Các chiến dịch bí mật và “Nghị quyết Vịnh Bắc bộ”

Tháng Ba 1964, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng McNamara tiến hành một nhiệm vụ khảo sát mới ở Nam Việt Nam. Mới trước đó, QLVNCH đã phải chấp nhận một chiến bại cay đắng, khi 3000 quân lính chính phủ bị các đơn vị của MTDTGP tiêu diệt trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi McNamara khen ngợi công khai chính phủ Khánh và tuyên bố với các nhà báo là sẽ thắng cuộc chiến này thì trong nội bộ ông lại vẽ lên một hình ảnh tối tăm của tình hình. Tin chắc vào tính đúng đắn của thuyết Domino, người Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem Nam Việt Nam như là “trường hợp thử nghiệm” cho khả năng của Mỹ, chiến đấu chống lại một cuộc xâm lược cộng sản được chỉ huy từ bên ngoài. Từ khi chính quyền Diệm chấm dứt, theo McNamara trong một bản tường trình của ông trình tổng thống, tình hình ở Nam Việt Nam đã xấu đi liên tục. Khánh hoàn toàn không có quyền lực chính trị, ảnh hưởng của ông ấy lên quân đội là “đáng ngờ”. Tỷ lệ đào ngũ ở QLVNCH và các lực lượng tự vệ địa phương và khu vực đã đạt tới những quy mô khổng lồ. Bốn mươi phần trăm đất nước nằm dưới sự kiểm soát của MTDTGP, trong các tỉnh quanh Sài Gòn thậm chí cho tới chín mươi phần trăm. “Nhiều tầng lớp rộng lớn trong người dần thể hiện những dấu hiệu của sự thờ ơ và mặc kệ”.[1] Nhưng khác với giới quân đội, những người đề nghị gởi quân trên mặt đất sang để ổn định tình hình, McNamara khuyên chỉ tăng cường thêm một lần nữa sự giúp đỡ của Mỹ về mặt quân sự. Có những lập luận nhiều trọng lượng chống lại yêu cầu của Hội đồng Tham mưu trưởng. Về một mặt, Tòa Nhà Trắng và giới dân sự đứng đầu Lầu Năm Góc lo ngại “hiệu ứng quả bóng tuyết” đã từng được Kennedy tiên đoán: Việc đồn trú quân đội chính quy sẽ buộc người ta phải tiếp tục gởi thêm quân đội sang và tiếp tay làm tan rã tinh thần chiến đấu của QLVNCH. Ngoài ra, trong năm tranh cử tổng thống, trong bất cứ trường hợp nào thì Johnson cũng không muốn gởi quân sang châu Á và qua đó mà làm sống lại cái bóng ma của cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Gắn liền với việc này là nỗi lo ngại, rằng trong trường hợp cuộc xung đột leo thang vì Hoa Kỳ thì Trung Quốc cũng có thể can thiệp bằng quân sự.

Tướng Westmoreland đến thăm căn cứ trực thăng Evans.
Tướng Westmoreland đến thăm căn cứ trực thăng Evans.

Từ những lý do đó, chính phủ thống nhất tăng cường các hoạt động bí mật đã được tiến hành cùng với người Nam Việt Nam từ tháng Hai 1964 (OPLAN 34-A) để chống Bắc Việt Nam (phá hoại, rải truyền đơn, bí mật giám sát không phận). Thêm vào đó, Lầu Năm Góc lập kế hoạch chi tiết nhằm ném bom Bắc Việt Nam. Để nhấn mạnh tầm quan trọng của Nam Việt Nam đối với Hoa Kỳ, tháng Sáu 1964, Johnson bổ nhiệm Tướng Maxwell Taylor làm đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Cả giới lãnh đạo quân sự cũng được thay thế: Tướng William C. Westmoreland có nhiều thành tích đến để thay Harkins, người lúc nào cũng lạc quan và đã mất uy tín bởi những cuộc tranh giành quyền lực chính trị ở Sài Gòn.

