Hoa Kỳ: những tháng ngần ngừ

Trong năm bầu cử 1964, Tổng thống Johnson đã quảng bá cho “Great Society” của ông. Trong những năm ba mươi, ông đã bắt đầu sự nghiệp thăng tiến nhanh chóng của ông như là một người của “New Deal” và bây giờ muốn tiếp tục những cải cách đối nội đã được Franklin D. Roosevelt khởi đầu, và cải tạo xã hội Mỹ một cách cơ bản. Da đen và da trắng, người giàu và người nghèo, đàn ông và phụ nữ cần phải có những cơ hội và khả năng như nhau. Ngay từ tháng Sáu 1964, một đạo luật do ông đề nghị đã được Quốc Hội thông qua, mang lại sự bình đẳng cho người Mỹ gốc Phi và phụ nữ. Đạo luật Dân Quyền này (Civil Rights Act) thống trị cuộc tranh cửa của Johnson cũng như ý định của ông, ép buộc các bang miền Nam phải công nhận không giới hạn quyền bầu cử cho người Mỹ gốc Phi. Ngoài ra, ông yêu cầu nhà nước phải giúp đỡ cho người nghèo, người già và người bệnh.

Đối thủ của ông là ứng cử viên tổng thống Barry Goldwater hết sức bảo thủ của phe Cộng hòa mà những can thiệp từ phía nhà nước được Johnson quảng bá đối với ông ấy là những việc hết sức đáng ghét. Về mặt đối ngoại, người thượng nghị sĩ từ Arizona tự trình diễn mình như là một nhà chống cộng sản hiếu chiến và như là người ủng hộ cho một đường lối tấn công ở Việt Nam. Điều này mang lại cho Johnson khả năng xuất hiện như là một người tổng thống có tinh thần trách nhiệm, quyết tâm nhưng tuy vậy vẫn thận trọng. “Nghị quyết Vịnh Bắc bộ” xuất hiện giống như là một thể hiện cho đường lối này: hành động vâng, nhưng không phản ứng quá mức. Và ông hứa hẹn: “Chúng ta sẽ không gửi những người con trai của nước Mỹ đi xa nhà chín hay mười ngàn dặm để làm những gì mà trai tráng châu Á cần phải tự làm lấy.”[1] Johnson thắng lần bầu cử vào ngày 4 tháng Mười Một 1964 với đa số rất cao, báo hiệu sự đồng tình với đường lối đối nội của ông. Nhưng ngược với ý muốn, nhà cải cách xã hội ngày càng phải quan tâm nhiều hơn tới cuộc chiến ở Việt Nam.

Tổng thống Johnson ký tên phê chuẩn Luật Dân Quyền
Tổng thống Johnson ký tên phê chuẩn Luật Dân Quyền

