Siberia Bayern

Có điều kỳ lạ là tôi càng đi về phía nam thì tất cả lại càng an lành hơn. Và đó không phải là vùng miền nam giàu có quanh München. Vùng đất cạnh biên giới với Bohemia là một vùng đất nghèo. Đã như thế, vẫn như thế. Nhưng nó cũng giàu. Ở đây một làng là một làng, và một thành phố nhỏ là một thành phố nhỏ, không có cái đã từng là một làng và không có trích dẫn khu phố cổ. Một quán là một quán và không phải là một tiệm rượu lãng mạn cổ xưa dành cho weekend. Và một cái quán xập xệ cạnh biên giới vẫn là một cái quán xập xệ.

Cái quán mà bây giờ tôi bước vào nhìn thoạt qua cũng giống như vậy. Cái kệ thường đặt những chai rượu mạnh ở phía sau quầy rượu trống rỗng, như thể nó không phải để tiếp đãi khách và tất cả chỉ là một hậu cảnh được duy trì một cách chiếu lệ. Hay người chủ quán đã đi vắng một thời gian dài và chỉ vừa mới trở về cách đây không lâu. Khả năng này dường như hợp lý hơn đối với tôi, vì cái quán tạo đúng ấn tượng đấy. Nói chung là không sẵn sàng tiếp đón khách đến, lạnh lẽo, đã không được sử dụng từ lâu rồi.

Chính ông chủ quán, như ông ta ngồi cạnh một trong những bàn vắng khách, trước mặt là một đĩa khoai tây rán, cũng mang nét xa lạ trong chính ngôi nhà của mình.

Làng Neulosimthal, sau 1945 thuộc Séc
Làng Neulosimthal, sau 1945 thuộc Séc

Một người đàn ông khỏe mạnh, thở phì phò, ông đang dùng tay ăn khoai tây rán. Ít ra thì ông ta cũng chào hỏi, trong khi ấy có thể thấy rõ rằng người khách đến đang làm phiền ông.

            Người đàn ông trẻ hơn, ngồi cạnh ông như đứa đày tớ, còn chẳng thèm chào hỏi. Khách đối với anh ta còn khó chịu hơn cả đối với người chủ, anh ta có một cái gì đó không thành thật trên gương mặt và dáng điệu rình rập của một con cáo đang bò đến chuồng gà. Anh ta không hề ngửng nhìn lên một lần và biến mất ngay trong cơ hội đầu tiên. Nhưng mà người ta đã vui chơi trong cái quán không hiếu khách này, nằm trên một cái bàn là 3 cây đàn xếp và 1 cây kèn tuba.

            Ông chủ quán bắt đầu một cuộc chuyện trò mà sau vài câu đã biến thành một cuộc tra hỏi. Anh từ đâu đến? Ai đã chở anh đến Georgenberg? Thằng đó hả, vậy à. Anh ngủ qua đêm ở đâu trong Neustadt, ở chỗ thằng Schorsch hả? Ông ta cười. Chỗ thằng đó rẻ tiền mà, thằng Schorsch đó. Cái gì, không ở chỗ thằng Schorsch hả!? Anh trả bao nhiêu tiền phòng? Vậy hả, coi đó. Rồi ông ta muốn biết tôi có ở trong một cái quán trọ nào không, ở nơi mà tôi xuất phát để đến đây. Tôi bảo không, và ông ta gật đầu an tâm theo như tôi cảm nhận.

            Tôi hỏi ông về biên giới.

            “Ngày xưa là một cái hàng rào điện, anh mà tới đó là chết liền.”

            “Còn buôn lậu?”

            “Không có buôn lậu.”

            Ông nói câu đó với một vẻ tiếc rẻ thông thạo.

