Washington quyết định hướng đi

Với sự thất bại trong hoạt động chống Cuba của CIA và với những cuộc đàm phán về Lào, Việt Nam đạt tới một tầm quan trọng to lớn đối với chính phủ Kennedy. Washington muốn ngăn chận không cho trung lập hóa đất nước theo gương mẫu của nước Lào khó đi lại và không quan trọng. Điều này phù hợp với chiến lược của Kennedy cũng như với mối liên hệ đặc biệt của ông với Việt Nam như là thành viên của “American Friends of Vietnam”, và với những tiền đề cho đối ngoại của các cố vấn thân cận nhất của ông. Phe Cộng hòa đối lập còn nghi ngại ít hơn nữa về những mối liên kết tới Nam Việt Nam đã được thiết lập dưới thời Eisenhower. Về mặt đối nội, họ khai thác triệt để lần thảm bại ở Cuba và lên án Kennedy rằng ông muốn bán đứng lợi ích Mỹ với lần trung lập hóa Lào. Dưới những tiền đề như vậy, các nhà phê phán chính sách Việt Nam của Mỹ trong nội bộ chính phủ, ví dụ như đại sứ quán ở Ấn Độ, John Kenneth Galbraith, đã không được lắng nghe. Cả một disengagement [thoái lui] lẫn một sự trung lập hóa Việt Nam ở bàn đàm phán đều không phải là một lựa chọn thực tế cho chính phủ Kennedy. Việc loại trừ các lựa chọn khác này đã ngăn chận một thảo luận thấu đáo về nguyên nhân và mục đích cho hoạt động của Mỹ ở Nam Việt Nam. Sau này nhìn lại, McNamara nhận định rằng: “Chúng tôi đã bỏ lỡ cơ hội để đưa ra năm câu hỏi quan trọng nhất cho chúng tôi: Nam Việt Nam sụp đổ sẽ kéo theo việc mất toàn bộ Đông Nam Á, điều này có đúng không? Điều đó có là một mối đe dọa nghiêm trọng cho nền an ninh của Phương Tây hay không? Một cuộc chiến tranh loại nào – thông thường hay du kích – sẽ diễn ra? Chúng ta có thể chiến thắng nó với quân đội Mỹ cùng chiến đấu với quân đội Việt Nam hay không? Không phải là chúng ta phải biết câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này trước khi chúng ta quyết định gởi quân đội sang hay sao?”[1]

Phó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961
Phó Tổng thốngLyndon B. Johnson gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm trong Dinh Độc Lập, tháng Năm 1961

Về mặt phương án, vì bám chặt vào “Chính sách Ngăn chận”, “Thuyết Domino” và “tín đáng tin cậy” nên chính phủ Kennedy đã tự hạn chế không gian hoạt động của họ xuống còn hai sự lựa chọn: hoặc là họ có thể cố gắng làm ổn định chính phủ Diệm qua viện trợ quân sự và kinh tế nhiều hơn nữa, hoặc là họ có thể gởi quân đội Mỹ sang Nam Việt Nam. Tuy nhiên, mục đích là hoàn toàn giống nhau: “Mặc cho những gì sẽ đến, Hoa Kỳ dự định sẽ chiến thắng trận đánh này.”[2] Trong những tháng đầu tiên của chính phủ ông, Kennedy chấp thuận một chương trình vũ trang rất lớn: QLVNCH được tăng thêm 50.000 quân lính và được đào tạo bởi nhiều cố vấn hơn nữa. Bốn trăm người của lực lượng tinh nhuệ “Green Berets” được gởi vào trong rừng sâu, để huy động các dân tộc thiểu số sống ở miền đồi núi phía Tây và cùng với họ kiểm tra các con đường mòn dọc theo biên giới Lào-Việt. Ngoài ra, Kennedy còn cho phép CIA lập những nhóm thâm nhập, có nhiệm vụ tiến hành những hoạt động phá hoại ở miền Bắc. Thêm vào đó, ông nâng tiền viện trợ quân sự và kinh tế lên cao (lúc đầu là thêm 42 triệu dollar) và cung cấp vũ khí hiện đại cho các lực lượng tự vệ Nam Việt Nam. Về mặt chính trị, để đi kèm theo các biện pháp này, ông đã cử người Phó Tổng thống của ông, Lyndon B. Johnson, một người thực tế miền Texas, sang Việt Nam, người mà trong tháng Năm 1961 ở Sài Gòn đã ca ngợi Diệm như là “Winston Churchill của Đông Nam Á”.[3] Nhưng Kennedy không muốn đáp ứng lời yêu cầu của Hội đồng Tham mưu trưởng, gửi quân đội mặt đất sang Việt Nam. Ông cũng từ chối lời yêu cầu của Diệm, tăng lên gấp nhiều lần viện trợ tài chánh. Qua đó, ông Tổng thống đã đi theo một đường hướng khác thấy rõ so với “phe diều hâu” đứng đầu quân đội.

