VNDCCH, cuộc chiến ở miền Nam và thế giới cộng sản

Với cuộc không kích của Mỹ vào các căn cứ hải quân Bắc Việt Nam và lần Quốc Hội thông qua “Nghị quyết vịnh Bắc bộ”, chiến lược cho tới lúc đó của Hà Nội, tránh một đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ, đã thất bại. Quan điểm sắp được thay đổi, điều này được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố một tuần sau các sự kiện đó. Vì Hoa Kỳ rõ ràng cho rằng cần thiết phải “mang chiến tranh ra miền Bắc, để tìm thấy một lối thoát ra khỏi ngõ cụt trong miền Nam”, Hà Nội sẽ chấm dứt thái độ kiềm chế cho tới nay. Ông tự tin nói với nhà đàm phán người Canada Seaborn: “Chúng tôi sẽ chiến thắng”.[1]

Trong những năm vừa rồi, Hà Nội tiến hành một đường lối linh hoạt và cẩn trọng đối với cuộc nội chiến trong miền Nam. Sự thận trọng này phản ánh các đánh giá khác nhau trong giới lãnh đạo Bắc Việt Nam về diễn tiến của cuộc chiến trong miền Nam và về vai trò của Hoa Kỳ. Nhưng nó cũng có liên quan tới đường lối của các cường quốc cộng sản.

Cầu Hiền Lương 1961. Hình: Howard Sochurek
Cầu Hiền Lương 1961. Hình: Howard Sochurek

Đại hội Đảng lần thứ 3 của đảng Lao Động được tiến hành trong tháng Chín 1960. Sau nhiều năm cải tạo kinh tế, Đảng đưa ra kế hoạch năm năm đầu tiên, cái có nhiệm vụ phải đẩy mạnh cuộc công nghiệp hóa và để cho thấy rõ sự tham gia của Moscow và Bắc Kinh. Đặc biệt, nền công nghiệp nặng và hạ tầng cơ sở cần phải được phát triển. Trong lĩnh vực nông nghiệp, kế hoạch này dự định chuyển các hợp tác xã nông dân vào trong hình thức tập thể. Bắt đầu từ bây giờ, các cơ quan kế hoạch trung ương ấn định tỷ lệ giao nộp cho các nông trường tập thể. Vì thu hoạch mùa màng sút giảm đáng kể vào lúc ban đầu sau khi tập thể hóa nên Hà Nội sửa đổi kế hoạch sau 1963 và dứt khoát ưu tiên cho nông nghiệp trước cuộc công nghiệp hóa. Đồng thời, người ta thay thế việc lập kế hoạch kinh tế được điều khiển từ trên bằng một sự quản lý pha trộn giữa trung ương và địa phương. Bước đi này thể hiện ra là hữu ích, vì dân số luôn tăng trưởng hơn 2% mỗi năm từ 1960 đến 1975 nên tăng sản lượng nông nghiệp là điều cần thiết.

Cả về mặt chính trị, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày càng phát triển thành một nhà nước đơn nhất xã hội chủ nghĩa. Thời mà Hồ Chí Minh ủng hộ cho một đối thoại xã hội đã qua rồi. Việc Đảng Lao Động mở cửa trở thành một đảng quần chúng đã làm tăng áp lực lên tính phục tùng. Nhiều người trong số cho tới thời điểm đó là 500.000 đảng viên đã khác rõ với các thành viên Việt Minh lý tưởng, cộng sản-dân tộc. Ước muốn thăng tiến trong sự nghiệp, sung túc trong vật chất, được xã hội kính trọng và có những cơ hội học tập tốt hơn đã dẫn nhiều người cơ hội vào đảng. Đối với họ, việc thi hành một cách nghiêm ngặt các chỉ thị do Đảng đưa ra là việc đứng ở hàng đầu. Cuộc xung đột đang leo thang trong miền Nam thúc đẩy họ nhất trí với đường lối của các ủy ban lãnh đạo Đảng. Qua đó, cuộc chiến đã trở thành một yếu tố quyết định để làm ổn định hệ thống.

