Kennedy và “Ranh Giới Mới”

Cùng với lần John F. Kennedy nhậm chức trong tháng Giêng 1961, một thế hệ mới đã bước lên đứng đầu Hoa Kỳ. Không chỉ người Tổng thống 41 tuổi mới trẻ trung, năng động và lạc quan, mà cả phần lớn các cố vấn của ông, những “người giỏi giang nhất và thông minh nhất” (The Best and the Brightest), cũng vậy – người em của ông Robert Kennedy; cố vấn an ninh McGeorge Bundy, từng là trưởng khoa của Đại học Harvard; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert S. McNamara, cựu giám đốc Ford Motor Company; cũng như người cộng tác thân cận, nhà kinh tế học Walt W. Rostow, sử gia Harvard Arthur M. Schlesinger, Jr. và luật sư cũng như người viết diễn văn Theodore C. Sorensen. Vì chính Tổng thống muốn định đoạt chính sách đối ngoại nên ông đã chọn người tương đối không có gì đặc sắc là Dean Rusk để làm bộ trưởng. Ông bổ nhiệm Tướng Maxwell D. Taylor làm cố vấn quân sự đặc biệt, người mà dưới thời Eisenhower đã từ chức tham mưu trưởng lục quân để phản đối “New Look”.

Tổng thống Kennedy với Dean Rusk và   Robert S. McNamara
Tổng thống Kennedy với Dean Rusk và Robert S. McNamara

Kennedy và đội ngũ của ông muốn giải phóng đất nước ra khỏi sự thờ ơ về chính trị và trì trệ về kinh tế, tạo hứng thú cho công dân của họ và dẫn đất nước tới những “ranh giới mới”. Phải phá vỡ những cấu trúc đã lỗi thời trong nước, phải vượt qua được sự phân biệt chủng tộc, thúc đẩy kinh tế với những phương pháp của Keynes, tạo không gian hoạt động mới cho chính sách đối ngoại và an ninh – không có lời yêu cầu nào của Kennedy là biểu tượng tốt hơn cho bầu không khí khởi hành háo hức, cho mong muốn có được thay đổi và có cái mới như là lời tuyên bố của ông trong tháng Năm 1961, cho tới cuối thập niên phải gửi được một người Mỹ lên Mặt Trăng.

Chính phủ Kennedy tiếp nhận các thông số chính trị-hệ tư tưởng cho tới lúc đó, nhưng đẩy mạnh chúng ở tại một điểm mang tính quyết định: Họ đưa Việt nam ra làm thước đo cho “tính đáng tin cậy” (credibility) của Mỹ trên thế giới. Giống như Tây Berlin là một biểu tượng thể hiện sự gắn bó và cam kết của Mỹ ở châu Âu, mà sự tự do và tính toàn vẹn của nó đã được mỗi một chính phủ kể từ thời Truman bảo vệ trước những đe dọa to lớn của Xô viết, Kennedy liên kết uy tín chính sách đối ngoại của ông và trọng lượng khắp thế giới của Hoa Kỳ với Nam Việt Nam. Các vấn đề đối ngoại trong những tháng đầu tiên của nhiệm kỳ ông đã khiến cho “tính đáng tin cậy” của Mỹ trở thành một niềm ám ảnh mà cả Kennedy lẫn người kế nhiệm ông, Lyndon B. Johnson, để không thể thoát ra được. Động cơ cho những hoạt động của Mỹ ở Việt Nam chẳng bao lâu sau đó đã không còn dựa trên cơ sở của các thị trường nguyên liệu và tiêu thụ, không còn dựa trên “national building” và chống cộng sản, mà phần lớn là dựa trên uy tín đối ngoại và “tính đáng tin cậy”. Tháng Ba 1965, John T. McNaughton, một nhân viên cao cấp của Bộ Quốc phòng, đưa ra một công thức cho các động cơ của chính phủ Hoa Kỳ mà trong đó đường lối và di sản của Kennedy được thể hiện: “70% – để ngăn chận một chiến bại nhục nhã (vì uy tín của chúng ta như là sự bảo đảm). 20% – để giữ lại lãnh thổ Nam Việt Nam (và các lãnh thổ kế cận) trước người Trung Quốc. 10% – để tạo khả năng cho người dân ở Nam Việt Nam có được một cuộc sống tốt hơn, tự do hơn.”[1] Những lời hùng biện lúc tranh cử, niềm tin cá nhân của vị tân tổng thống và các thất bại đối ngoại trong những tháng đầu tiên của nhiệm kỳ ông đã để cho Việt Nam trở thành điểm nóng của xử lý khủng hoảng Mỹ trong năm 1961.