Tuy nhiên, các nổ lực để làm ổn định chính quyền Diệm về mặt quân sự và kinh tế đã thể hiện là không đủ. Trong mùa thu 1961, Diệm đã gặp phải những khó khăn mà quy mô của chúng đã bị đánh giá quá thấp ở Washington. Nhiều bản tường trình mang tính báo động của CIA đã đề cập đến việc MTDTGP tăng cường hoạt động: hàng tháng có trên hai trăm người ủng hộ chính quyền Sài Gòn bị giết chết, con số người bị thương tăng liên tục lên có cho tới một ngàn. Chính Diệm cũng phải thừa nhận rằng ông không còn làm chủ tình hình được nữa. Trong một thư khẩn gởi Kennedy, ông yêu cầu có một liên minh quân sự và gửi quân đội Mỹ sang. Lời yêu cầu giúp đỡ của Diệm tương tự như một lời tuyên bố phá sản chính trị: Cả những biện pháp trấn áp và truy nã lẫn quân sự hóa xã hội Việt Nam đều không có thể loại trừ được phe đối lập. Còn ngược lại là đằng khác – chính quyền độc đoán của Diệm đã thúc đẩy hàng đoàn người trở thành du kích quân cho MTDTGP.

Tổng thống Kennedy và Tướng Maxwell D. Taylor
Tổng thống Kennedy và Tướng Maxwell D. Taylor

