Số 5 – 7 đại lộ Tưởng nhớ

Tôi đến Neustadt an der Waldnaab và hỏi mướn phòng trong một quán có tên là “Cây sồi Đức”. Mấy người đàn ông đang ngồi cạnh cái bàn dành riêng cho họ ngưng câu chuyện đang bàn tán sôi nổi khi tôi vừa bước vào, nhìn tôi một thoáng, rồi họ lại tiếp tục câu chuyện của họ và không màng đến tôi nữa. Họ đang nói chuyện gì trong tiếng địa phương vùng Franken của họ và họ đang cười về cái gì thì tôi chẳng hiểu đến một từ.

            Trong hành lang của nhà trọ mà họ chỉ tôi đến có treo bức chân dung của một người lính Đức trẻ tuổi, chân dung vẽ rất thật. Đầu trần, cổ áo mở, ánh mắt cởi mở, nghiêm trang. Tương phản giữa màu xanh xám tươi sáng của bộ quân phục và mái tóc dầy sậm màu. Đó không phải là lần đầu tiên tôi nhìn vào một gương mặt của những năm 40 và có cảm giác một người ở đây và hôm nay đang nhìn tôi.

Neustadt an der Waldnaab
Neustadt an der Waldnaab

            Tôi hỏi bà chủ quán trọ về bức chân dung. Vâng, người nhà. Một đồng đội đã vẽ ông ấy sau chiến tranh, ông đã từ Nga trở về, nhưng với vết thương trong phổi thì ông ấy không bao giờ hồi phục lại được nữa. Qua đời năm 54 tuổi, vâng. Tôi không hỏi thêm nữa, tôi sẽ từng ấy tuổi vào sinh nhật tới đây.

            Vào lúc sáng sớm tôi đi xe buýt đến trại tập trung Flossenbürg, địa chỉ số 5 – 7 đại lộ Tưởng nhớ. Có thể cảm nhận rõ là nơi này nằm trên cao hơn, gió thổi lạnh buốt, tuyết có hạt nhỏ và cứng quất vào mặt tôi.

            Nhà tiếp đón của trại là một tòa nhà hành chính vững chắc trong phong cách của những năm 30. Không còn có hình nổi đắp vữa như những công trình xây dựng cuối thế kỷ 19 với mặt tiền giống như biệt thự của chúng, cũng không sáng sủa và rộng rãi như phong cách mới sau Đệ nhất thế chiến, và nhất là không Mỹ. Các công trình xây dựng của Đế chế thứ ba không chọc thủng bầu trời, ngay các công trình đồ sộ cũng không. Chúng đi theo chiều ngang, vào không gian, và chúng thường che dấu tính mạnh mẽ và kỹ thuật tinh vi nửa ở dưới đất. Prora[1] trên đảo Rügen. Sân bay Tempelhof ở Berlin. Bộ Hàng không của Göring với bãi đỗ xe ngầm đầu tiên trên thế giới.

            Các tòa nhà khác biệt với những tòa nhà thời hoàng đế Đức như giới tinh hoa trẻ, theo thuyết hư vô của Đức Quốc Xã, khác với những học viên sĩ quan trung thành của Wilhelm[2]. Lạng lùng hơn. Cứng rắn hơn. Trống rỗng hơn. Hàng chào danh dự, đứng xếp hàng trong đá thiên nhiên. Hiện đại, màu xanh xám[3]. Chủ thuyết tiên phong của những người đàn ông trẻ này và những ngôi nhà của họ dựa hoàn toàn vào kỹ thuật, và nhìn về mặt kỹ thuật thì chúng hiện đại. Gương mẫu bí mật cho những tòa nhà chung cư thời cuối thế kỷ 19 là cái lâu đài phô trương. Gương mẫu hoàn toàn không bí mật cho các công trình xây dựng phô trương thời Quốc xã là những doanh trại và công sự. Ở bên trong là tính thực tế nặng nề. Ở đây cũng vậy. Lớp bọc ngoài của lò sưởi đập vào mắt tôi, được làm tốt, ấm cúng, bằng gỗ sẫm màu.

