Thế giới của phong trào giải phóng dân tộc

“Năm 1956/57 cuộc sống rất dễ chịu, và một vài người dân làng thậm chí còn có cả xe gắn máy. Rồi Luật 10/59 ra đời. Qua đó, Diệm có quyền chém đầu những người bị nghi là có thiệm cảm với Việt Cộng. Nhiều người lo lắng. Trong tháng Ba 1960, có một trận đá banh giữa đội tôi với một đội khác. Cả hai đội chơi bóng rất quyết liệt và rất ghét nhau. Vì vài gia đình của những đứa bên đội kia làm việc cho chính phủ nên tôi nghĩ rằng họ muốn trả thù tôi. Tôi sợ và muốn bỏ trốn. Tôi đi về nhà. Việt Cộng biết rằng tôi đã thắng trận đá banh đó, và họ đến gặp tôi, để thuyết phục tôi theo họ. Họ nói: ‘Thấy không, anh phải bỏ trốn. Nhưng không được đâu. Anh không có vũ khí. Họ sẽ bắt được anh và đánh đập anh’. Việt Cộng đào cho tôi một cái hố ở dưới lòng đất để tôi có thể trốn ở dưới đó.”[1]

Tường thuật này là một trong hàng ngàn tường thuật cho biết tại sao một người nào đó lại tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng (MTDTGP). Mỗi một người phụ nữ, mỗi một người đàn ông đều có động cơ cá nhân của họ để bước ra khỏi cuộc sống bình thường và lui vào trong vòng bất hợp pháp với tất cả những mối nguy hiểm của nó cho thân thể và mạng sống, để quyết định dùng bạo lực vũ khí mà chiến đấu chống chính phủ và tham gia vào công cuộc thực hiện một trật tự xã hội mới. Dù lý do cho việc tham gia MTDTGP có khác nhau cho tới đâu đi chăng nữa, tường thuật này làm sáng tỏ một vài yếu tố mang tính kiểu mẫu: Đó là về sự sợ hãi trước chế độ độc đoán của Diệm, về mối đe dọa bởi các thành viên của chính phủ và về ước muốn có sự an toàn. MTDTGP hứa hẹn sự an toàn cho người dân – an toàn thân thể, vật chất, chính trị và hệ tư tưởng.

Một đơn vị thuộc "Quân đội Giải phóng Nhân dân"
Một đơn vị thuộc “Quân đội Giải phóng Nhân dân”

Vào đầu những năm sáu mươi, hàng ngàn người đã gia nhập MTDTGP. Nếu như lực lượng du kích quân năm 1958 còn là tròn 1700 người theo ước lượng của CIA thì các phân tích của cuối năm 1962 đã đưa ra con số 23.000 tới 34.000 cho quân số của MTDTGP. Chưa đầy hai năm sau đó, Lầu Năm Góc ước lượng quy mô quân đội “chính quy” của MTDTGP, “Quân đội Giải phóng Nhân dân”, là 51.000 người lính. Trong những vùng mà Việt Minh trước đây đã có ảnh hưởng lớn, việc tuyển mộ diễn ra tương đối trôi chảy. Điều này cũng đúng như vậy cho những vùng đất trong đồng bằng sông Cửu Long mà đã được các giáo phái thống trị. Trong những vùng đất khác của đồng bằng sông Cửu Long, trong những tỉnh ở phía Nam và dọc theo bờ biển, việc tuyển mộ thành viên mới và du kích quân mới diễn ra từng bước một và bằng nhiều cách khác nhau. Trong khi người này được chỉ cho một nơi ẩn náu an toàn thì cán bộ MTDTGP nhờ những người khác đưa tin. Những người khác nữa được mời tham dự những buổi trao đổi mà trong đó người ta học đọc và viết, và có thể theo dõi những thảo luận về chính trị. Chỉ khi người nào đó được gắn chặt vào tổ chức qua những phương cách đó và bộc lộ lòng trung thành thì MTDTGP mới đào tạo người này trở thành một du kích quân – một chiến binh sẵn sàng liều mạng sống của mình cho những mục tiêu của phong trào và nhất định “giải phóng” cho ngôi làng quê hương của anh ta và những nơi khác.