Đồng thời, Washington cố gắng lần đầu tiên để đàm thoại với Hà Nội. Nhưng cái được gọi là Nhiệm vụ Seaborn (gọi theo J. Blair Seaborn, thành viên người Canada của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế được thành lập năm 1954) lại thể hiện ra như là một đặc trưng cho tất cả các cố gắng đi đến đàm phán tiếp theo sau đó của chính phủ Johnson: Nó là một cố gắng đe dọa giới lãnh đạo Hà Nội qua một chiến lược củ cà rốt và cây gậy. Xuất phát từ tiên đề, rằng Bắc Việt Nam chịu trách nhiệm cho thành công của MTDTGP, Washington yêu cầu chấm dứt giúp đỡ Mặt trận và công nhận nền độc lập của Nam Việt Nam. Bù vào đó, Hoa Kỳ hứa hẹn sẽ viện trợ kinh tế cho Bắc Việt Nam. Nhưng nếu như Hà Nội cứ tiếp tục đường lối hung hãn của mình thì phải dự tính với những cuộc ném bom. Phản ứng Bắc Việt Nam cũng không kém phần đặc trưng: Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói mơ hồ về việc trung lập hóa Nam Việt Nam, một giải pháp “công bằng” cho cuộc xung đột và yêu cầu Hoa kỳ rút toàn bộ quân lính. Đứng trước những yêu cầu không thể nào thống nhất với nhau được, Nhiệm vụ Seaborn đã thất bại ngay từ đầu cũng như những cố gắng tương ứng của Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant trong tháng Chín 1964.

Lần tăng viện trợ quân sự và kinh tế (cuối 1964 đã có 23.300 cố vấn ở Nam Việt Nam) vẫn còn hoàn toàn phù hợp với chính sách của Kennedy. Nhưng việc mở rộng các hoạt động bí mật chống Bắc Việt Nam và đặc biệt là các kế hoạch cho cuộc chiến tranh trên không đồng nghĩa với một thay đổi cơ bản về chiến thuật – hoạt động chống miền Bắc cần phải bù trừ cho những thất bại ở miền Nam và làm ổn định chính quyền Khánh. Các sự kiện trong Vịnh Bắc bộ đã đưa ra một cơ hội được hoan nghênh để thực hiện các kế hoạch và thể hiện cho Hà Nội thấy rõ quyết tâm của Hoa kỳ.

Vào chiều ngày 2 tháng Tám 1964, tàu phóng ngư lôi Bắc Việt tấn công khu trục hạm Mỹ “Maddox”. Chiếc tàu nằm trong vùng biển quốc tế đang thực hiện một chuyến đi thám thính để quan sát các trạm radar của Bắc Việt Nam. Giới lãnh đạo ở Hà Nội tin rằng chuyến đi của “Maddox” chỉ có thể nằm trong mối liên quan với việc Nam Việt Nam bắn phá đảo Hòn Mê nằm gần đó vào ngày hôm trước (một hoạt động của OPLAN 34-A). Washington cũng biết lý do đã khiến cho Bắc Việt Nam tiến hành cuộc tấn công này. Nhưng thay vì rút chiếc khu trục hạm ra khỏi vùng hoạt động của người Nam Việt Nam thì Washington lại tìm sự chạm trán. Johnson công khai xem vụ việc này như là một sự khiêu khích về mặt quân sự. Để nhấn mạnh tới tính hợp pháp của sự hiện diện Mỹ trên biển khơi, ông điều thêm một chiếc khu trục hạm thứ nhì tới nơi xảy ra vụ việc. Hai ngày sau đó, trong đêm 4 tháng Tám, khi “Maddox” và “Turner Joy” bất thình lình báo cáo bị địch quân tấn công và bắt đầu bắn trả quyết liệt, chính phủ quyết định tiến hành những biện pháp quân sự chống Bắc Việt Nam. Người ta cố tình bỏ qua những báo cáo sau đó của hai chiếc tàu mà theo đó thời tiết không thuận lợi hay phân tích sai lầm của các chuyên viên radar quá sốt sắng đã gợi ý có một cuộc tấn công: Vào ngày 5 tháng Tám, máy bay của Hạm đội 7 Hoa Kỳ ném bom các căn cứ hải quân và kho nhiên liệu Bắc Việt Nam