Cuộc thảo luận ở Washington trong mùa Thu 1964 đã thêm phần nóng bỏng bởi tình hình lộn xộn trong chính phủ Nam Việt Nam. Cuối tháng Tám, sau khi sinh viên và người Phật giáo biểu tình nhiều ngày, Tướng Khánh đã từ chức để nhường chỗ lại cho một chính phủ dân sự. Nhưng điều này không làm cho các đối thủ chính trị của ông hài lòng, vì trước sau Khánh vẫn còn nắm quyền lực thật sự. Đám đông hỗn tạp thống trị ở Sài Gòn, người Phật giáo và Công giáo đánh nhau trên đường phố, và ở hậu trường thì chính trị gia và các tướng lãnh tranh giành ảnh hưởng không khoan nhượng. Đại sứ Taylor hoài công kêu gọi giới đứng đầu QLVNCH hãy chấm dứt việc lập âm mưu. Tuy là sự bất ổn định này còn chưa có tác động rõ rệt lên việc tiến hành chiến tranh ở Nam Việt Nam. Nhưng các báo cáo của tình báo cho thấy quân du kích đang thâm nhập nhiều hơn từ miền Bắc và những đơn vị chính quy đầu tiên của Bắc Việt Nam đã vào đến nơi. Trước sự phát triển này, Taylor yêu cầu chính phủ ông hãy có những biện pháp mạnh để ngăn chận xung đột. Những lời đề nghị của đại sứ giống như ngọn gió thổi vào cánh buồm cho giới quân đội. Từ nhiều tháng nay, họ yêu cầu một chiến dịch không kích rộng lớn, để, như tướng không quân Curtis LeMay nói, “đánh bom cho Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá” và phá hủy mọi nền tảng của một cuộc xâm lược giả định.[2] Nhưng Johnson và các cố vấn của ông vẫn còn ngần ngừ. Họ lo ngại rằng một chiến dịch không kích chống miền Bắc có thể sẽ khuyến khích thêm cho giới đối lập trong miền Nam và tiếp tục làm mất ổn định chính quyền Sài Gòn. Đánh giá này, nhưng cả cuộc bầu cử sắp diễn ra ở Hoa Kỳ, là lý do tại sao vào lúc ban đầu Johnson không sử dụng “Nghị quyết Vịnh Bắc bộ” khi MTDTGP lần đầu tiên tấn công trực tiếp một cơ sở của Mỹ vào ngày 1 tháng Mười Một: trong đêm đó, du kích quân đã nã pháo vào căn cứ không quân Biên Hòa, phá hủy hay làm hư hỏng mười tám chiếc máy bay ném bom và giết chết bốn người lính. Ngay cả khi chính phủ không phản ứng lại cuộc tấn công này ngay lập tức, nó đã làm cho ý định hoạt động chống lại miền Bắc của họ thêm mạnh mẽ –làm suy yếu miền Bắc để hỗ trợ cho miền Nam, lập luận này thắng thế. Người ta tranh cãi nhau dữ dội về thời điểm bắt đầu và cường độ của chiến dịch không kích, nhưng bây giờ thì tính cần thiết của nó không còn được bàn cãi nữa.

Trong chính phủ có một tiếng nói cất lên, giống như Kassandra cảnh báo việc nước Mỹ leo thang – đó là tiếng nói của George Ball, một thứ trưởng trong Bộ Ngoại giao. Trong những năm năm mươi, Ball khi còn là nhân viên của Đại sứ quán Mỹ ở Paris đã trải qua chiến bại của Pháp ở Đông Dương và bây giờ, mười năm sau đó, muốn tránh cho Hoa Kỳ một số phận giống như vậy. Trong một bản ghi nhớ cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Rusk, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng McNamara và cố vấn an ninh Bundy, Ball hoài nghi rằng một chiến dịch không kích sẽ hỗ trợ được cho Sài Gòn hay có thể khiến cho Hà Nội ngưng giúp đỡ MTDTGP. Ngược lại, ném bom nước VNDCCH sẽ khiêu khích Bắc Việt Nam xâm lấn miền Nam. Điều này về phần nó lại dẫn đến việc gửi quân đội Mỹ trên mặt đất sang đó. Ông phê phán, rằng ngay cả Robert Kennedy trong khuôn khổ của một chuyến đi thăm nước Đức đã không ngần ngại mà đưa ra một liên kết trực tiếp giữa Nam Việt Nam và Tây Berlin. Chính xác là điều ngược lại: “Tính đáng tin cậy” trên khắp thế giới của Hoa Kỳ đang lâm nguy vì Việt Nam. Không một đồng minh nào thông hiểu cho “cuộc chiến vô vọng” đó. Người thứ trưởng nhấn mạnh rằng Eisenhower và Kennedy đã gắn kết sự trợ giúp của Mỹ vào khả năng của người Nam Việt nam, xây dựng được một nhà nước có thể đứng vững. Vì điều này không trở thành hiện thực nên người ta có thể rút lui mà không mất thể diện. Hiện tại, Hòa Kỳ đang sắp sửa đánh mất định hướng trong rừng rậm Việt Nam. “Nếu như chúng ta đã ngồi trên lưng cọp thì chúng ta không còn có thể chắc chắn rằng chúng ta có thể quyết định được nơi mà chúng ta muốn bước xuống.”[3]

