Chiến lược chống chiến tranh du kích thất bại

Ở Việt Nam, chiến lược “Flexible response” cần phải được tiến hành trong cuộc chiến tranh chống du kích (counterinsurgency). Đứng ở đằng sau đó là kết hợp của nhiều biện pháp và phân tích về quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội mà tiền đề quan trọng nhất của chúng là chỉ có thể chống lại phong trào kháng chiến cộng sản  bằng một chiến lược tổng hợp chứ không chỉ bằng phương tiện quân sự. “Counterinsurgency” có nghĩa là một phản ứng linh hoạt, từng bước một trên ba bình diện. Bước 1 dự định bảo vệ làng mạc Việt Nam qua quân đội. Nếu như những làng mạc đó không còn nằm trong tay của MTDTGP nữa, thì có thể bắt đầu với bước 2: xây dựng một nền hành chánh địa phương có năng lực, không tham nhũng. Khi nền hành chánh này bám rễ và giành được thiện cảm của người dân làng thì có thể khởi động bước 3 – cải thiện các điều kiện sống về mặt vật chất. Tiếp nối theo nhau, ba bước này có nhiệm vụ tước đi các phương tiện và khả năng của MTDTGP và xóa bỏ cơ sở làng mạc của phong trào kháng chiến. Trên lý thuyết, qua đó Hoa Kỳ cũng có một phương án tương tự như chiến lược của MTDTGP, tích hợp các phương diện quân sự, chính trị và kinh tế; thế nhưng trên thực tế đã có thể nhanh chóng nhận thấy rằng giới quân đội Mỹ không có ý muốn lẫn khả năng để tiến hành một cuộc chiến tranh khác với thông thường. Đối với phần lớn giới quân đội, “counterinsurgency” chỉ là một trò chơi trí thức của những người “giỏi giang nhất và thông minh nhất”. Đối với MACV, mang tính quyết định không phải là các quan điểm chính trị, hệ tư tưởng hay xã hội-kinh tế, mà là hỏa lực.

Ấp Chiến lược Thanh Trì
Ấp Chiến lược Thanh Trì

Dưới hoàn cảnh đó, Chương trình Ấp Chiến lược (Strategic Hamlet Program) được bắt đầu trong tháng Ba 1962 chỉ có thể tạm thời tạo cho chính quyền Diệm một thời gian yên ổn. Trong lúc cố vấn của Kennedy, Roger Hilsman, đang ca ngợi các ưu điểm của chiến lược “counterinsurgency” tại Washington thì Ngô Đình Nhu, người chịu trách nhiệm cho Chương trình Ấp Chiến lược, với sự ưng thuận của MACV, chỉ giới hạn ở việc bảo đảm an ninh về quân sự cho các làng mạc – không có các biện pháp chính trị và kinh tế đi kèm. Việc bắt buộc người dân tập trung trong những ngôi làng được bảo vệ với hào nước, hàng rào kẽm gai, chông tre và tháp canh cũng gây ra những vấn đề và phản ứng tương tự như ý định đã bị hủy bỏ ba năm trước đó của Diệm, định cư người dân nông thôn trong các khu trù mật. Quản lý yếu kém và tham nhũng đã ngăn chận không để cho các phương tiện do người Mỹ cung cấp thật sự đến được với những người nông dân. Ngoài ra, Nhu cũng cải tạo nhiều khu dân cư thành ấp chiến lược mà trong đó chính phủ nói chung là không thể bảo đảm an ninh lâu dài được. Sau những thành công vào lúc ban đầu, nhiều người ủng hộ cho Chương trình Ấp Chiến lược đã phải thừa nhận vào đầu năm 1963, rằng Diệm và Nhu chỉ muốn kiểm soát thể chất người dân ở nông thôn chứ không muốn nâng cao các điều kiện sinh sống. Ngoại trừ vùng cao nguyên, nơi CIA chứ không phải chính phủ Nam Việt Nam lãnh đạo chương trình này, việc tái định cư chẳng bao lâu sau đó đã chứng tỏ là thất bại. MTGPDT tràn ngập ấp chiến lược ở nhiều nơi, phá hủy chúng hay biến chúng thành những cứ điểm dưới quyền chỉ huy của họ. Trong khi các nhà lãnh đạo về mặt tư tưởng của chương trình – nói một cách hình tượng – tưởng tượng ra một diện tích nước mà ở trên đó những giọt dầu (những ấp chiến lược riêng lẻ) dần dần lan rộng vào với nhau thành một màng phim mỏng của an ninh thì các biện pháp của Nhu giống như cơn bão trong tách trà.