            Ngay sau cái quán trọ của ông, tôi bước qua biên giới không còn được canh gác nữa, rẽ sang phải và đi bộ dọc theo nó cho đến chiều tối. Sau một lúc lâu, tôi gặp nhiều bức tường đã đổ nát trong rừng, rồi tôi nhìn thấy cây cối ở đây trẻ như thế nào. Tôi hiểu được là mình đang đứng trên những bức tường còn lại của các căn nhà đã bị giật sập của một ngôi làng đã biến mất. Một tượng đài kỷ niệm chiến tranh trong rừng, hội độc thân của làng đã hiến tặng nó sau Đệ nhất thế chiến, hé lộ tên của nó: Neulosimthal.

            Có một hòm thư to như tổ chim treo trên cây, một dây hoa nhựa quấn xung quanh, ở trong là một tờ giấy viết tay: Người dán áp phích Hans và người dán áp phích Resi đã ở đây và gửi lời chào đến bất kỳ người nào tìm thấy tờ giấy này. Sau một đoạn dài trong rừng, thỉnh thoảng có khoảng trống, đường bắt đầu lên dốc một ít, và một hòn đá đứng ở trên đó, có gắn một tấm biển kim loại. “Các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Genscher và Dienstbier đã cắt đứt Tấm màn sắt tại đây vào ngày 23/12/1989. Cộng hòa Séc – Đức.”

            Tôi phát hiện một ngôi nhà thờ trong rừng. Người ta đã xây tường bít kín, rồi đã phá ra và lấy đi tất cả nội tạng. Vì mái nhà đã đổ sập xuống nên tất cả đã hư hỏng. Mắt của những năm 20 nhìn tôi trên nghĩa trang – ảnh của những người chết, được gắn trên thánh giá của những ngôi mộ. Những gương mặt có nhiều mạch máu nhỏ màu xanh. Đấy là những ngôi làng đã bị phá hủy của những người mà người ta đã mang qua biên giới sau chiến tranh. Tôi đi qua nhiều làng như vậy.

23 Dec 1989, Nove Domky, Czechoslovakia --- Foreign Ministers Hans-Dietrich Genscher, of West Germany, left, and Jiri Dienstbier, of Czechoslovakia, cut the fence between their nations, as a symbol of European liberation. --- Image by © Reuters/CORBIS
Genscher và Dienstbier cắt đứt bức màn sắt năm 1989

Vào buổi chiều tôi lại đi đến đường biên giới và có được sự lựa chọn giữa “Cohiba Bar”, một cái quán màu đất nung nằm quanh một cái sân trong kiểu Mexico, và “Mephisto Bar”, giữa những quầy hàng của người Ukraina và của người Việt, giữa dùi cui bằng sắt và đồ trang trí cây Giáng Sinh hay tượng người lùn đặt trong vườn. Tôi đi đến một quầy bán hàng hóa Nga và bắt chuyện với một người trong số họ bằng tiếng của anh ta:

            “Từ đâu đến?”

            “Từ Moscow.”

            “Tôi cũng thế.”

            Cười.

            “Okay, tôi đến từ Berlin.”

            “Okay, tôi đến từ Kiev.”

            “Dosvidanje[i].”

            “Tạm biệt.”

            Tôi đi cho đến chiều tối, qua đêm trong một quán trọ của làng và nhìn thấy thế giới trắng xóa vào buổi sáng của ngày hôm sau. Tuyết đã rơi rất nhiều, trời cũng lạnh hơn, nhưng tôi thích những con đường trong rừng, qua lại biên giới, tôi tiếp tục đi.

            Đất bây giờ đã đóng băng, và người ta dễ mất định hướng trong tuyết. Lúc đầu, tôi đi theo một con đường rừng rộng. Tôi sắp phải rẽ, chỉ có điều là chính xác ở đâu? Có nhiều đường đi, nhưng khi ở dưới tuyết chúng không khác gì những con đường mòn chấm dứt sau 100 m.