Người lập nước và cũng là Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ngày càng rút lui ra khỏi hoạt động chính trị thường ngày vì tuổi đã cao. Bây giờ, lãnh đạo đất nước nằm trong tay Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bộ Chính trị và Lê Duẩn, người được bầu lên làm bí thư thứ nhất tại Đại hội Đảng. Lê Duẩn, người xuất thân từ miền Nam,trong những năm cuối thập niên năm mươi đã thường xuyên phê phán đường lối củng cố xã hội chủ nghĩa của nước VNDCCH và công nhận trên thực tế sự chia cắt. Lời kêu gọi thành lập MTDTGP trong miền Nam chủ yếu xuất phát từ ông. Do lo ngại một sự can thiệp của Mỹ nên vào lúc ban đầu, Lê Duẩn và giới lãnh đạo ở Hà Nội chỉ sẵn sàng hỗ trợ MTDTGP về mặt chính trị. Nhưng họ không loại bỏ việc tăng cường trợ giúp về mặt vật chất trong tương lai, nhất là khi Hà Nội đã tạo những tiền đề về mặt hạ tầng cơ sở ngay từ cuối những năm năm mươi – cái được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh. Đó là một hệ thống đường sá chằng chịt chạy dọc theo biên giới Việt Nam trên lãnh thổ Lào và Campuchia và từ 1960 đã tạo khả năng để chuyển người và vật liệu từ miền Bắc vào miền Nam.

Nhưng sự giới hạn chỉ trợ giúp chính trị cho những người cộng sản trong miền Nam và cho MTDTGP đã được hủy bỏ trong năm 1961 khi cố vấn Mỹ đến Việt Nam. Cựu thành viên Việt Minh, những người sau hiệp định chia cắt của năm 1954 đã di chuyển ra miền Bắc, thâm nhập ngày một nhiều hơn. Nếu như năm 1960 còn là tròn 4500 người thì con số này đã tăng lên tới khoảng 10.000 du kích quân trong năm 1964. Họ là một đợt tăng cường đáng kể cho MTDTGP nhưng không quyết định cho sự thành công của Mặt Trận. Cả sự trợ giúp về vật liệu của Hà Nội cho MTDTGP cũng hoàn toàn không cân xứng với sự hỗ trợ của Mỹ cho Sài Gòn. Đầu những năm sáu mươi, có chưa tới 10% vũ khí do MTDTGP sử dụng là xuất phát từ Bắc Việt Nam. Một phần, MTDTGP vẫn còn sử dụng những phần còn lại từ thời Việt Minh hay vũ khí cũ của Pháp, nhưng nguồn cung cấp trước hết là từ các kho vũ khí của QLVNCH hay vũ khí tự chế.

So tới chừng nào Diệm vẫn còn nắm quyền lực thì MTDTGP, với sự hỗ trợ của Hà Nội, cố gắng gây mất ổn định cho chính quyền Diệm, ép buộc cố vấn Mỹ rút lui và dẫn tới một chính phủ liên hiệp với sự tham gia của tất cả các phe nhóm trong Nam Việt Nam. Trong mùa hè 1963, dường như các mục đích của họ đã nằm trong tầm tay. Chính phủ Sài Gòn bị dồn vào chân tường về mặt chính trị và quân sự, và tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ McNamara, rút một ngàn cố vấn ra khỏi Nam Việt Nam, dường như đã báo hiệu cho lần chấm dứt sự hiện diện của Mỹ. Thế nhưng các hy vọng của MTDTGP đã tan vỡ nhanh chóng sau cuộc đảo chánh lật đổ Diệm.

Trong tháng Mười Hai 1963, Ban chấp hành Trung ương của Đảng Lao Động tiến hành phân tích tỉ mỉ tình hình trong miền Nam. Sự tính toán, rằng tình loạn hỗn loạn về chính trị ở Sài Gòn có thể khiến cho Hoa Kỳ rút lui, đã chứng tỏ là sai. Tuy các yêu cầu từ trong nội bộ, phải gởi quân đội chính quy Bắc Việt vào miền Nam ngay lập tức, lúc đầu không thắng thế. Nhưng có hai quyết định phản ánh nổ lực của Hà Nội, tích cực can thiệp vào cuộc xung đột trong miền Nam từ bây giờ. Việc tăng cường cung cấp viện trợ cho MTDTGP có nhiệm vụ tạo khả năng cho Mặt Trận kiểm soát hoàn toàn vùng cao nguyên và đồng bằng sông Cửu Long. Trong giai đoạn hai, Mặt Trận cần phải mang cuộc xung đột với chính quyền Sài Gòn vào trong các thành phố do chính phủ kiểm soát, và là với sự hỗ trợ về nhân sự từ miền Bắc,

Xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh
Xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh

Với các quyết định của tháng Mười Hai 1963, giới lãnh đạo Đảng Lao Động chuẩn bị cho một cuộc can thiệp quân sự. Từ mùa xuân 1964, Hà Nội mở rộng các con đường rừng của Đường mòn Hồ Chí Minh cho xe tải, và đào tạo quân đội cho cuộc chiến trong miền Nam. Nhiệm vụ Seaborn và “Nghị quyết Vịnh Bắc bộ” đã xóa bỏ những gì còn chưa rõ trong các ý định của Mỹ ở Nam Việt Nam. Bây giờ, cuối cùng Hà Nội cũng sẵn sàng can thiệp vào cuộc xung đột bằng quân sự. Các đơn vị chính quy đầu tiên của quân đội Bắc Việt Nam (People’s Army of Vietnam, PAVN) vào đến miền Nam trong tháng Chín và tháng Mười 1964. Tin chắc rằng “Quân đội Giải phóng Nhân dân” (PLAF) không đủ khả năng để chiến thắng cuộc chiến trong thời gian ngắn, Hà Nội thúc giục có một lãnh đạo quân sự thống nhất trong miền Nam. Lê Duẩn bổ nhiệm Tướng Nguyễn Chí Thanh làm người chỉ huy các hoạt động chung của PAVN và PLAF. Khác với Tướng Giáp, người chiến thắng của Điện Biên Phủ và cũng là người bạn đồng hành lâu nay của Hồ Chí Minh, Thanh lạc quan tin rằng có thể đối phó lại với hỏa lực chiếm ưu thế của Mỹ bằng tinh thần chiến đấu của một quân đội cách mạng. Lần bổ nhiệm Thanh phản ánh chiến thắng của nhóm hiếu chiến trong giới lãnh đạo Hà Nội.

Quyết định của Hà Nội, can thiệp vào trong cuộc xung đột quân sự trong miền Nam, được tạo thuận lợi qua lần lật đổ người sếp Đảng và nhà nước Xô viết Nikita Khrushchev trong tháng Mười 1964. Dưới thời của ông, chính sách đối ngoại Đông Nam Á của Xô viết chỉ có một tầm quan trọng thứ yếu. Nó đã chấp nhận sự chia cắt trên thực tế của Việt Nam trong năm 1956 và kể từ lúc đó chỉ ủng hộ nửa vời cho yêu cầu thống nhất đất nước của Hà Nội. Trong diễn tiến của cuộc xung đột hệ tư tưởng ngày càng trầm trọng hơn với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Khrushchev đã tuyên truyền khích lệ cuộc đấu tranh vũ trang của các phong trào giải phóng dân tộc trong Thế giới Thứ Ba. Nhưng chính sách giảm căng thẳng được ưu tiên tuyệt đối, đặc biệt là sau các cuộc khủng hoảng quanh Berlin và Cuba cũng như sau lần trung lập hóa Lào. Tuy Moscow đã viện trợ kinh tế cho Bắc Việt Nam từ 1954 cho tới 1964 tổng cộng là 500 triệu dollar, và cung cấp vũ khí hạng nhẹ cho Hà Nội, ngoài những nguồn sản xuất khác là từ Đông Đức. Nhưng giới lãnh đạo Xô viết không đáp ứng lời yêu cầu cung cấp khí cụ chiến tranh hạng nặng của Bắc Việt Nam, và phê phán việc Hà Nội khước từ chính sách “chung sống hòa bình”. Trong tháng Hai 1964, một phái đoàn Bắc Việt Nam lại phải rời Moscow mà không đạt được thỏa thuận nào – Khrushchev không muốn tăng viện trợ quân sự của Xô viết. Một chuyến đi thăm của các đại diện MTDTGP trong tháng Bảy cũng không mang lại kết quả: MTDTGP không nhận được ngoại tệ đang hết sức cần thiết lẫn súng phòng không, súng chống tăng và thiết bị y tế mà họ đã yêu cầu. Quan hệ Bắc Việt Nam – Xô viết xấu đi trong khoảng thời gian còn lại của năm đó. Cuối cùng, giới lãnh đạo ở Hà Nội tuyên bố trong tháng Mười Một 1964, họ không còn cần đến con số cố vấn Xô viết ít ỏi đó nữa.