            Bây giờ các văn phòng làm việc của khu tưởng niệm được đặt trong tòa nhà này. Nếu như phong cách Quốc xã là một đoạn tuyệt với nước Đức trước đấy thì rạn nứt giữa hiện tại Đức với tất cả thời gian trước đó cũng to không kém. Trong khi đó thì nó chẳng có gì là đặc biệt cả. Chỉ có điều là phong cách Đức mới, thoải mái, có khuynh hướng xưng hô thân mật và mang áo sơ mi dành cho thời gian rảnh rỗi đã dọn vào trong ngôi nhà đầu của trại tập trung Flossenbürg. Các nhân viên, tất cả đều trẻ, đã mang nó theo cùng từ những viện lịch sử. Có cây trong văn phòng, tách văn phòng và chuyện tếu lâm văn phòng trên tường. Không thể lúc nào cũng nghĩ đến trại tập trung, ngay khi người ta có văn phòng trong một trại tập trung. Ngay cả khi cái văn phòng đó là một văn phòng tưởng niệm. Một phong cách chỉ cố gắng để total recall, tưởng nhớ toàn bộ, phải như thế nào thì tôi không thể và cũng không muốn tưởng tượng ra.

Nhưng trại tập trung là cái gì? Nó là một nơi của tự do. Tự do phạm tội tuyệt đối, không có công ước, không có tôn trọng đạo đức kìm hãm. Tự do lựa chọn vật thể. Tự do lựa chọn phương pháp. Tự do sáng sủa cho cái thường thở hổn hển và co giật trong bóng tối. Tự do của bàn tay ở cò súng, ở dây treo, tự do của bàn tay ở điếu thuốc lá, rượu và trong nhà thổ của trại. Một trại tập trung là một nơi bảo tồn ma quỷ. Không phải là có ma quỷ thật, là cái ghê gớm, lúc nào cũng có nó. Ghê gớm là “Lãnh tụ”[4] đã cho chúng một nơi chốn tự do.

            Ma quỷ có ở trong hồ sơ lưu trữ. Trong những bản sao tồi tàn, thỉnh thoảng gần như không thể đọc được của những tờ giấy ghi chép chi chít, trong từng câu và từng cảnh tượng và từng tên họ đã được những người thẩm vấn của phe Đồng Minh gõ vào máy đánh chữ của họ ở Neaples trong tháng 5 năm 1945. Ngồi đối diện với họ là những tù nhân từ Flossenbürg đã được giải thoát.

            Con quỷ của Flossenbürg – chỉ một trong số đó, nhưng chính là con quỷ mà không một người còn sống sót nào lại có thể quên được – là một Karl Weihe từ vùng gần Magdeburg. Do tù nhân gần như không bao giờ gọi tên của hắn, nên chỉ như vầy: Weihe, tên đao phủ của Flossenbürg.

            Một vài người, biết đến hắn ở đó, có mơ cũng không thấy được điều đấy một năm trước. Vì Flossenbürg có một bí mật: Có nhiều tù nhân đặc biệt đã bị giam giữ trong ngôi nhà quản thúc, một nhà tù riêng rẽ, một nhóm chọn lọc bao gồm nhiều nhân vật nổi tiếng của Đức và châu Âu. Lãnh đạo và bộ trưởng của nhiều chính phủ châu Âu. Người của nhà thờ. Tình báo Đan Mạch. Tướng lĩnh Đức và Hungary. Quý tộc. Người kế vị ngai vàng Bayern Hoàng tử nối ngôi Franz của Bayern, Hoàng tử Philipp của Hessen, Hoàng tử Friedrich Leopold của Phổ. Nhưng sân trong của ngôi nhà quản thúc họ – phần ở phía sau có mái che của nó – là nơi chốn tự do của Weihe vào mỗi buổi sáng. Hắn bắn vào gáy ở đây, móc được treo ở đây, móc có treo dây mà hắn đặt quanh cổ của người bị hắn ra lệnh.

            Tướng Georg Thomas đã bày tỏ nỗi nghi ngại về chiến dịch xâm lược Nga, về “Chiến dịch Barbarossa” của Hitler. Người cựu lãnh đạo của sở quân trang và kinh tế quân đội trong Bộ tổng chỉ huy quân đội cho rằng sẽ rất khó có thể thành công trong việc về mặt quân sự là một điều bắt buộc nhưng đã thất bại trong những lần xâm lược nước Nga trước đây: Cung cấp lương thực cho đạo quân khổng lồ từ đất nước bị chiếm đóng. Quan hệ với những người đồng mưu quanh Graf von Stauffenberg[5] đã trở thành tai họa cho vị tướng lúc đó đã về hưu. Ông lại tìm thấy mình trong thế giới dưới hầm của Gestapo[6] trong dinh Hoàng tử Albrecht ở Berlin.

            Vào ngày 7 tháng 2 năm 1945, sau khi trụ sở chính của Gestapo bị hư hại nặng trong một lần không kích, ông được mang ra khỏi đó và được đẩy lên một chiếc xe buýt cùng với những người mưu đảo chính khác. Đô đốc Wilhelm Canaris, sếp tình báo quân đội Đức ngồi ở trong đó. Và người cộng sự và người bạn và người đồng mưu lâu nay thúc dục hành động tướng Hans Oster. Đại úy Theodor Strünck, cũng thuộc tình báo quân đội. Đại tướng Franz Halder, cho đến năm 1942 là sếp của Bộ tổng tham mưu Lục quân. Karl Sack, chánh án và sếp của tòa án lục quân. Hjalmar Schacht, cựu thống đốc Ngân hàng Đế chế.

