đồng nghĩa với việc từ bỏ chính sách cho tới nay, không gởi quân đội mặt đất sang Nam Việt Nam. “Nếu như chúng ta hủy bỏ đường lối này thì sẽ rất khó khăn khi muốn vạch ra ranh giới. Ngay khi có thể thấy rõ, rằng chúng ta sẵn sàng tiếp nhận những nhiệm vụ mới thì chính phủ Việt Nam rất có thể sẽ đẩy các nhiệm vụ khác của quân đội trên mặt đất sang chúng ta. Khi số quân mặt đất tăng lên thì khả năng có căng thẳng với người dân bản xứ cũng sẽ tăng lên. Một người lính da trắng, được trang bị vũ khí, trang thiết bị và được huấn luyện như vậy, không phải là một người chiến đấu chống du kích thích hợp cho những khu rừng rậm châu Á. Người Pháp đã cố gắng và đã thất bại. Tôi không tin rằng quân đội Mỹ có thể thực hiện điều đó tốt hơn. […] Cuối cùng thì vẫn còn có câu hỏi đó, một người lính xa lạ làm sao có thể phân biệt giữa một Việt Cộng và một người nông dân Việt Nam có ý thân thiện.”[1]

Những lời cảnh báo trước của Taylor không được lắng nghe – vào ngày 8 tháng Ba 1965, hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến có trang bị xe tăng và pháo binh đổ bộ vào bờ biển Đà Nẵng. Sau khi chính phủ một lần nhượng bộ giới quân đội thì không còn gì ngăn cản nữa. Ngay trong tháng Ba, Westmoreland yêu cầu thêm hai sư đoàn, Hội đồng Tham mưu trưởng thậm chí còn yêu cầu ba sư đoàn. Đối với Tổng thống và các cố vấn đứng đầu của ông, rút lui cũng như phá hủy hoàn toàn Bắc Việt Nam từ trên không là những việc không được bàn tới, nên vào cuối tháng Tư họ thêm một lần nữa lại quyết định một con đường trung dung “đúng chính xác”: gửi 40.000 quân. Họ có nhiệm vụ tạo những “ốc đảo” quanh các căn cứ Mỹ và tiến hành các chiến dịch tấn công trong phạm vi của một bán kính là năm mươi dặm. Nhiệm vụ này được mô tả chặt chẽ hơn là giới quân đội muốn có, nhưng có thể tạo một thời gian dưỡng sức cần thiết cho sự sống còn của QLVNCH và tạo cơ hội cho họ tái tổ chức.

Trong lúc đó, Johnson vội vã tìm kiếm một lối thoát. Ngay trong tháng Ba, ông đã quát Tham mưu trưởng Lục quân, Harold Johnson. “Ném bom, ném bon, ném bom. Đó là tất cả những gì anh biết đến. Tôi cần giải pháp. Tôi muốn có câu trả lời.”[2] Nguồn gốc sự kích động của tổng thống xuất phát từ tình hình ở Nam Việt Nam, nơi mà MTDTGP theo thông tin của Tướng Thiệu bây giờ đã kiểm soát được tròn ba phần tư đất nước, và ảnh hưởng của Sài Gòn chỉ còn có ở tại các thành phố tương đối lớn. Cả “mặt trận quê hương” cũng mang lại nhiều vấn đề cho Tổng thống. Cho tới lúc đó, Quốc Hội đã ủng hộ đường lối của ông với tuyệt đại đa số, thế nhưng câu hỏi là còn bao lâu nữa. Một vài thượng nghị sĩ dẫn đầu như Mike Mansfield hay George McGovern đã hối thúc chính phủ tìm kiếm một giải pháp đàm phán. Cả giới truyền thông cũng ủng hộ Johnson, nhưng các nhà báo thuộc phái tự do có đôi lúc thể hiện sự nghi ngại thận trọng. Ví dụ như tờ New York Times đã hỏi rằng điều đó có nghĩa lý gì, khi liều mạng sống của quân nhân Mỹ cho một đất nước không có dân chủ lẫn không có một giá trị có thể nhận thấy được? Và cuối cùng thì ở đó cũng có một phong trào hòa bình tuy còn nhỏ nhưng đang lớn mạnh nhanh chóng và rất to tiếng. Sinh viên đã kêu gọi biểu tình ở Washington, dự định vào ngày 17 tháng Tư. Cả trên bình diện quốc tế cũng có phê phán. Tổng thư ký LHQ U Thant công khai lên án chính sách thông tin của Washington, “phong trào không liên kết” yêu cầu đàm phán, và đồng minh thân cận nhất của Mỹ, Liên Hiệp Anh, kêu gọi tất cả các bên hãy tuyên bố mục tiêu của họ. Thủ tướng Canada, Lester Pearson, thậm chí còn khiến cho Johnson bực tức khi ông ủng hộ việc chấm dứt các cuộc không kích trước giới nhà báo ở Washington và cũng khuyến cáo nên đàm phán.