Cùng chịu trách nhiệm cho sự thất bại của Chương trình Ấp Chiến lược và “counterinsurgency” nói chung là Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ ở Sài Gòn và Hội đồng Tham mưu trưởng ở Washington. Thay vì thuyết phục Diệm, rằng chỉ có việc bảo vệ an ninh lâu dài cho các ấp chiến lược cộng với cải cách ruộng đất và tái thiết lập nền tự quản của làng là có thể mang lại thành công thật sự, thì họ lại ủng hộ cho chiến thuật ngắn hạn của Nhu. Với sự ủng hộ của Lầu Năm Góc, sếp MACV, tướng Paul D. Harkins tiến hành về cơ bản một cuộc chiến tranh thông thường chống du kích quân: máy bay trực thăng Mỹ có nhiệm vụ xác định vị trí các lực lượng tương đối lớn và đẩy họ vào tay của quân đội Nam Việt Nam trên mặt đất. Để phá hủy các vùng đất làm nơi rút lui trú ẩn của MTDTGP, bắt đầu từ cuối 1961, bên cạnh napalm Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng hóa chất để tiêu hủy mùa màng. Trong khuôn khổ của chiến dịch RANCH HAND, dưới câu khẩu hiệu “Only you can prevent a forest!” (“Chỉ có bạn mới ngăn chận được rừng rậm!”), Hoa Kỳ đã phun hàng trăm ngàn tấn thuốc diệt cỏ trong vòng tám năm tiếp theo đó. Chất làm rụng lá “Agent Orange” được bắt đầu sử dụng bắt đầu từ năm 1963. Mãi nhiều năm sau đó người ta mới biết tới tác động gây ung thư của nó.

Việc nhiều cố vấn Mỹ, được phân bổ về cho tới cấp tiểu đoàn của QLVNCH, không nhất thiết sẽ góp phần tăng cường cho quân đội Nam Việt Nam, đã bộc lộ một cách điển hình trong trận đánh vào ngày 2 tháng Giêng 1960 quanh Ấp Bắc ở phía nam Sài Gòn. Mặc dù đông hơn tám lần, QLVNCH đã không thể đánh bại được VC. Cố vấn Mỹ đã hoài công yêu cầu các chỉ huy QLVNCH tấn công. Thế nhưng những người này trì hoãn cuộc tấn công vào lúc ban đầu và qua đó đã mang lại cho lực lượng du kích khả năng thiết lập công sự phòng thủ. Khi rồi trận đánh diễn ra sau đó, một vài đơn vị đã từ chối chiến đấu, những đơn vị khác lại yêu cầu không quân hỗ trợ. Trong khi VC để lại ba người chết thì quân đội chính phủ mất 61 người, trên một trăm người bị thương. Ấp Bắc cho thấy rõ rằng giới lãnh đạo quân đội Nam Việt ngày một dựa nhiều hơn lên trực thăng Mỹ. Thêm vào đó, rõ ràng là họ tuân theo chỉ thị từ phủ tổng thống, tránh xung đột vũ trang càng nhiều càng tốt để bảo  toàn lực lượng của mình.

Khu Trù Mật Vị Thanh,30 tháng Tư 1960
Khu Trù Mật Vị Thanh,30 tháng Tư 1960

Trong khi Tướng Harkins ca ngợi trận Ấp Bắc như là một thành công thì một vài nhà báo trẻ tuổi như David Halberstam của New York Times hay Neil Sheehan của United Press International lại kinh hoàng về tinh thần chiến đấu của QLVNCH và về sự bất lực của các cố vấn Mỹ. Hoàn toàn không hoài nghi về hoạt động tham chiến về cơ bản của Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam, họ bắt đầu tường thuật về những gì họ nhìn thấy và trải qua. Ấp Bắc đánh dấu lần bắt đầu cuộc xung đột sâu sắc giữa các truyền thông tự do ở một bên và giới quân đội với chính phủ Washington ở phía bên kia. Vì trong khi Harkins lan tỏa sự lạc quan ,và chính phủ Kennedy cố gắng che đậy quy mô giúp đỡ về nhân sự và vật chất của Mỹ cho Nam Việt Nam, thì một vài nhà báo đã cho giới công chúng biết dần về tình hình thật sự. Đích thân Kennedy đã hoài công cố gắng thúc giục New York Times triệu hồi Halberstams. Các nổ lực của chính phủ và quân đội, để che đậy hoạt động ủng hộ chính phủ Sài Gòn đang tăng lên, ngày càng trở nên không đáng tin hơn. Một nhà báo nhớ lại: “Ví dụ như khi chiếc hàng không mẫu hạm ‘Core’ thả neo ở Cảng Sài Gòn, dân nhà báo từ sân thượng của khách sạn Majestic có thể búng mẩu thuốc lá của họ xuống gần tới boong tàu có trực thăng đang đỗ ở trên đó. Thế nhưng khi người ta hỏi ai đó rằng ở kia có phải là một chiếc hàng không mẫu hạm hay không thì câu trả lời chính thức là: ‘Miễn bình luận’.”[1]