            Rồi còn có một nguyên thủ quốc gia cũng ngồi ở trong đó. Thủ tướng Áo Kurt von Schuschnigg theo khuynh hướng quân chủ đã bị Đức Quốc xã bắt giam sau khi hành quân xâm nhập. Vera vợ của ông, sinh ra là nữ bá tước Czernin-Gugger, cũng ở bên cạnh ông, bà tình nguyện đi cùng ông qua các trại tập trung đã nhiều năm. Và một đứa bé 3 tuổi cũng ở trong xe buýt, Maria Dolores, con gái của vợ chồng Schuschnigg, được cha mẹ gọi là “Cissy”. Cô bé không hề biết gì khác. Cô bé ra đời trong một trại tập trung.

            Chuyến đi bắt đầu từ Berlin-Mitte về hướng tây, đi ngang qua căn hộ của tướng Oster trong Wilmersdorf và của tướng Thomas trong khu Grunewald quý phái, và chấm dứt sau 14 giờ tại trại tập trung Flossenbürg trước một ngôi nhà dài với 40 phòng giam, nhà quản thúc của trại tập trung. Vào lúc đầu, Tướng Thomas bị biệt giam và chỉ sau một thời gian mới hiểu được những gì đã xảy ra hằng ngày trên sân trước phòng giam của ông.

            “Đó là một trại hủy diệt thuộc loại ghê tởm nhất”, ông viết lại sau này trong hồi ký, “hằng ngày, ngay trước phòng giam của chúng tôi, nhiều đàn ông và phụ nữ phải tự lột trần truồng ra để rồi bị bắn chết hay bị treo cổ và xác chết được khuân ngang qua trước mắt của chúng tôi để mang đi thiêu. Sau công việc vào buổi sáng của chúng, những kẻ giết người này, đồng thời cũng là những người canh tù của chúng tôi, ngồi uống cà phê và uống cà phê buổi sáng của chúng một cách vui vẻ.”

            Sân của Weihe. Đã có một vài người canh tù, vị tướng ghi chú, phải cố chịu đựng việc này, nhưng họ quá yếu đuối để có thể chống lại công việc giết người của họ. Weihe không thuộc trong số những người yếu đuối. Ngược lại, hắn rất thích treo cổ và thích nhìn thân thể trần truồng trong lúc đó. Khi tòa án quân sự dã chiến của SS ở trại tập trung nhóm họp và xét xử xong, và nó nhóm họp không ngừng nghỉ, hắn chuẩn bị làm việc.

            Có lần hắn đã khoe khoang với một lính SS rằng hắn đã bắn vào gáy liên tiếp nhau nhiều đến mức nòng súng nóng bỏng lên – hắn đã phải thay súng. Trong khi đấy, bắn vào gáy hoàn toàn không phải là “chuyên môn” của hắn. Weihe chính là đao phủ, kẻ tích cực nhất trong trại, và hắn đã đi xa hơn những gì mà hắn phải làm rất nhiều.

            Hắn thưởng thức việc đó. Hắn biến việc đó thành một sự kiện. Hắn có thể giết chết nạn nhân của hắn lạnh lùng như một bác sĩ. Nhưng hắn lại thưởng thức việc đó, làm mất nhân phẩm của họ, hạ nhục họ ngay cả trong cái chết. Hắn sử dụng họ. Như Armand Mottet, một người Pháp của Résistance[7], đã giải thích cho những người thẩm vấn ở Neaples: “Đầu tiên, nạn nhân được dẫn đến phòng tắm, ở đó hạ sĩ quan Weihe hạ lệnh cho họ phải cởi bỏ y phục ra. Rồi hắn trói tay họ ra phía sau lưng bằng một đoạn dây, giật bỏ tất cả nhẫn và tất cả dấu hiệu đạo giáo mà họ mang trên người, xé nát ảnh gia đình của họ trước mặt họ và cuối cùng dẫn họ đi xử tử. Weihe tự tay mình treo cổ họ.”

            Mỗi ngày Weihe treo cổ ít nhất là một chục nạn nhân, thỉnh thoảng còn nhiều hơn. Vào ngày 8 tháng 1 năm 1945 hắn treo cổ 3 người phụ nữ của tổ chức kháng chiến Ba Lan, một người trong số đó đang mang thai đến tháng thứ 8. Vào ngày 11 tháng 1, 3 ngày sau đó, hắn treo cổ 2 bé gái người Ba Lan, 12 và 13 tuổi, và vì họ quá nhẹ cân nên hắn đu lên chân của hai em và giật cho đến khi đủ mới thôi.