Sự lăng nhục này đánh dấu không chỉ điểm thấp nhất trong mối quan hệ của hai nhà nước, mà cũng đánh dấu cả một bước ngoặc quyết định. Giới lãnh đạo Xô viết mới dưới quyền của Leonid Brezhnev và Alexei Kosygin nhận ra rõ hơn Khrushchev, rằng Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ đang tiến tới một xung đột quân sự sau vụ Vịnh Bắc bộ. Những ông chủ mới ở Điện Kreml xem cuộc xung đột Đông Dương như là khả năng để bắn một mũi tên giết chết hai con chim. Đầu tiên, họ chuyển lập luận của Washington, mà theo đó “tính khả tin” của Mỹ đối với “thế giới tự do” đang đứng trước thử thách ở Nam Việt Nam, sang tình cảnh riêng của họ. Trong một lý thuyết giống như một Thuyết Domino ngược, họ lo ngại rằng bỏ quên chế độ cộng sản ở Hà Nội có thể sẽ có một tác động gây mất ổn định lên các nhà nước Đông Âu và làm hại đến uy tín của Liên bang Xô viết trên khắp thế giới. Thêm nữa, Brezhnev và Kosygin nhìn cuộc xung đột này như là một cơ hội tốt để trói buộc sức lực của Mỹ và đồng thời cũng là cơ hội để tự đưa họ lên như là một người trung gian dàn xếp. Nhưng trước hết là Moscow muốn ngăn chận ảnh hưởng mang tầm quyết định ở Đông Nam Á của những kẻ “sai lệch” về tư tưởng hệ, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Vì đúng vào thời điểm đó, khi Hà Nội, lịch sự nhưng nhất quyết, đe dọa loại bỏ các cố vấn Xô viết, thì sự cộng tác Trung Quốc-Bắc Việt Nam đạt đến đỉnh cao của nó. Sự hợp tác này xuất phát từ những năm bốn mươi, khi Việt Minh được những người cộng sản Trung Quốc hỗ trợ trong cuộc chiến đấu chống người Pháp và người Nhật của họ. Tuy là Hà Nội cảm thấy bị người Trung Quốc bỏ rơi sau Hội nghị Đông Dương ở Genève năm 1954 cũng như sau Hội nghị Lào 1961/1962. Nhưng điều này không ngăn cản họ nhận cung cấp vũ khí từ Trung Quốc và hướng theo Bắc Kinh về mặt tư tưởng hệ và kinh tế chính trị. Hà Nội hướng cuộc xã hội hóa nông nghiệp theo gương mẫu Trung Quốc một cách nhất quán và cũng theo Trung Quốc bác bỏ thuyết “chung sống hòa bình” của Xô viết. Cho tới cuối 1964, viện trợ kinh tế và quân sự của Trung Quốc đạt tới con số tổng cộng tròn 460 triệu dollar; bên cạnh vũ khí và đạn dược, nó bao gồm trước hết là xe cơ giới, quân phục, hàng tiêu dùng và lương thực.

Tháng Mười Hai 1964, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc Lâm Bưu ký kết ở Hà Nội một hiệp định có nhiệm vụ mang lại cho Bắc Việt khả năng đương đầu với Hoa Kỳ: Bắc Kinh tuyên bố sẵn sàng gởi từng bước 320.000 quân lính sang. Đó là các lực lượng tiếp vận và pháo binh, được sử dụng để xây đường bộ, đường sắt, cầu, đê cũng như trong phòng không. Trên đỉnh cao của hợp tác Việt-Trung trong năm 1967, có cho tới 170.000 người Trung Quốc có mặt ở phía bắc của vĩ tuyến 21 (theo các nguồn Xô viết thì chỉ là từ 60.000 đến 100.000 người). Tổng cộng có 1100 người Trung Quốc bỏ mạng vì chiến tranh, trên 4000 bị thương. Ngoài ra, giới lãnh đạo Trung Quốc tăng cường cố gắng của họ, tiến lên trở thành thế lực bảo vệ duy nhất của Bắc Việt Nam. Qua đó, vai trò cường quốc khu vực được củng cố và ảnh hưởng của Liên bang Xô viết cần phải được loại bỏ. Bắc Kinh cung cấp tên lửa đất đối không, pháo phòng không và tàu lửa, những thứ được chuyên chở sang Bắc Việt Nam từ một cảng bí mật được thành lập trên đảo Hải Nam của Trung Quốc riêng cho việc này.