Tiên đoán của Ball gặp phải sự từ chối, cả sự không thông hiểu nữa. Có thời gian Johnson đã trao vai trò advocatus diabolic cho Ball – hãnh diện rằng đã khoan dung cho nhiều quan điểm khác nhau trong chính phủ của ông. Nhưng về mặt chính trị, vào cuối tháng Mười Một, ông Tổng thống ấn định một chương trình mà dường như là một con đường trung dung giữa lời yêu cầu một chiến dịch không kích lớn của Hội đồng Tham mưu trưởng và lời cảnh báo cô đơn của Ball: một chiến dịch hai giai đoạn có hạn chế. Giai đoạn đầu kéo dài một tháng bắt đầu từ 1 tháng Mười Hai 1964 và bao gồm việc không kích những con đường mòn ở Lào. Song song với đó, trong trường hợp có phản ứng của Bắc Việt Nam, sẽ có những phi vụ tấn công các mục tiêu được lựa chọn trước trong nước VNDCCH. Giai đoạn II sẽ bắt đầu ngay sau khi chính phủ Sài Gòn đạt được một sự ổn định nhất định.Trong giai đoạn này, dự tính sẽ có một chiến dịch không kích Bắc Việt Nam kéo dài hai tới sáu tháng. Sau khi chấm dứt không kích, nếu cần thiết thì một cuộc phong tỏa đường biển đất nước này sẽ làm toàn hảo cho các chiến dịch.

Vào lúc 5:55 ngày 24 Tháng Mười Hai năm 1964, Việt Cộng khủng bố cho phát nổ một quả bom trong tầng để xe ở bên dưới khách sạn Brinks ở Sài Gòn, Nam Việt Nam. Khách sạn này, nơi trú ngụ của 125 khách quân sự và dân sự, đã được sử dụng như là trú quán của sĩ quan quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam. Hai người Mỹ đã bị giết chết, và 107 người Mỹ, Việt, và Úc bị thương. Tòa nhà nhỏ ở phía sau khách sạn Brink đã bị phá hủy hoàn toàn bởi lực công phá của vụ nổ.
Vào lúc 5:55 ngày 24 Tháng Mười Hai năm 1964, Việt Cộng khủng bố cho phát nổ một quả bom trong tầng để xe ở bên dưới khách sạn Brinks ở Sài Gòn, Nam Việt Nam. Khách sạn này, nơi trú ngụ của 125 khách quân sự và dân sự, đã được sử dụng như là trú quán của sĩ quan quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam. Hai người Mỹ đã bị giết chết, và 107 người Mỹ, Việt, và Úc bị thương. Tòa nhà nhỏ ở phía sau khách sạn Brink đã bị phá hủy hoàn toàn bởi lực công phá của vụ nổ.