Ông Weihe nhỏ người từ Wormsdorf gần Eisleben trong Magdeburger Börde, 53 tuổi, cao chưa đến 1 m70, vai khỏe, lưng cong, tuýp người miền quê. Không thông minh, những người tù nhân có học thức của hắn nói. Khó có thể tưởng tượng được rằng hắn đã không thưởng thức thêm việc nhiều quý ông và quý bà cao sang bây giờ lại nằm trong quyền hạn của hắn. Vào chủ nhật, theo như lời thuật lại, Weihe thư giãn trong nhà thổ của trại.

Cũng theo nhà ngoại giao Mogensen, Weihe đã đóng vai trò chủ chốt. Là phó lãnh sự Đan Mạch tại Danzig, Mogensen đã tham dự nhiều hoạt động phá hoại của một tổ kháng chiến Ba Lan, bị lộ và bị bắt giam tại Flossenbürg, trước khi ông cùng với những tù nhân đặc biệt khác về Dachau[8]. Trong bộ ma quỷ học nhỏ của ông về những đội canh gác, ông xếp Weihe vào loại người ác dâm. “Có một lần tôi ở trong sân sau một loạt vụ xử tử hình và đi ngang qua phòng canh gác, qua cánh cửa đang mở hé tôi nhìn thấy Weihe đang nhảy tưng tưng và thủ dâm.”

Tự do lựa chọn vật thể, tự do lựa chọn phương pháp.

Vào đêm Giáng Sinh, Mogensen nhận được một gói quà nhỏ từ vợ ông. Một cái bánh nhỏ, được làm từ quả cây sồi đỏ đã được lột vỏ và một ít bột mì, có một cành thông nằm cạnh bên. “Tôi ăn cái bánh trước rồi đến cành thông sau.” Lúc đó người ta đã dựng cây Giáng Sinh lớn ở bên ngoài, để cho tất cả mọi người đều nhìn thấy. “Nó được trang hoàng bằng một cái giá treo cổ và 2 người tù bị treo trên đó. Họ đội túi giấy lớn có màu sặc sỡ ở trên đầu. Vào buổi tối, dàn nhạc tù nhân chơi những bài hát Giáng Sinh. Trên quảng trường giữa nhà tù và nhà thổ họ cất tiếng hát ‘Hãy vui mừng, hãy vui mừng, thế giới Kitô giáo’. Đó là đêm Giáng Sinh điên rồ và đáng sợ nhất trong cuộc đời tôi.”

Điên rồ và báng bổ cho tất cả, đó là quà tặng của ngày 24 tháng 12 năm 1944. Đó là Giáng Sinh ma quỷ cuối cùng của Flossenbürg.

Trước chiến tranh, trại này là một nơi xa mặt trận và nằm ở vị trí trung tâm, hẻo lánh như dễ đến. Giết người hằng ngày và thái quá đã có thể bộc lộ một cách tự do và không bị quấy nhiễu ở đây, mỏ đá granite trong vùng là cơ hội để cưỡng bức lao động có quy mô lớn. Giờ đây, trong tháng 4 năm 1945, khi mặt trận ngày càng nhích đến gần, Flossenbürg cũng không còn có thể giữ được nữa. Nó được sơ tán.

            Con số tù nhân đã tăng lên gấp nhiều lần trong thời gian cuối, từ 4000 lên đến 15.000. Người Do Thái từ Ba Lan và Hungary, sau khi các trại hủy diệt ở phía đông được giải phóng. Những người bị đàn áp, vì chính trị hay những việc khác. Tất cả những người lọt vào tay của chế độ trong những lần đi xâm chiếm. Bây giờ họ, những người vừa mới bị mang đến đây từ những trại khác, lại bị đẩy đi về hướng nam, đến Dachau, phải đi bộ mà rất nhiều người đã chết trên đường đi. Họ bị bắt buộc phải đi thành nhiều đoàn, mỗi đoàn hằng ngàn người – ngang qua những đại lộ và làng mạc của vùng Bayern. Nhiều người đã nằm lại hay đã bị bắn chết. Sau chiến tranh người ta tìm thấy trên 5000 người chết trên các tuyến đường của những chuyến đi bộ man rợ này.