Để nhận được thông tin chính xác hơn, Kennedy phái tướng Taylor và Walt Rostow sang Sài Gòn trong tháng Mười 1961. Những bản tường trình của họ đi theo khuôn mẫu cũ: chúng vẽ nên một hình ảnh bi quan của tình hình, chứa đựng nhiều lời khuyên cụ thể và đưa ra triển vọng của một tình hình tốt hơn trong trường hợp thực hiện những biện pháp đó. Khuôn mẫu này của những mô tả bi quan tình hình và dự đoán lạc quan sẽ lập lại vô tận trong những năm tiếp theo sau đó. Và cả các phản ứng của Washington cũng phản ánh theo một cách nào đó cái khuôn mẫu cơ bản cho những lần bàn thảo tìm quyết định trong tương lai: phe “diều hâu” và phe “bồ câu” đứng vào vị trí, tổng thống cô đọng các quan điểm khác nhau, và cuối cùng người ta có một quan điểm cho tình hình, cái dường như là “đúng chính xác” (just right): Taylor và Rostow đề nghị gửi 5000 quân nhân sang làm cố vấn cho QLVNCH dưới danh hiệu là những người giúp đỡ chống thảm họa và giữ nhiệm vụ lực lượng dự bị chiến thuật. Thêm vào đó, họ đề nghị chuyển MAAG thành một bộ tổng chỉ huy quân sự và tăng cường viện trợ quân sự cho Diệm. Ngược lại, trong Bộ Quốc phòng, người ta cho rằng con số 40.000 người lính là cần thiết, để làm ổn định chính quyền và mang lại tinh thần chiến đấu cho QLVNCH. Trong lúc đó thì Lầu Năm Góc biết rằng một can thiệp có quy mô lớn hơn của Mỹ vào Việt Nam có thể khiêu khích Bắc Việt Nam và có lẽ là khiến cho cả Trung Quốc phải phản ứng. Trong trường hợp chiến tranh leo thang vì sự hiện diện của quân đội Mỹ, giới quân sự thậm chí còn dự tính cần 205.000 người lính. Ngược lại, Dean Rusk và Bộ Ngoại giao muốn trước hết là tăng áp lực lên Diệm và thúc ép ông tự do hóa hệ thống. Họ cũng cho rằng giúp đỡ về mặt quân sự là cần thiết, nhưng khước từ việc đưa quân sang. Cũng có lập luận tương tự như vậy là thượng nghị sĩ có nhiều ảnh hưởng và cũng là người thân cận của Kennedy, Mike Mansfield, và người viết diễn văn Theodore Sorensen. Ủng hộ quan điểm của phe “bồ câu” là Galbraith và người đàm phán trong hội nghị Lào W. Averell Harriman. Họ đề nghị đàm phán với Liên bang Xô viết, ngưng bắn, đưa Liên Hiệp Quốc vào cuộc, tổng tuyển cử chung và tái thống nhất Việt Nam.

Sau khi từ chối các quan điểm “cực đoan”, người Tổng thống quyết định đi theo một con đường trung dung – đóng quân trên mặt đất là việc không bàn tới. Ông giải thích với Arthur Schlesinger, Jr.: “Quân đội sẽ tiến quân vào, giàn nhạc sẽ biểu diễn, đám đông sẽ reo hò, và bốn ngày sau đó thì tất cả sẽ bị lãng quên. Rồi người ta sẽ nói với chúng ta rằng chúng ta cần phải gởi thêm nhiều quân sang nữa. Nó giống như người ta uống một ly rượu. Người ta cảm nhận được tác động trong một lúc, và rồi thì anh phải uống ly kế tiếp.”[4] Nhưng ngay cả khi không có quân đội trên mặt đất thì các quyết định của Kennedy cũng thể hiện một vi phạm đối với Hiệp định Genève của năm 1954: Viện trợ kinh tế được tăng lên thêm một lần nữa, con số cố vấn tăng lên (trong tháng Mười Hai 1961 là 3200, một năm sau đó là đã hơn 9000), quân đội Mỹ có nhiệm vụ giám sát không trung và chuyên chở bằng đường hàng không cũng như tiến hành các phi vụ trực thăng. Thêm vào đó, chính phủ Kennedy nâng “Nhóm Giúp đỡ và Cố vấn Quân sự” lên thành “Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Mỹ, Việt Nam” (United States Military Assistance Command, Vietnam, MACV). Đồng thời, Kennedy yêu cầu Diệm hãy tự do hóa chính phủ của ông ấy và cho người Mỹ có quyền cùng bàn thảo trong tất cả các câu hỏi cơ bản về chính trị và quân sự. Thế nhưng các yêu cầu này không được đáp ứng, vì Washington gây ít áp lực và Diệm lưu ý tới đặc tính quốc gia Nam Việt Nam của chính phủ ông. Thêm vào đó, chính phủ Mỹ đã bảo đảm với giới công khai trong một quyển Sách Trắng vào tháng Mười Hai 1961, rằng cuộc nổi dậy ở Nam Việt Nam không phải là một phe đối lập vũ trang bản địa và là một cuộc xâm lược từ nước ngoài. Diệm tiếp nhận lập luận này, và từ đó về sau luôn bác bỏ mọi lời lên án rằng chính sách của ông đã gây ra những cuộc đấu tranh đẫm máu. Kennedy và các cố vấn của ông đã kích động một cuộc leo thang qua các quyết định đó, biết rõ rằng họ cùng với “đối tác có giới hạn”, như tướng Taylor gọi, đã biến cuộc xung đột quân sự ở Nam Việt Nam thành cuộc chiến tranh của chính họ.[5] Kể từ tháng Mười Một 1961, quay ngược lại là một việc còn khó khăn hơn trước đó rất nhiều.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