Đầu tiên, chính phủ Kennedy tập trung vào Lào. Láng giềng nhỏ của Việt Nam cũng là đề tài của Hội nghị Genève năm 1954. Sau đó, chính phủ Eisenhower đã bơm trên ba trăm triệu dollar viện trợ quân sự và kinh tế vào cho đất nước chỉ có hai triệu người sinh sống ở đó mà không thấy có thành công nào có thể phô trương ra được. Năm 1957, các phe phái chia rẽ của Lào – chính phủ, giới quân đội và Pathet Lào (tương ứng của Lào cho Việt Minh) – thống nhất với nhau về một chính phủ liên minh. Tuy nhiên, Washington không muốn khoan dung cho quyền lực lớn mạnh của những người cộng sản và bắt đầu xây dựng một cách có hệ thống quân đội thiên hữu của Lào. Người đàn ông có nhiều quyền lực trong quân đội có tên là Phumi Nosavan, một sĩ quan thân Mỹ nhưng tham nhũng và không có khả năng làm chính trị, và một phần đáng kể từ thu nhập của ông xuất phát từ việc trồng thuốc phiện. Phumi hứa hẹn sẽ chống lại các hoạt động đang tăng lên của Pathet Lào. Tức là vào cuối những năm năm mươi, tình hình chính trị trong nước của Lào giống như tình hình ở Việt Nam trên nhiều phương diện. Cuối cùng, tháng Tám 1960, Hoàng tử Suvanna Phuma thành lập một chính phủ trung lập mới, để chấm dứt cuộc nội chiến. Phuma được Pháp và Liên hiệp Anh công nhận về ngoại giao; tuy nhiên, đứng trước sự ủng hộ của Hoa Kỳ cho Phumi, người hoàng tử thấy cần phải tìm sự giúp đỡ cho đất nước của ông ở Moscow. Qua đó, trong con mắt của Washington, Phuma không còn được tín nhiệm nữa. Tổng thống Eisenhower khuyên Kennedy vào ngày nhậm chức (20 tháng Giêng 1961), hãy dùng mọi phương tiện để ngăn chận một chiến thắng của cộng sản ở Lào, nếu cần thiết thì gửi quân đội Mỹ sang. Lời khuyên của Eisenhower được lắng nghe. Theo chỉ thị của chính phủ mới, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (JCS) soạn thảo kế hoạch cho một cuộc can thiệp bằng quân sự. Trong tháng Ba và tháng Tư 1961, tình hình ở Lào có nguy cơ vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Trong khi người Xô viết chở vũ khí bằng máy bay sang cho Pathet Lào, Lầu Năm Góc đưa Hạm đội Bảy Hoa Kỳ vào Biển Đông, và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dean Rusk tác động giành được lời hứa hẹn gởi quân lính tham gia từ các quốc gia SEATO Thái Lan, Pakistan và Philippines.

Tổng thống Kennedy và Hoàng tử Suvanna Phuma
Tổng thống Kennedy và Hoàng tử Suvanna Phuma

Tuy vậy, thảm bại tại vụ Vịnh Con heo trong lần can thiệp vào Cuba đã ngăn cản những bước leo thang tiếp theo. Cố gắng của CIA, kích động một cuộc nổi loạn chống Fidel Castro nhờ vào sự giúp đỡ của lực lượng người Cuba lưu vong, đã kết thúc ngay từ lúc còn ở bờ biển dưới làn mưa đạn của quân đội Cuba. Hoạt động này đã được chuẩn bị trước đó lâu và còn được bật đèn xanh dưới thời của Eisenhower. Tháng Tư 1961, Kennedy nhận trách nhiệm cá nhân cho việc thất bại của hoạt động này, nhưng bắt đầu từ lúc đó hết sức nghi ngờ JCS và CIA. Thay vì gửi quân đội sang Lào, vị Tổng thống chấp nhận ưu tiên cho một giải pháp qua đàm phán. Sau dàn xếp của Anh và Xô viết, cuối cùng người ta đã đạt được một thỏa thuận ngưng bắn mong manh trong tháng Bảy 1962. Một hiệp ước đã chính danh hóa chính phủ trung lập dưới quyền của Suvanna Phuma và quy định tất cả các quân đội khác phải rút quân ra khỏi Lào. Nhưng cả Bắc Việt Nam lẫn Hoa Kỳ đều không giữ đúng hiệp ước đó trong những năm sáu mươi. Kennedy chấp thuận một chương trình chống du kích của CIA ở Lào, một chương trình mà trong diễn tiến của những năm sau đó đã trở thành một cuộc chiến tranh bí mật thật sự, và sau 1963 thì Hà Nội sử dụng lãnh thổ Lào trong quy mô ngày một lớn hơn để hỗ trợ cho MTDTGP ở miền Nam.