            Lực lượng SS cũng đã nghĩ ra một vai trò đặc biệt cho các tù nhân đặc biệt của họ trong giai đoạn kết thúc: Họ cần phải đóng vai trò con tin cho những cuộc thương lượng hão huyền của Himmler[9] với quân đội Đồng Minh. Vua Bỉ Leopold III, tướng lĩnh Pháp, dòng họ Wittelsbach – tất cả những gì có thể có giá trị đều được gom chung lại với nhau. Một hệ thống riêng bao gồm nhiều trại giam đặc biệt dành cho những người nổi tiếng đã thành hình trong nhiều lâu đài và khách sạn, không chỉ trong vùng Tirol mà còn ở trong Sudetenland, trong Sachsen và miền nam Đức. Con tin trong những trại tập trung và trại quân đội bị đưa lên xe và mang đi. Người ta muốn mang họ về thành trì trú ẩn cuối cùng, được gọi là Pháo đài Alps. Quần đảo Himmler, đã trải rộng khắp cả châu Âu, bây giờ lui về miền nam, trên núi, như trong cơn co giật cuối cùng.

            Nhưng ý tưởng Pháo đài Alps đã chết trước khi nó bắt đầu có hình dạng, mà cái tốt là nhờ vào phản bội. Kẻ lãnh đạo SS tối cao ở Ý, tướng Karl Wolff của Waffen-SS[10], đã bí mật thương lượng với quân đội Đồng Minh từ lâu, hắn đầu hàng và giao ra sườn phía nam của cái pháo đài ma.

            Vào ngày 9 tháng 4, các con tin trong Flossenbürg bị đưa lên xe tải và mang về phía nam. Hoàng tử của Hessen đã ngất xỉu trong chuyến đi; trên người của phó lãnh sự Mogensen là người đồng xứ Hans Lunding, một sĩ quan tình báo Đan Mạch. Do phòng giam của ông nằm kế cận phòng giam của Canaris, Lunding cũng vừa mới là nhân chứng cho những ngày cuối cùng của vị đô đốc.

            Từ khi hai người biết rằng họ nằm cạnh nhau, Canaris và Lunding đã dùng tín hiệu Morse để liên lạc. Trong những đêm cuối cùng họ đã nói, nói, gõ, gõ. Cuối ngày 8 tháng 4, Canaris trở về từ tòa án dã chiến. Những người hành hạ ông đã biết rõ tất cả, mặc dù vậy ông vẫn đấu tranh với họ cho đến cuối cùng. Vâng, ông đã tham gia âm mưu đảo chính, nhưng chỉ để phá hỏng nó vào giây phút cuối cùng, đó chính là nhiệm vụ của ông, sếp của tình báo quân đội.

            Chỉ đến khi họ mang người bạn của ông ra để đối chất, tướng Oster, người đã khai báo tất cả, ông mới chịu đầu hàng. Đã có một cuộc đối thoại gay gắt cuối cùng giữa hai người.

            “Hãy để tôi giải thích, tôi chỉ giả vờ làm như thế thôi!” – “Không, không đúng. Tôi không thể khai những gì khác hơn những điều tôi biết. Tôi không phải là một tên vô lại.”

            Trong đêm đó, Lunding nghe Canaris được mang trở về phòng giam. Cánh cửa, ổ khóa, tiếng loảng xoảng của dây xích chân. Ông chờ cho đến khi im lặng rồi ông gõ. Mãi một lúc lâu sau đó ông mới nhận được trả lời. Và những gì ông dịch lại từ tiếng gõ ở phía bên kia của bức tường là một tờ di chúc.

            “Thời gian của tôi đã hết.

              Không phải là kẻ phản bội tổ quốc.

              Đã thi hành nhiệm vụ như một người Đức.

              Nếu ông sống sót, xin ông chuyển lời thăm đến vợ tôi.”

            Rồi hình ảnh cuối cùng. Lunding được đánh thức dậy bởi những tiếng động quá quen thuộc ở bên ngoài trên lối đi vào buổi sáng sớm. Bước chân. Mệnh lệnh. Leng keng. Còn chưa đến 6 giờ. Ông đứng dậy và nhìn qua một kẻ hở trên cửa. Một thân thể trắng, trần truồng, gần như chỉ là đường nét của một thân thể – và đi mất, đi qua. Đô đốc Canaris trên đường đi tử hình.

            Tất cả những việc đó theo đuổi ông trên chuyến đi đêm trong chiếc xe tải nhét đầy người. Rồi buổi sáng đến và những người trên xe nhận ra phong cảnh và đoán được sẽ đi đến đâu: Dachau. Ở đó, nhiều hình ảnh mới ập đến. Những cảnh dã man cực cùng. Ở Dachau, năng suất giết người giờ đây không còn được thông báo bằng con số của xác chết nữa, mà được đo bằng con số xe cút kít chở tro ra từ lò thiêu. Người ta cho là 2 tá xe cút kít trong những ngày cuối cùng này.