Nhằm để xoa dịu những người phê phán ông, Johnson quyết định tiến hành một cử chỉ cao đẹp: vào ngày 7 tháng Tư, ông đọc một bài diễn văn tại Đại học Johns Hopkins ở Baltimore mà trong đó ông tuyên bố sẵn sàng đối thoại vô điều kiện với Hà Nội. Trong trường hợp có được một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột, ông hứa hẹn một “Great Society” Đông Nam Á cho Đông Dương: phát triển kinh tế đồng bằng sông Mekong qua viện trợ kinh tế một tỉ dollar. Đầu tháng Năm, thêm một lần nữa, Johnson cho thấy sẵn sàng muốn đàm phán khi ông ra lệnh ngưng không kích năm ngày và báo hiệu cho Hà Nội rằng giảm thiểu các hoạt động của MTDTGP trong thời gian này sẽ có tác động tích cực. Ý muốn có một giải pháp đàm phán của Tổng thống rõ ràng là thành thật. Thế nhưng trong mùa xuân 1965, đối với Tổng thống và các cố vấn của ông, xoa dịu giới công chúng Mỹ và quốc tế là việc ưu tiên hàng đầu. Vì chính phủ không có một chiến lược đàm phán lẫn sẵn sàng thỏa hiệp. Johnson vẫn cương quyết tiếp tục thực hiện di sản của người tiền nhiệm: Nam Việt Nam vẫn phải là một quốc gia có chủ quyền và định hướng Phương Tây, không bao gồm MTDTGP. Qua đó, sự sẵn sàng trao đổi của ông chỉ là ngụ ý lịch sự mời Hà Nội hãy nêu ra địa điểm và thời gian đầu hàng.

Đứng trước tình hình không ổn định của chính phủ Sài Gòn, trước các thành công của MTDTGP và sự giúp đỡ đang tăng lên của Trung Quốc và Liên Xô, Hà Nội hầu như không có lý do gì để nhượng bộ tại bàn đàm phán. Tất nhiên, trao đổi tức đồng nghĩa với việc kết thúc Sấm Rền. Thế nhưng trong mùa xuân năm đó, máy bay Mỹ chủ yếu tiến hành các phi vụ chống đường mòn Hồ Chí Minh và các mục tiêu quân sự ở phía Nam của VNDCCH – tức là đợt không kích đó không gây ra những thiệt hại không thể sửa chữa được. Nhưng ít ra thì giới lãnh đạo Bắc Việt Nam cũng phản ứng lại sáng kiến ngoại giao của Johnson. Cái được gọi là “Chương trình bốn điểm” được Đài Phát thanh Hà Nội loan báo đứng đối nghịch lại với các yêu cầu của Mỹ: Hoa Kỳ rút quân vô điều kiện ra khỏi Nam Việt Nam; Mỹ chấm dứt xâm lược miền Bắc; tạo một chính phủ liên minh từ tất cả các nhóm “yêu hòa bình” trong miền Nam; và cuối cùng là thống nhất Việt Nam trong hòa bình. Chương trình này trước hết cũng hướng tới giới công chúng thế giới, vì ngay trước đó Lê Duẩn đã dứt khoát khước từ ý muốn cố gắng đi tới đàm phán của Xô viết. Vẫn còn trong tháng Năm 1965, khi các lực lượng đầu tiên của quân đội mặt đất Mỹ đã được chuyển sang Nam Việt Nam, Hà Nội vẫn tin vào chiến thắng sắp đến của MTDTGP.