Một cuộc thảo luận kéo dài quanh các sự kiện này bây giờ đã có thể được xem như là kết thúc qua nghiên cứu mười năm của Edwin Mooises: Không có một cuộc tấn công thứ nhì của Bắc Việt Nam. Rằng chính phủ ở Washington đã không xem xét đủ cẩn thận các báo cáo được gởi về, điều này thì ông Tổng thống đã biết rõ vào ngày sau đó: “Mẹ kiếp, những tên thủy thủ đần độn đó chỉ bắn vào cá chuồn mà thôi!”[2] Chính phủ Johnson không chuẩn bị trước cho sự kiện Vịnh Bắc bộ. Nhưng vụ việc này là cớ thích hợp để phô diễn cho Hà Nội thấy quyết tâm và sức mạnh của Mỹ, và nó tạo khả năng cho Tổng thống trình ra Quốc Hội trong ngày 7 tháng Tám một nghị quyết đã được soạn thảo trước đó một tuần, cái ủy quyền cho Johnson “tiến hành mọi biện pháp cần thiết để đánh trả các cuộc tấn công và để ngăn chận những cuộc xâm lược trong tương lai”.[3] Các nghị sĩ, mà người ta đã khôn ngoan giữ kín không cho họ biết về vụ tập kích của Nam Việt Nam lên Hòn Mê, thông qua “Nghị quyết Vịnh Bắc bộ” không có phiếu chống, và trong Thượng Viện cũng chỉ có hai người phản đối. Một vài thượng nghị sĩ như J. William Fullbright, người đã tham gia mang tính quyết định vào lần thông qua nhanh chóng, hầu như không thể che dấu nỗi lo ngại của họ về cách diễn đạt mơ hồ và tính chất bao quát của nghị quyết đó. Thế nhưng Johnson bảo đảm một cách đáng tin rằng ông sẽ không lợi dụng sự tin tưởng chính trị mà Quốc Hội đã trao cho ông.

Nghị quyết này, được Johnson hoan nghênh là “cái áo ngủ của lão bà, nó che đậy tất cả”, chẳng bao lâu sau đó không chỉ là nền tảng của những gì được Quốc Hội cho phép mà còn phục vụ như là lập luận và lý giải cho đường lối chiến tranh nói chung.[4] Nó tự phát triển thành một tờ ngân phiếu trống mà hành pháp đã dùng nó để lý giải cho việc gởi hàng trăm ngàn người lính sang Việt Nam. Nicholas Katzenbach, quốc vụ khanh trong Bộ Ngoại giao, gọi nghị quyết này rất đúng là “tương ứng về chức năng của một lời tuyên bố chiến tranh”.[5]

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

———————————————————————————————————————————————

[1] McNamara gởi Johnson, 16/3/1964, trong The Pentagon Papers, do New York Times công bố, do Neil Sheean và nhiều người khác xuất bản, New York 1971, trang 277-283.

[2] Trích dẫn theo George Ball, The Past Has Another Pattern. Memoirs, New York and London 1982, trang 379.

[3] Henry Steele Commager (xuất bản), Documents of American History, New York 1973, trang 691-694.

[4] Trích dẫn theo Melvin Small, Democracy and Diplomacy. The Impact of Domestic Politics on U.S. Foreign Policy, 1789-1994, Baltimore and London 1996, trang 119.

[5] Trích dẫn xuất phát từ một phiên điều trần của Thượng Viện năm 1967, Pentagon Papers (The Senator Gravel Edition), tập 3, trang 398.

Advertisements

One thought on “Các chiến dịch bí mật và “Nghị quyết Vịnh Bắc bộ”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s