            Ngay giữa sự man rợ cũng có những khoảng khắc kỳ lạ. Khi người ta đứng xếp hàng cùng với một hoàng tử Đức ở trước nơi tiểu tiện thì phải cố gắng không nhìn chằm chằm vào vị tướng nổi tiếng, mang đầy đủ quân phục, trên cổ là cái huy chương Đức “Pour le Mérite[11]” cao quý nhất, đang ngồi đại tiện cùng với những tù nhân khác.

            Dachau là điểm tập họp của nhóm con tin cuối cùng. Tù nhân đặc biệt từ nhiều trại khác nhau về đây, không chỉ từ Flossenbürg. Thành viên nhóm mưu đảo chính của ngày 20 tháng 7, gia đình của Graf von Stauffenberg và những người khác. Và Hoàng tử của Bourbon-Parma, người đã là tù nhân bình thường của Dachau trước đó một thời gian khá lâu, giờ đây cũng được dẫn sang nhà thổ của trại tập trung mới được vội vàng dọn trống, đến với những người nổi tiếng khác. Cũng như Hoàng tử Leopold của Phổ, người được tù nhân Dachau rất quý mến. Họ bắt tay để từ giã, một hàng chào bắt tay danh dự.

            Thời gian thúc giục. Mặt trận giờ đây cũng nhích đến gần Dachau một cách đầy nguy hiểm. Chỉ sau 2 tuần, cả nhóm lại được chất lên xe buýt và xe tải, vào ngày 24 tháng 4 được mang đi trong đêm về hướng Innsbruck và nhốt trong một trại trung chuyển ở gần thành phố. Các tù nhân không thể không nhìn thấy rằng những người canh giữ họ ngày càng bồn chồn hơn. Những người đàn ông, trong số đó có không ít người đã từng chiến đấu trong chiến tranh và là sĩ quan chuyên nghiệp, đang chờ đợi khoảng khắc họ có thể tự quyết định lấy số phận của họ. Cuối cùng thì người ta phải dự tính cho tất cả mọi việc có thể xảy ra. Trên chuyến đi qua quần đảo Himmler, họ đã nhìn thấy các nhà máy giết người lại tăng “sản xuất” của chúng lên thêm một lần nữa, ở thời điểm bắt đầu đi đến kết thúc. Cũng đã có những vụ tử hình bởi những kẻ cuồng tín tuyệt vọng trong phút cuối cùng.

            Tướng Thomas nhận thấy những người canh giữ giống như rắn mất đầu. “Do chúng tôi không có vũ khí và nhóm áp giải của chúng tôi thì lại được trang bị vũ khí đầy đủ, nên chúng tôi phải tạm thời gác lại ý tưởng dùng vũ lực để giải thoát.” Nhưng có một rạn nứt đi xuyên qua đội canh gác, và cái đó làm cho ông hy vọng. “Các nhân tố tử tế giúp đỡ chúng tôi bằng mọi cách, các nhân tố xấu ngày càng cứng rắn hơn trong mối bất an của chúng.”

            Các nhân tố xấu, đó là một nhóm người của SD[12] trông có vẻ lụn bại, được trang bị vũ khí đến tận răng có chỉ huy riêng, đã tăng cường cho nhóm canh gác trong thời gian vừa qua. Các tù nhân lo ngại đây chính là những đao phủ của họ. Và thật sự là trong lúc say sưa, một vài người thuộc SD đã bộc lộ lời đe dọa rằng họ ở đây để bắn chết ít nhất là một phần của nhóm con tin nổi tiếng.

            Sau 2 ngày, nhóm người lại được đưa lên xe. Tiếp tục đi, lên đèo Brenner về hướng Pustertal. Vào lúc giữa đêm, đoàn vận tải phải dừng lại nhiều giờ vì quân đội Đức Quốc xã chặn đường. Một hình ảnh quân đội hỗn loạn xuất hiện, đồng thời người ta cũng biết được điểm đến của đoàn xe tải – khách sạn nghỉ mát thơ mộng “Pragser Wildsee”. Trung úy SS Stiller lãnh đạo nhóm con tin đã thương lượng được việc đó. Các con tin mô tả ông ta trong hồi ký của họ như một người cố gắng tạo hoàn cảnh tử tế.