Tình hình đáng ngại ở Lào và Nam Việt Nam đứng liền mạch vào trong một loạt các vấn đề quốc tế mà đã khiến cho chính phủ Mỹ ngạt thở trong năm 1961. Tháng Giêng 1961, trong một bài diễn văn nóng bỏng, sếp Đảng và nhà nước Xô viết Nikita Khrushchev đã bảo đảm rằng đất nước ông sẽ trợ giúp cho các phong trào giải phóng dân tộc. Qua đó, nơi mà ông hướng tới đầu tiên là Bắc Kinh, nhưng việc này thì chính phủ Kennedy vừa mới nhậm chức đã không nhận ra. Xung đột về tư tưởng hệ và chính trị giữa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Xô viết đã đạt tới đỉnh cao qua lần Chu Ân Lai rời bỏ Hội nghị lần thứ 22 của ĐCSLX trong tháng Mười 1961, việc đã gây nhiều náo động trong dư luận. Nhưng Washing đã bỏ lỡ dịp để lợi dụng cơ hội đó mà mang lợi về cho phần mình. Người ta lại tin rằng có thể nhận ra được một mối liên quan ở phía sau sự giúp đỡ cho Pathet Lào và Fidel Castro, sau cuộc khủng hoảng Congo và cuộc khủng hoảng Berlin. Từ góc nhìn của Washington, Phương Tây rõ ràng đang ở trong thế phòng thủ.

Kennedy phản ứng với một loạt sáng kiến cho chính sách đối ngoại và an ninh. Theo tinh thần bài diễn văn nhậm chức của ông (“Đừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn – hãy hỏi rằng bạn có thể làm được gì cho đất nước”)[2] chính phủ bắt đầu gửi hàng trăm tình nguyện viên người Mỹ sang châu Phi, châu Á và châu Mỹ La-tinh. Những người Mỹ trẻ tuổi, thường là sinh viên, những người mà đã hân hoan gia nhập “Đoàn Hòa bình” (“Peace Corps”), có nhiệm vụ tiến hành giúp đỡ phát triển và chuyển tải văn hóa Phương Tây. Đối với những người tham gia thì chương trình này đa phần là một thành công cá nhân. Thế nhưng về mặt chính trị thì lý tưởng và sự lạc quan vào lúc ban đầu đã nhanh chóng giảm xuống, và nhiều người trở về đã bắt đầu phê phán sự nghèo khổ, những vấn đề phân biệt chủng tộc và bất bình đẳng về kinh tế trong chính đất nước của họ.

Có tầm ảnh hưởng quan trọng hơn là việc ngân sách quốc phòng được nâng lên cao (từ 46 tỉ dollar trong năm 1960 lên 54 tỉ dollar trong năm 1963), và sự thay đổi trong chiến lược an ninh của Mỹ. “Trả đũa thật nặng” và “New Look” đã chứng tỏ là không có khả năng để chống lại các xung đột vũ trang địa phương. Do Tướng Maxwell Taylor phác thảo, chiến lược phòng thủ mới của Hoa Kỳ bây giờ nằm trong sự “phản ứng linh hoạt” (flexible response). Nó có nhiệm vụ làm giảm bớt mối nguy hiểm của một cuộc chiến tranh hạt nhân, mở rộng không gian hoạt động của Hoa Kỳ và tạo khả năng cho các phản ứng quân sự từng bước. Hưởng lợi trước hết từ học thuyết mới là lực lượng quân đội thông thường mà đối với nó “flexible response” có tác động giống như một lần truyền dịch. Tuy nhiên, vào lúc ban đầu thì hầu như không nhận ra được tác động của chiến lược mới: Nó không bổ sung hay thay thế được cho sự quản lý khủng hoảng chính trị thận trọng mà chính phủ Kennedy đã tiến hành với nhiều thành công ở Berlin năm 1961 và đặc biệt là trong thời gian của cuộc Khủng hoảng Cuba trong tháng Mười 1962. Theo một cách nào đó thì “flexible response” cũng tương ứng với bài diễn văn của Khrushchev trong tháng Giêng 1961: cả hai người đều được thúc đẩy qua chính sách đối nội, và cả hai đều hứa hẹn cho phe của mình và thế giới một cách thức ứng xử dứt khoát nhưng cũng có phân biệt với các vấn đề đối ngoại.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

————————————————————————————————————————

[1] McNaughton nói với McNamara, 14/3/1965, trong: The Pentagon Papers (The Senator Gravel Edition), tập 3, trang 695

[2] Public Papers of the President, John F. Kennedy, 1961, Washington 1962, trang 3.

Advertisements

One thought on “Kennedy và “Ranh Giới Mới”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s