            Một chiếc ô tô bé nhỏ, xấu xí đang chạy lên trên con đường rừng, và khi tôi chặn nó lại, tôi nhìn thấy người lái xe là một người đàn ông bé nhỏ, xấu xí. Ông ta cũng có một trái tim bé nhỏ, xấu xí. Ông ta không trả lời câu hỏi thăm đường đi của tôi. Trước khi đạp ga và tiếp tục trượt đi, ông ta càu nhàu qua cửa kính ô tô: “Ông có bản đồ chứ? Cứ nhìn vào bản đồ thì biết liền đấy mà.”

            Tôi lạc đường, bước vào trong tuyết dầy, khó nhọc quay trở lại, tiếp tục đi trong rừng đầy tuyết, rồi lên dốc qua đồng trống, gió lạnh thổi vào mặt tôi, tôi đã đi vòng qua ngọn núi có tên Eulenberg được một nửa, rồi lại quay lại, vì tôi nghĩ rằng đi lên núi có lẽ tốt hơn, leo lên núi rồi lại đi xuống ở phía bên kia và sau một đoạn ngắn thì đến được cái thôn cạnh biên giới mà tôi đã tìm nó. Một vài ngôi nhà gỗ nằm quạnh hiu, nhà kho, chó sủa, không một bóng người. Người ta nói với tôi rằng ở trên đấy có cái quán kỳ lạ nhất trong vùng, nhưng phải chuẩn bị trước vì quán không được sưởi ấm, lò sưởi không hoạt động và bà chủ quán đã già lắm rồi, bà sống ở đó một mình, tôi chỉ cần gõ cửa rồi bà sẽ mở cho tôi vào.

            Tôi gõ cửa, và trong một cửa sổ của tầng trên xuất hiện gương mặt của một người đàn bà già nua đội khăn trùm đầu. Bà sẽ xuống ngay, bà gọi to, tôi cứ vào đi, cửa mở.

            “Con chó không làm gì đâu.”

            Nó cũng không làm gì thật. Nó chỉ nằm dài trên hành lang, đưa chân trước ra cho tôi và sủa. Rồi bà chủ quán xuất hiện trong chiếc quần đàn ông màu xanh đậm được là thẳng nếp, bà khoác chồng lên một cái áo choàng của phụ nữ ở thôn quê có vạch xanh trắng, chồng lên một cái áo len dầy và chồng lên một cái áo gi lê lông thú dầy, hơi rộng cho bà tuy là đã có cái áo len. Bà chăm chú nhìn tôi. Tôi nhận thấy bà ngần ngại, và nói vài lời thân thiện để xóa tan nghi ngại của bà. Điều đó không khó đối với tôi. Bà có một gương mặt trong sáng và đôi mắt xanh thẳm, và mặc dù bà đã già và sống một mình, xa cách con người, tôi không thể tưởng tượng được rằng bà sống buông thả. Tôi cũng thích quán của bà ngay lập tức, nó đơn giản như có thể đơn giản được. Bàn gỗ cũ bóng láng, sàn nhà bóng láng, gỗ ốp tường cao xung quanh. Một cái ống lò sưởi chạy ngang qua gian phòng như một dòng suy nghĩ bằng bạc. Tôi ngồi xuống, và sau khi nấu cho tôi thức uống nóng bà cũng ngồi xuống, trên chiếc ghế của bà chủ ở rìa của cái quán, và nói :”Vâng, chồng chết rồi.”

            Bà không nói “Mann[ii]“, bà bỏ âm “n” và kéo dài “a” được làm câm tối thành “o”: “Vâng, chồng chết rồi.” Và đứa con gái cũng đã đi rồi, đi lấy chồng ở nơi khác. Nhưng sau đó thì tôi mới biết là cô ấy sống cách đây chỉ vài kilômét, trong một làng lân cận, nhưng nghe có vẻ như cô ấy đã bỏ trốn qua bên kia đại dương.

            “Chỉ còn con Susi ở lại đây thôi.”

            Đó là con chó. Tôi hỏi bà bao nhiêu tuổi, và ngạc nhiên khi bà nói: “Tám mươi.”