Không chỉ riêng ở các nhà báo, mà nỗi bất an về chế độ độc đoán của Diệm và kết quả kém cỏi của QLVNCH cũng tăng lên trong chính phủ. Trong khi Harkins tuyên bố rằng cho tới cuối năm 1963 có thể bị đè bẹp cuộc nổi dậy, thì các báo cáo của CIA chuyển tải một bức tranh bi quan hơn. Căng thẳng giữa Hoa kỳ và chính quyền Diệm tăng lên ở trên mọi cấp. Các cố vấn, được phân bổ sang cho quân đội Nam Việt Nam, ngày càng hay lên án tính thụ động của QLVNCH hơn, và cố gắng đi vòng qua quyền quyết định của chính phủ ở Sài Gòn. Các nhà ngoại giao của Kennedy  thì lại yêu cầu Diệm cuối cùng hãy có những bước đi quyết định tiến đến một cuộc dân chủ hóa. Người tổng thống Nam Việt Nam phản ứng bằng sự phẫn nộ ngày một tăng. Thậm chí Diệm còn than phiền với đại sứ Pháp rằng ông không hề mời tất cả những người lính Mỹ đó vào nước.

Đứng trước những phát triển phức tạp ở Nam Việt Nam và các quan hệ bắt đầu lạnh nhạt đi trên bình diện chính phủ, Kennedy và các cố vấn của ông suy nghĩ về tương lai của việc Mỹ tham chiến Mỹ. Ngay từ giữa năm 1962, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng McNamara đã cho lập các kế hoạch để triệu hồi tất cả các cố vấn Mỹ qua nhiều giai đoạn. Nhưng các kế hoạch này được lập nên vào một thời điểm mà Chương trình Ấp Chiến lược cho thấy có những thành công tạm thời và MTDTGP còn gặp nhiều khó khăn lớn trong việc chống lại máy bay trực thăng. Một năm sau đó, trong tháng Năm 1963, McNamana hứa hẹn trước báo giới sẽ rút một  lực lượng cố vấn gồm một ngàn người ra khỏi Nam Việt Nam. Thế nhưng ngay sau đó, Kennedy đã chấp thuận các kế hoạch tăng cường những hoạt động quân sự chống Bắc Việt Nam (OPLAN 34-A).

Từ những lời tuyên bố và hành động mâu thuẫn của Kennedy, người ta đã nhiều lần diễn giải thành một ý muốn của Tổng thống, sẵn sàng chấm dứt hoạt động tham chiến của Mỹ ở Việt Nam. Kennedy, theo như một vài người cố vấn của ông giải thích sau cái chết của ông, vào mùa hè 1963 đã đi đến nhận thức rằng không phải người Mỹ mà là người Nam Việt Nam phải tiến hành cuộc chiến, cuộc chiến của họ. Sử gia John M. Newman thậm chí còn đi đến khẳng định, rằng Kennedy muốn chờ kết quả của cuộc bầu cử tổng thống năm 1964, để có thể ban hành cuộc rút quân toàn phần của người Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam sau khi thắng cử.

Nhưng không tranh cãi là việc kể từ mùa xuân 1963, người Tổng thống bắt đầu hoài nghi về hiệu quả của các cố vấn Mỹ ở Nam Việt Nam. Kennedy cũng nhận thức được tình thế lưỡng nan mà Đông Dương đã mang lại cho chính phủ ông: “Người dân ở đó căm ghét chúng ta. Họ thích nhất là đá vào mông để đuổi chúng ta ra khỏi đó. Nhưng tôi không thể bỏ lại một đất nước như đất nước này cho những người cộng sản, và để cho người dân Mỹ bầu tôi lên thêm một lần nữa tiếp theo sau đó.”[2] Nhưng sự nghi ngại của Kennedy không đồng nghĩa với việc ông hoài nghi một cách cơ bản về hoạt động tham chiến của Hoa Kỳ. Lời thông báo, rút một phần cố vấn ra khỏi Nam Việt Nam, trước những kế hoạch bí mật nhằm mở rộng hoạt động quân sự ra miền Bắc, phải được đánh giá như là nổ lực để trấn an giới công chúng Mỹ, và nói bớt đi quy mô của việc Mỹ tham gia vào trong cuộc nội chiến ở Nam Việt Nam. Luận điểm, Kennedy muốn chấm dứt liên kết Mỹ với Nam Việt Nam sau khi thắng cử, vẫn còn là một suy đoán thuần túy. Cũng mang tính giả thuyết như vậy là lời khẳng định được đưa ra nhiều lần, Kennedy không bao giờ chấp thuận đưa quân đội chính quy sang Việt nam. Tuy Kennedy luôn luôn phản đối các đề nghị của Lầu Năm Góc, gửi quân đội mặt đất sang Việt Nam. Nhưng sự thật là ông đã tăng cường đáng kể hoạt động tham chiến của Mỹ ở Nam Việt Nam về mặt vật chất và nhân sự: tháng Mười Một 1963, ở có có 16.300 người cố vấn hoạt động, và 78 người trong số đó đã thiệt mạng.