————————————————————————————————————————

[1] Robert S. McNamara with Brian VanDeMark, In Retrospect. The Tragedy and Lessons of Vietnam, New York 1995, trang 39.

[2] A Program of Action To Prevent Communist Domination of South Vietnam, 1/5/1961, trong FRUS 1961-1963, tập 1: Vietnam 1961, Washington 1988, trang 93-115, ở đây là trang 95.

[3] Trích dẫn theo William Conrad Gibbons, The U.S. Government and the Vietnam War. Executive and Legislative Roles and Relationships, cho tới nay có 4 tập, Princeton/NJ 1986 – , tập 2 (1961-1964), trang 42.

[4] Arthur M. Schlesinger, Jr., A Thousand Days, Boston 1965, trang 547

[5] Taylor gởi Kennedy, 3/11/1961, trong FRUS 1961, tập 1: Vietnam, Washington 1988, trang 493

Advertisements

One thought on “Washington quyết định hướng đi

  1. […] Với sự thất bại trong hoạt động chống Cuba của CIA và với những cuộc đàm phán về Lào, Việt Nam đạt tới một tầm quan trọng to lớn đối với chính phủ Kennedy. Washington muốn ngăn chận không cho trung lập hóa đất nước theo gương mẫu của nước Lào khó đi lại và không quan trọng. Điều này phù hợp với chiến lược của Kennedy cũng như với mối liên hệ đặc biệt của ông với Việt Nam như là thành viên của “American Friends of Vietnam”, và với những tiền đề cho đối ngoại của các cố vấn thân cận nhất của ông.Phe Cộng hòa đối lập còn nghi ngại ít hơn nữa về những mối liên kết tới Nam Việt Nam đã được thiết lập dưới thời Eisenhower. Về mặt đối nội, họ khai thác triệt để lần thảm bại ở Cuba và lên án Kennedy rằng ông muốn bán đứng lợi ích Mỹ với lần trung lập hóa Lào. Dưới những tiền đề như vậy, các nhà phê phán chính sách Việt Nam của Mỹ trong nội bộ chính phủ, ví dụ như đại sứ quán ở Ấn Độ, John Kenneth Galbraith, đã không được lắng nghe. Cả một disengagement[thoái lui] lẫn một sự trung lập hóa Việt Nam ở bàn đàm phán đều không phải là một lựa chọn thực tế cho chính phủ Kennedy. Việc loại trừ các lựa chọn khác này đã ngăn chận một thảo luận thấu đáo về nguyên nhân và mục đích cho hoạt động của Mỹ ở Nam Việt Nam. Sau này nhìn lại, McNamara nhận định rằng: “Chúng tôi đã bỏ lỡ cơ hội để đưa ra năm câu hỏi quan trọng nhất cho chúng tôi: Nam Việt Nam sụp đổ sẽ kéo theo việc mất toàn bộ Đông Nam Á, điều này có đúng không? Điều đó có là một mối đe dọa nghiêm trọng cho nền an ninh của Phương Tây hay không? Một cuộc chiến tranh loại nào – thông thường hay du kích – sẽ diễn ra? Chúng ta có thể chiến thắng nó với quân đội Mỹ cùng chiến đấu với quân đội Việt Nam hay không? Không phải là chúng ta phải biết câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này trước khi chúng ta quyết định gởi quân đội sang hay sao?”[1] […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s