Trong khi giới lãnh đạo Bắc Việt Nam lạc quan hy vọng vào một giải pháp sắp đến cho cuộc xung đột, ở Washington người ta suy nghĩ làm sao có thể ngăn chận được thảm họa quân sự ở Nam Việt Nam. Vì bài diễn văn của Johnson ở Baltimore đã tạm thời xoa dịu được nhiều nhà phê phán nên chính phủ để Quốc Hội cấp 700 triệu dollar cho các hoạt động quân sự ở Nam Việt Nam. Nhưng liệu có đủ không? Cuộc không kích nói chung là có tác động nào không? “Chiến lược ốc đảo” có đúng không? Nếu như theo Tướng Earle Wheeler, Tổng Tham mưu trưởng Liên quân, thì bây giờ đã đến lúc phải quyết định vượt qua giới hạn: “Phải mang cuộc chiến tới kẻ địch. Chưa từng bao giờ có ai chỉ ngồi trên mông của mình mà chiến thắng một trận đánh”.[3] McNamara, Rostow, Rusk, Westmoreland và giới quân đội trong Lầu Năm Góc yêu cầu mở rộng cuộc không kích, thêm quân mặt đất và một chiến lược khác. Taylor im lặng và thích ứng với hoàn cảnh, chỉ duy nhất George Ball là cảnh báo một cuộc chiến tranh kéo dài gây nhiều tổn thất. Nhân viên của Lầu Năm Góc đưa ra các con số cho viễn cảnh: 200.000 đến 400.000 người lính có một cơ hội chiến thắng là hai mươi phần trăm cho tới cuối 1966; cho tới 1968 nó sẽ tăng lên đến 50%.

Trong tháng Bảy, Tổng thống ra lệnh gửi ngay lập tức 50.000 người. Thêm 50.000 nữa sẽ tiếp theo đó cho tới cuối năm, và bàn bạc gửi thêm 100.000 người cho 1966. Cuộc không kích được tiếp tục đẩy lên phía Bắc, máy bay ném bom tầm xa B-52 cũng sẽ hoạt động trên miền Nam Việt Nam, và Westmoreland nhận được quyền tấn công và chống lại MTDTGP phi giới hạn. Các quyết định của tháng Bảy đánh dấu lần bắt đầu cuộc chiến tranh trên mặt đất của Mỹ ở Nam Việt Nam. Chúng xuất hiện sau những tháng leo thang từng bước – tăng viện trợ kinh tế và quân sự, tiếp tục gửi cố vấn, tăng cường các hoạt động bí mật chống Bắc Việt Nam, không kích và bắt đầu đầu đợt không kích – như là con đường duy nhất để ngăn chận việc “mất” Nam Việt Nam. Johnson và các cố vấn của ông tin rằng chỉ có cuộc xung đột quân sự là bảo đảm giữ vững được “tính đáng tin” của Mỹ – đối với người dân của họ, đối với cộng sản và các đồng minh từ Đài Loan cho tới Tây Berlin.

Chính phủ đã cố tình bước vào con đường mà người Pháp đã từng đi, và đã vào trong một ngõ cụt – của chiến bại bẽ mặt Điện Biên Phủ. Bước ra với một viễn tưởng về “Great Society” cho Hoa Kỳ và đồng minh, Johnson đi theo dấu chân của thực dân. Người Tổng thống dẫn nước Mỹ đi vào chiến tranh mà không cung cấp thông tin tương xứng cho người dân và Quốc Hội. Toàn bộ đề nghị của các cố vấn ông, xin Quốc Hội và công chúng ủng hộ cho chính sách của ông, đều bị ông từ chối. Trước giới báo chí, ông bác bỏ một bước ngoặc trong chính sách về Nam Việt Nam của Mỹ, và ở nội bộ thì ông giải thích rằng “Nghị quyết Vịnh Bắc bộ” đã đủ là nền tảng cho các quyết định của ông. Johnson muốn “bắt cá hai tay”, và ông lo ngại rằng một cuộc tranh luận công khai về “con điếm của một cuộc chiến sẽ thủ tiêu người đàn bà tôi thật sự yêu thương – ‘Great Society'”.[4] Từ lý do này mà ông cũng khước từ lời yêu cầu của Lầu Năm Góc và giới quân đội, động viên lực lượng trừ bị và vệ binh quốc gia, và tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia. Henry Cabot Lodge tóm tắt những nghi ngại về chính sách thông tin sai lạc của Johnson: “Làm sao ngài có thể gửi tới đó một con số lớn những người đàn ông trẻ tuổi mà không giải thích cho họ biết tại sao?”[5]

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

—————————————————————————————————————————–

[1] Taylor gửi Hội đồng Tham mưu trưởng, 22/2/1965, trong: FRUS 1964-1968, tập 2: Vietnam, Jan.-June 1965, Washington 1966, trang 347 và tiếp theo.

[2] Trích dẫn theo David Halberstam, The Best and The Brightest, New York, 1972, trang 684.

[3] Trích dẫn theo Henry Graff, The Tuesday Cabiner, Englewood Cliffs/NJ 1972, trang 138.

[4] Trích dẫn theo Doris Kearns, Lyndon Johnson and the American Dream, New York 1976, trang 251.

[5] Trích dẫn theo Brian VanDeMark, Into the Quagmire, New York and Oxford, 1991, trang 207.

Advertisements

One thought on “Con đường đi tới chiến tranh của Hoa Kỳ

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s