            Bà thấy tôi nhìn bức ảnh ở trên tường chỗ tôi ngồi.

            “Hai người ngồi đúng chỗ này, đúng chỗ ông đang ngồi bây giờ.”

            Hai người ở phía trên chỗ tôi ngồi, đó là Franz Josef Strauß[iii] và vợ của ông trong những sắc màu đỏ của ảnh những năm 70. Tôi còn nghe bà chủ quán nói, đây là một vùng đất bị lãng quên, vùng đất ở phía sau tuyết, Siberia của Bayern, nhưng ở đấy vẫn còn cái gì đó treo trên tường, tôi chưa từng đọc được một cái gì tuyệt vời như vậy.

            Trong vùng Bohemia ở bên kia, ngay sau biên giới, đã từng có một ngôi làng mà bây giờ không còn nữa, và bên cạnh tấm bản đồ của ngôi làng ma này có danh sách tên của những bóng ma đã từng cư ngụ trong làng – tên hiệu đứng trong ngoặc sau mỗi tên chính thức. Mỗi người đều có một tên hiệu, và chúng nghe có vẻ như thiên thần bảo hộ ngôi làng đã hút hết cả một ống điếu Afganistan và đã nghĩ ra tất cả chúng, tên này tuyệt vời hơn tên khác. Michl lông mày. Jakl thợ dệt. Nhóc tì Phục Sinh và Resl ô dù. Báp tít chòi và Girgl nhà thợ mộc. Nhóc tì Nga. Peppi cứt sắt, Seppl Đức, Michl chơi và Girgl cây sồi. Girgl ốc vặn. Michl ván che. Nông dân hoàng đế và Báp tít ngọt.

            Còn một bức ảnh treo trên tường. Bà chủ quán hất đầu về hướng đó.

            “Đã 50 năm rồi. Chồng tôi đấy.” Bà mỉm cười. “Ông ấy là một người đàn ông đẹp có phải không? Đó là trong thời khó khăn.” Ngưng một ít rồi bà nói: “Chúng tôi đã đi từ thời khó khăn sang thời tốt lành. Tôi nói với cháu tôi, các cháu đi từ thời tốt lành sang thời khó khăn.”

            Tôi bước ra ngoài đi vào trong tuyết đang che phủ mọi vật và đi xuống đồng bằng ở phía dưới, và thỉnh thoảng tuyết lại xoáy lên và chuyển động trước tôi như những cây cột bằng khói trắng.

Vào chiều tối, cách đó vài làng, tôi biết được lời giải đáp cho câu đố của cái quán xập xệ cạnh biên giới, của cái kệ trống rỗng, của những nhạc cụ nằm quanh, của người chủ quán không mến khách. Một ông chủ quán khác kể cho tôi nghe rằng ông ấy vừa mới ra tù cách đây vài ngày và đã ăn mừng nhân dịp này. Có nhạc sĩ.

            “Sao ông ta lại ngồi tù?”

            “Dính dáng với gái Séc, biên giới ở ngay bên cạnh mà. Nhưng tôi không biết chính xác, tôi không nói gì hết, tôi không muốn đổ tội cho ông ta bất cứ điều gì hết.”

            Sau đấy một vài làng tôi hỏi thăm thêm lần nữa, lần này là ở một bà chủ quán. Bà hỏi với vẻ rất thông cảm: “À, ông ấy về rồi à. Rồi sao – ông ấy có đặng không?”

            Bà dùng từ theo ngữ cổ. Ông ấy có vui vẻ, khỏe mạnh, ông ấy có khỏe không?

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

—————————————————————————————————————————————————-

[i] Tiếng Nga: Tạm biệt.

[ii] Tiếng Đức: chồng.

[iii] Franz Josef Strauß (1915-1988) Bộ trưởng Cộng hòa Liên bang Đức (1953-1962, 1966-1969), thủ hiến bang Bayern (1978-1988).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s