            Nhưng hóa ra một bộ tham mưu quân đội đã đóng quân trong khách sạn. Tiếp theo sau đó là giằng co giữa Stiller và các cơ sở quân đội. Vào sáng ngày 28 tháng 4, một ngày thứ bảy mưa mù âm u, nhóm người đi đến Niederdorf trong vùng Nam Tirol. Stiller cho dừng lại ở đấy, cách làng không xa. Không một ai, kể cả ông ta, biết được sẽ tiếp tục như thế nào. Mệt mỏi, đói, thiếu ngủ, run lập cập vì lạnh, các con tin đứng ngồi cạnh đường. Nhưng không phải tất cả. Bộc lộ việc đội cai quản đã không còn có khả năng canh giữ được toàn bộ tù nhân. “Đội canh giữ chúng tôi”, tướng Thomas nhận định, “ngày càng bối rối hơn, chúng tôi càng can đảm hơn.” Vào buổi tối có quyết định: tất cả đi vào làng. Vào nhà, trên nệm rơm, trên giường ngủ đàng hoàng.

            Sau một đêm giữa phấn chấn, đau khóc, giấc ngủ nặng nề, ngắn ngủi và sợ hãi, nhiều sự kiện xảy ra dồn dập vào ngày chủ nhật. Thêm vững tâm qua sự tiếp đón nồng hậu mà họ nhận được từ người dân Nam Tirol – đặc biệt là khi biết được có cả thủ tướng Schuschnigg trong số họ – các tù nhân họp lại sau buổi lễ nhà thờ mà Stiller đã cho phép họ và lập một ủy ban. Chính người trung úy SS cũng chỉ nói như một trong số những người phát biểu. Ai đã từng trải qua trại tập trung và nhìn thấy cảnh này thì không còn có thể nghi ngờ gì được nữa: Đã đến lúc sắp chấm dứt.

            Người hùng trong ngày là 2 sĩ quan, một từ trại tập trung và một từ quân đội: Bogislav von Bonin và Wichard von Alvensleben. Đại tá von Bonin tự đi tìm một điện thoại và bí mật gọi điện cho bộ tham mưu của Đại tướng Vietinghoff, tổng chỉ huy mặt trận tây-nam, đang đóng quân ở gần đó. Quả thật là ông đã tìm thấy một trạm thông tin quân đội, và sau nhiều cố gắng ông cũng đạt được điều không thể tin được. Ông, tù nhân của trại tập trung, liên lạc được với bộ tham mưu của Vietinghoff và xin vị đại tướng giải phóng cho họ. Rất cấp bách, không thể lường trước SS và SD được.

            Tướng Thomas cũng không để cho ai cấm đoán mình điều gì nữa và đã đi vào làng. “Khi tôi vừa đến đầu làng thì bạn của tôi, tướng Höpfner, bất thình lình đứng trước mặt và ôm choàng lấy tôi.” Đó là tín hiệu cho các tù nhân ngoại quốc, rằng những người canh giữ họ chẳng còn quyền hạn gì nữa và những người đồng cam chịu với họ, các sĩ quan Đức, đã liên lạc được với quân đội Đức.

            Cuộc gọi điện của Bonis thành công. Alvensleben, chỉ huy tổng hành dinh của Vietingshoff và là sĩ quan từ một gia đình Phổ nổi tiếng, nhận nhiệm vụ giải phóng. Ông đi vào chiều tối ngày chủ nhật, đến Niederdorf vào lúc nửa đêm, gặp Stiller trên đường phố, tra hỏi ông ta và biết được rằng những người lính SS của ông ấy và nhóm SD, tổng cộng 86 người, đang canh giữ trên 180 con tin trong làng. Rồi Alvensleben tức tốc quay trở về, lại đến vào sáng ngày thứ hai và giải thích cho một chỉ huy SS khác rằng kể từ giờ phút này các tù nhân đứng dưới sự bảo vệ của quân đội: Hắn phải sẵn sàng nhận mệnh lệnh. Ông yêu cầu tăng cường lực lượng, và chẳng bao lâu sau 15 hạ sĩ quan xuất hiện trong làng, nhận lệnh của ông bao vây phòng nghỉ tạm thời của đội SS. Tình hình căng thẳng và không có gì là đã ngã ngũ. Chỉ khi Avensleben lại xin tăng cường lực lượng thêm một lần nữa và một đại đội 150 người của quân đội xuất hiện thì câu hỏi lực lượng mới có lời giải đáp. Ông cho mang 60 chai rượu Cognac đến và phân chia ra cho các tù nhân.