Nhưng điều khiến cho Hội đồng Tham mưu trưởng bực tức là trong tháng Mười Hai 1964, Tổng thống Johnson vẫn chưa sẵn sàng cho phép tấn công Bắc Việt Nam, nói chi đến việc bắt đầu Giai đoạn II. Khác với phần lớn các cố vấn của ông, Johnson không bất cẩn tiến tới một cuộc đối đầu quân sự với Hà Nội. Ông hoàn toàn nhận thức được tầm hệ trọng các quyết định của ông, và ông tuyệt vọng tìm kiếm một lối thoát ra khỏi tình thế lưỡng nan đó, cái đã gợi lên cuộc xung đột ở Việt Nam. Nếu ông quyết định leo thang, tức là bắt đầu cuộc không kích, thì điều này sẽ rút sự chú ý và nguồn lực ra khỏi “Great Society” của ông. Nếu ông quyết định tạm thời chờ đợi hay thậm chí nghe theo lời khuyên của Ball, thì ông sẽ bị các cố vấn của ông phê phán và gây ra một cuộc tranh luận công khai về việc “mất” Đông Nam Á. Qua đó, viễn tưởng “Great Society” của ông cũng có nguy cơ bị chấm dứt. Vì vậy mà Johnson có gắng tạo ảnh hưởng lên các diễn tiến đã rơi ra khỏi tầm kiểm soát của những người tiền nhiệm ông: ông yêu cầu giới tinh hoa quyền lực Sài Gòn thống nhất với nhau về mặt chính trị, yêu cầu có một chính phủ ổn định và thành công trong việc chiến đấu chống MTDTGP. Để khuyến khích, ông hứa với chính phủ dân sự nằm dưới sự khoan dung của Tướng Khánh, rằng sẽ tài trợ để tăng thêm 100.000 quân lính nữa; điều này sẽ tăng quân số (QLVNCH chính quy, lực lượng tự vệ và các lực lượng địa phương) lên 660.000 người và nâng cao khả năng chiến đấu của quân đội. Tiền nhiều hơn và quân nhiều hơn cũng có nghĩa là có nhiều ảnh hưởng và uy tín hơn, và khả năng phân bổ chức vụ và củng cố những người theo mình. Sài Gòn cảm ơn chấp nhận, nhưng không để cho các yêu cầu về chính trị gây ấn tượng. Các tướng lãnh đánh giá đúng mối quan hệ Nam Việt Nam – Mỹ như là một mối quan hệ với những sự lệ thuộc lẫn nhau. Họ toan tính rằng trước sau gì thì Hoa Kỳ cũng mở rộng thêm nữa sự giúp đỡ của họ.

Một cuộc đánh bom khách sạn Brink trong trung tâm Sài Gòn vào đêm Giáng Sinh 1964 thêm một lần nữa cho thấy rõ tình trạng tồi tệ của chính phủ và bộc lộ ra rằng QLVNCH không có khả năng bảo vệ những người cố vấn Mỹ của họ. Việc QLVNCH không có khả năng chiến đấu chống MTDTGP một cách có hiệu quả thể hiện vài ngày sau đó trong trận Bình Giã. Ở đó, hai tiểu đoàn được trang bị thuộc hàng tốt nhất của QLVNCH, những lực lượng cơ động khác và hàng đoàn trực thăng Mỹ đã đối đầu với những đơn vị được trang bị tương đối yếu kém hơn và kém quân số hơn rất nhiều: 445 người lính QLVNCH tử trận, 16 cố vấn Mỹ hy sinh, phía bên kia thiệt hại 132 người. Đứng trước những thiệt hại như vậy và trước tinh thần chiến đấu suy sút của quân đội, Taylor và các cố vấn dẫn đầu của Johnson thực hiện một bước ngoặc trong lập luận. Không kích Bắc Việt Nam không còn là tiền đề để ổn định chính phủ Sài Gòn nữa. Khả năng duy nhất để ngăn chận một thảm họa – cố vấn an ninh McGeorge Bundy ước lượng tuổi thọ còn lại của Nam Việt Nam tối đa là thêm một năm nữa – dường như nằm trong việc nhanh chóng tiến hành một cuộc không chiến. Chỉ việc ném bom Bắc Việt Nam là có thể, theo tính toán này, ngăn chận không cho MTDTGP tiến quân và ép buộc Hà Nội phải ngưng sự hỗ trợ của họ. Mục tiêu không còn là chiến thắng, mà là ngăn chận không cho Nam Việt Nam sụp đổ.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

———————————————————————————————————————————————————-

[1] Remarks in Memorial Hall, Akron University, 21/10/1964, trong Public Papers of the Presidents, Lyndon B. Johnson, 1963-1964, Washington 1965, II, trang 1391.

[2] Trích dẫn theo William C. Berman, William Fulbright and the Vietnam War, Kent/OH and London 1988, trang 156.

[3] Ball, The Past Has Another Pattern, trang 382.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s