Dù Kennedy có nghĩ gì – trong mùa hè 1963, chính phủ ông đã chuyển sang một đường lối mới, một đường lối khiến cho sự phụ thuộc giữa Washington và Sài Gòn càng sâu rộng hơn một cách thật nguy hiểm, và đã để lại một gánh nặng cho người kế nhiệm Lyndon B. Johnson: chấp thuận đảo chánh lật đổ Diệm.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

———————————————————————————————————————-

[1] Trích dẫn theo John M. Newman, JKF and Vietnam. Deception, Intrigue, and the Struggle for Power, New York 1992, trang 205

[2] Trích dẫn theo Richard Reeves, Tổng thống Kennedy, Profile of Power, New York 1993, trang 484.

Advertisements

2 thoughts on “Chiến lược chống chiến tranh du kích thất bại

  1. Chiến thuật chiến tranh DU KÍCH của cộng sản Vietnam là một chiến thuật “rất hèn hạ mà rất độc ác”, chứ không có chính trị cao siêu gì cả .

    Đơn giản của nó là “Giết – bắt cóc – thủ tiêu”. Ban ngày thì bọn nó (Việt Cộng) trốn chui bất cứ nơi nào chỉ sống được, rồi ban đêm lẻn ra làng xóm bắt dân hay viên chức VNCH ở vùng nông thôn… Bắn giết, thủ tiêu, bắt cóc mang lên rừng rú đe dọa buộc họ làm theo điều kiện bọn nó chỉ thị…

    Cái chiến thuật du kích này rất dễ áp dụng cho cuộc chiến ở vùng người dân sống cuộc đời lạc hậu, và cộng theo sự độc ác dã tâm vô nhân đạo mà khiến cho người dân hoảng sợ mà nghe theo bọn ác thôi. Chẳng có gì là văn minh chính trị gì cả.

  2. […] Trong khi Tướng Harkins ca ngợi trận Ấp Bắc như là một thành công thì một vài nhà báo trẻ tuổi như David Halberstam của New York Times hay Neil Sheehan của United Press International lại kinh hoàng về tinh thần chiến đấu của QLVNCH và về sự bất lực của các cố vấn Mỹ. Hoàn toàn không hoài nghi về hoạt động tham chiến về cơ bản của Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam, họ bắt đầu tường thuật về những gì họ nhìn thấy và trải qua. Ấp Bắc đánh dấu lần bắt đầu cuộc xung đột sâu sắc giữa các truyền thông tự do ở một bên và giới quân đội với chính phủ Washington ở phía bên kia. Vì trong khi Harkins lan tỏa sự lạc quan ,và chính phủ Kennedy cố gắng che đậy quy mô giúp đỡ về nhân sự và vật chất của Mỹ cho Nam Việt Nam, thì một vài nhà báo đã cho giới công chúng biết dần về tình hình thật sự. Đích thân Kennedy đã hoài công cố gắng thúc giục New York Times triệu hồi Halberstams. Các nổ lực của chính phủ và quân đội, để che đậy hoạt động ủng hộ chính phủ Sài Gòn đang tăng lên, ngày càng trở nên không đáng tin hơn. Một nhà báo nhớ lại: “Ví dụ như khi chiếc hàng không mẫu hạm ‘Core’ thả neo ở Cảng Sài Gòn, dân nhà báo từ sân thượng của khách sạn Majestic có thể búng mẩu thuốc lá của họ xuống gần tới boong tàu có trực thăng đang đỗ ở trên đó. Thế nhưng khi người ta hỏi ai đó rằng ở kia có phải là một chiếc hàng không mẫu hạm hay không thì câu trả lời chính thức là: ‘Miễn bình luận’.”[1] […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s