            Vào buổi sáng này trong vùng Nam Tirol, với lần cứu thoát toàn bộ nhóm con tin như một huyền thoại nhờ hành động của 2 người sĩ quan, việc mà những người mưu đảo chính trong tháng 7 trước đó đã hy vọng, việc mà họ đã hy sinh tính mạng cho nó và đã thất bại, cuối cùng đã trở thành hiện thực: Quân đội, lực lượng đã tuân lệnh Hitler và Himmler lâu như thế, giới quân sự như Tướng Thomas, những người đã tổ chức và lãnh đạo cuộc chiến của Hitler – họ đã giật lấy quyền chủ động từ đội lính màu đen[13], nhờ sự giúp đỡ của những người mà tình yêu tổ quốc đã lớn hơn nỗi lo sợ phải trở thành và phải chết như kẻ phản bội. Đấy là một khoảng khắc buồn, lớn vô tận. Như để gọi to với người đã bị treo cổ: Có thể chứ, có thể được! Như để chế giễu: Muộn rồi, muộn rồi!

            Đã ngã ngũ. Họ được tự do, giải phóng bởi quân đội. Hồi ức cuối cùng của Tướng Thomas trong ngày này: “Ngay sau đấy, du kích quân người Ý xuất hiện và đề nghị sẽ bảo vệ chúng tôi. Kẻ trưởng nhóm Gestapo (ông ấy muốn nói trưởng nhóm SD, Wolfgang Büscher) bị bắt và giải thích, ngay cả sau khi bị bắt giữ, rằng họ đã nhận lệnh trong mọi trường hợp phải bắn chết 5 người trong số chúng tôi, trong đó có tôi, và họ đã dự định thi hành vào ngày 29.” Ngày 29 tháng 4, đó là ngày hôm trước.

            Còn Weihe? Hạ sĩ quan Weihe, đao phủ của Flossenbürg ra sao? Hắn biến mất không để lại một dấu vết. Hắn ở lại trại cho đến cuối cùng rồi chui rút vĩnh viễn vào trong bí mật.

            Cô bé Cissy thỉnh thoảng đã chạy theo hắn, khi hắn hét gọi những người sắp bị tử hình ra khỏi phòng giam của họ, để dẫn họ đến sợi dây treo cổ. Cô bé chạy theo sau hắn và bắt chước hắn. Tiếng hét của hắn. “Đi ra đây!” của hắn, khi hắn bắt buộc người nào đó bước ra khỏi phòng giam và cởi bỏ quần áo. Rồi người ta nghe một tiếng vang sau cái mệnh lệnh thô lỗ của Weiher trong hành lang của nhà tù. Đi xuyên qua xương tủy. Tiếng thanh cao của trẻ con.

            Nếu Karl Weihe có lần nào đó bật dậy trong một đêm đen nào đó, ở đâu đó gần Magdeburg hay ở Nam Mỹ dưới một cái tên giả hay trong một thế giới hoàn toàn khác, và nếu như hắn có nghe được một cái gì đó trong khoảng khắc ấy, cho hắn biết rằng bàn tay trắng của sự điên rồ đang với đến hắn, ngay bây giờ và cho mãi mãi, thì đấy phải là tiếng nói thanh cao, đã ở đằng sau hắn vào nhiều buổi sáng và đã gọi hắn.

            “Đi ra đây!”

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

—————————————————————————————————————————————————

[1] Prora là tên một tòa nhà đồ sộ trên đảo Rügen, trên kế hoạch có đủ chỗ cho 20.000 người đến nghỉ mát.

[2] Wilhelm I và Wilhelm II: vua Phổ, hoàng đế Đức.

[3] Màu quân phục của quân đội Đức từ đầu thế kỷ 20 cho đến 1945.

[4] Nguyên văn “Führer”, trong Đức quốc xã là từ dùng để chỉ Adolf Hitler.

[5] Claus Philipp Maria Graf von Stauffenberg là sĩ quan quân đội Đức quốc xã, người đóng vai trò chủ chốt trong vụ mưu sát Hitler vào ngày 20 tháng 7 năm 1944.

[6] Gestapo: viết tắt của Geheime Staatspolizei (Cảnh sát bí mật quốc gia), cảnh sát chính trị và hình sự trong thời Đức quốc xã.

[7] Résistance: Từ dùng chung để chỉ phong trào kháng chiến tại Pháp chống lại Đức quốc xã đang chiếm đóng trong Đệ nhị thế chiến.

[8] Trại tập trung Dachau gần München là trại tập trung đầu tiên của Đức quốc xã.

[9] Heinrich Himmler (1900-1945) tổng chỉ huy lực lượng SS, từ 1943 đến 1945 đồng thời cũng là Bộ trưởng Bộ Nội vụ của Đức quốc xã.

[10] Waffen-SS: lực lượng được trang bị vũ khí và tham gia chiến đấu như quân đội của SS.

[11] Tiếng Pháp: “Vì công lao”

[12] SD: Viết tắt của Sicherheitsdienst, lực lượng an ninh và tình báo của SS và của Đảng Quốc xã

[13] Màu đen là màu quân phục của SS.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s