Trước bối cảnh đó, hoạt động hấp tấp của giới lãnh đạo Xô viết mới trong mùa đông 1964/65 là điều dễ hiểu. Một mặt, Moscow cố gắng tìm kiếm ở Washington một giải pháp ngoại giao cho cuộc xung đột, mặt khác, họ muốn ngăn chận thế áp đảo của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Đường lối mới được cụ thể hóa trong tháng Mười Hai 1964, khi Moscow mời MTDTGP thành lập một văn phòng liên lạc tại thủ đô Xô viết. Song song với việc này, người ta đàm phán với Bắc Việt Nam về một chương trình giúp đỡ mà đã được ký kết vào ngày 7 tháng Hai năm 1965 tại Hà Nội dưới sự hiện diện của Thủ tướng Kosygin. Chương trình này dự định cung cấp các hệ thống vũ khí hiện đại của Xô viết mà công nghệ của nó có ưu thế hơn nhiều khi so với của Trung Quốc. Hiệp định này, cũng như nhiều thỏa thuận tiếp theo đã ngăn chận Bắc Việt Nam ngã một phía sang hướng nhà cạnh tranh Trung Quốc, phát đi tín hiệu cho thế giới cộng sản thấy sự sẵn sàng của Liên bang Xô viết, giúp đỡ các “dân tộc anh em”, và đã nâng cao đáng kể tiềm năng quân sự của Bắc Việt Nam. Tuy vậy, người Xô viết đã đạt được ít thành công hơn trong nổ lực của họ, yêu cầu giới lãnh đạo Bắc Việt nam cam kết thực hiện một chính sách đàm phán, và ngăn chận không cho Hà Nội tiến hành những bước đi có thể cổ vũ cho Mỹ leo thang. Theo ước lượng của Phương Tây, Liên bang Xô viết đã cho VNDCCH vay tròn 5 tỉ dollar từ 1965 cho tới 1975. Đến 1968, Liên bang Xô viết đã thay thế Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở thành nước viện trợ quan trọng nhất. Trong năm đó, trên 50% giúp đỡ về kinh tế và quân sự của nước ngoài đến từ Liên bang Xô viết, tính ra độ khoảng 580 triệu dollar. Ngoài ra, có khoảng 2000 chuyên gia quân sự Xô viết có mặt trong nước, bảo quản thiết bị kỹ thuật hoặc hoạt động như là chuyên viên phòng không hay radar. Cũng mang tầm quan trọng là việc gửi hàng ngàn người Bắc Việt sang các học viện quân sự Xô viết. Ngược lại, phần đóng góp của các quốc gia Đông Âu tương đối ít. Khi ví dụ như một phái đoàn Bắc Việt Nam ở Đông Berlin đang đi tìm kiếm viện trợ đáng kể của CHDC Đức, thì người ta nói với họ rằng có đủ những lĩnh vực khác mà trên đó người ta phải hỗ trợ cho công cuộc đấu tranh chống “những tên đế quốc”.

Trong khi trợ giúp Xô viết tăng lên liên tục, người Trung Quốc giảm sự tham gia của họ xuống kể từ sau 1967. Cuối 1969, chỉ còn một vài cố vấn Trung Quốc đóng ở Bắc Việt Nam. Điều này không chỉ xuất phát từ việc giới lãnh đạo Trung Quốc ngày càng bực dọc hơn về sự giúp đỡ to lớn của Xô viết. Bắc Kinh còn bực dọc về việc Bắc Việt Nam không muốn công nhận yêu cầu là thế lực dẫn đầu trong khu vực của Trung Quốc, cũng như không chấp nhận vô điều kiện hình ảnh dẫn đầu về ý thức hệ của Mao Trạch Đông. Thêm vào đó, “cuộc Cách mạng Văn hóa” của Mao đã làm chấn động Trung Quốc vào cuối những năm sáu mươi. Nó đẩy đất nước này vào trong sự hỗn loạn và dẫn tới suy sụp kinh tế mà hậu quả của nó là Trung Quốc buộc phải ngưng hầu hết các viện trợ cho nước ngoài. Tuy vậy, Trung Quốc vẫn là một đồng minh quan trọng cho tới khi chiến tranh chấm dứt năm 1975. Cuối cùng thì tàu hỏa Trung Quốc chuyên chở một phần lớn hàng viện trợ của Xô viết cho Bắc Việt Nam.

Sự hỗ trợ của Trung Quốc và Xô viết cho VNDCCH – và từ 1965 cho cả MTDTGP – mang tầm quan trọng quyết định cho những người cộng sản Việt Nam. Cuối những năm sáu mươi, trợ giúp đã chiếm hai phần ba ngân sách Bắc Việt Nam. Cũng quan trọng như các trợ giúp về vật chất là tiềm năng đe dọa của hai nước lớn cộng sản. Đạo quân đông đúc của Trung Quốc, sở hữu vũ khí hạt nhân từ 1964 và kho vũ khí hạt nhân Xô viết ngăn ngừa không cho các chính phủ ở Washington tiến quân vào Bắc Việt Nam. Hình ảnh đáng sợ của những đợt “biển người” Trung Quốc, cái mà trong Chiến tranh Triều Tiên tạm thời đã dẫn tới một thảm bại quân sự, vẫn còn hiện ra quá rõ trước mắt của giới quân đội trong Lầu Năm Góc và các chính phủ Johnson và Nixon.

Mặc cho trọng lượng của viện trợ kinh tế và quân sự của Trung Quốc và Xô viết, các đồng minh lại không tạo được ảnh hưởng đáng kể lên Hà Nội. Giới lãnh đạo Bắc Việt Nam đã thành công trong việc kích Bắc Kinh và Moscow chống lại nhau. Họ khước từ cả ý muốn có một giải pháp đàm phán luôn được Liên bang Xô viết đưa ra lẫn lời yêu cầu không nhượng bộ của Trung Quốc, về cơ bản là không tiến hành trao đổi với “những tên đế quốc”. Cả trong những việc nhỏ, Hà Nội cũng chứng tỏ tính độc lập của họ. Ví như công dân Xô viết làm việc ở Bắc Việt Nam không được phép tự do đi lại trong nước; tiếp xúc với người dân của họ bị giới hạn và bị giám sát. Trong khi tuyên truyền Trung Quốc có thể được tiến hành tương đối tự do ở Bắc Việt Nam cho tới 1968, các cuộc triển lãm, phim của Xô viết và những hình thức khác của văn hóa nước ngoài bị hạn chế tại một vài dịp, thường là những ngày quốc khánh. Tại hầu hết những lần chuyển giao thông tin về công nghệ vũ khí đoạt được từ Mỹ, người Xô viết đều hưởng lợi trực tiếp từ đối tác Bắc Việt Nam của họ. Ví dụ như họ đã sao chép lại nhiều hệ thống điều khiển vũ khí, động cơ máy bay và thiết bị điện tử. Ngoài ra các kỹ sư Xô viết đã có thể kiểm nghiệm và cải thiện hiệu quả các vũ khí của họ dưới những điều kiện thật của chiến tranh. Khác với các nhà nước Đông Âu, Bắc Việt Nam luôn bảo toàn tính độc lập toàn vẹn của mình. Không phải là ngẫu nhiên khi người Xô viết mô tả những người cộng sản Bắc Việt như là xa lạ và “dân tộc hẹp hòi”.[2]

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

—————————————————————————————————————————

[1] George C. Herring (xuất bản), The Secret Diplomacy of the Vietnam War. The Negotiating Volumes of the Pentagon Papers, Austin/TX 1983, trang 8

[2] Báo cáo chính trị của Đại sứ quán Liên xô tại Hà Nội cho năm 1966, trích dẫn theo Ilya V. Gaiduk, The Soviet Union and the Vietnam War, Chicago 1966, trang 69.

Advertisements

One thought on “VNDCCH, cuộc chiến ở miền Nam và thế giới cộng sản

  1. […] Với cuộc không kích của Mỹ vào các căn cứ hải quân Bắc Việt Nam và lần Quốc Hội thông qua “Nghị quyết vịnh Bắc bộ”, chiến lược cho tới lúc đó của Hà Nội, tránh một đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ, đã thất bại. Quan điểm sắp được thay đổi, điều này được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố một tuần sau các sự kiện đó.Vì Hoa Kỳ rõ ràng cho rằng cần thiết phải “mang chiến tranh ra miền Bắc, để tìm thấy một lối thoát ra khỏi ngõ cụt trong miền Nam”, Hà Nội sẽ chấm dứt thái độ kiềm chế cho tới nay. Ông tự tin nói với Xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh đàm phán người Canada Seaborn: “Chúng tôi sẽ chiến thắng”.[1] […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s