Các phương pháp mà MTDTGP sử dụng để chiếm lấy một ngôi làng được ứng biến cho phù hợp với tình hình địa phương. Trong vùng rừng rậm ở cạnh biên giới với Campuchia, trong những vùng đầm lầy phía đông nam Sài Gòn và trong những vùng khó đi lại thì việc giành lấy quyền lực diễn ra tương đối đơn giản: Con số ít nhân viên nhà nước bị đe dọa, một vài người có thể bị giết chết và người ta yêu cầu phần còn lại hãy rời làng. Trong những vùng mà chính phủ Sài Gòn có ảnh hưởng tương đối mạnh hơn – ví dụ như trong nhiều vùng thuộc đồng bằng sông Cửu Long, ở khu ngoại vi các thành phố hay dọc theo bờ biển – thì MTDTGP phải dựa vào sự giúp đỡ của người dân làng, vì chỉ với sự hỗ trợ tại địa phương thì mới tuyển được quân lính mới. Ngay sau khi đại diện chính phủ biết được sự hiện diện của MTDTGP, thường thì Sài Gòn gửi tới thêm nhiều nhân viên nữa, và tuyển thêm lực lượng phòng vệ. Tiếp theo sau đó hay có một làn sóng bất bình xuất hiện, vì những “người từ bên ngoài vào” này sống nhờ vào cộng đồng làng. MTDTGP lợi sụng sự không hài lòng đó, giết chết một vài người đại diện cho chính phủ, những người khác tìm cách bảo toàn cho mình và biến mất. Bây giờ thì MTDTGP có thể giành được ngôi làng, kiểm soát và tùy theo tình hình mà huy động người dân. Bằng đe dọa hay qua thuyết phục, qua ép buộc hay tình nguyện cộng tác, họ khiến người dân phải củng cố và bảo vệ ngôi làng. Sau đó, Sài Gòn có thể phản ứng và gởi quân đội đến. Kết quả của một cuộc đối đầu vũ trang thông thường là những ngôi nhà bị hư hại hay bị phá hủy, những kho dự trữ lương thực bị cướp bóc và người chết. Chậm nhất là bắt đầu từ lúc đó, MTDTGP nắm chắc được ngôi làng, người dân của họ tin vào sự xấu xa của chính phủ Sài Gòn. Bằng cách đó, hàng ngàn ngôi làng đã rơi vào vùng ảnh hưởng của MTDTGP. Nam Việt Nam vào đầu những năm sáu mươi là một đất nước bị chia ba: những vùng đồi núi phía tây nằm trong tay MTDTGP, vùng đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh phía nam Bạc Liêu, Kiên Giang và An Xuyên bị giành giật, trong khi những vùng bờ biển và đặc biệt là vùng ngoại vi của những thành phố như Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng và Huế đều nằm hầu hết dưới sự kiểm soát của chính phủ.

Đối với MTDTGP, với việc giành được một ngôi làng, nhiệm vụ thật sự của họ mới bắt đầu. Đất đai và an ninh là các yếu tố cơ bản mà với chúng, họ có thể củng cố và ổn định quyền lực của họ. Một cuộc cải cách ruộng đất vì vậy mà là nền tảng cho bất cứ hành động chánh trị nào. Để tránh xung đột có thể xảy ra, người ta chỉ giao nhiệm vụ này cho các cán bộ địa phương. Qua đó, hàng trăm ngàn người lần đầu tiên đã sở hữu đất đai. Ví dụ như trong các tỉnh ở phía nam của Sài Gòn, trong năm 1961, tức là ngay trước khi MTDTGP xuất hiện mạnh trong vùng này, chỉ có 22% nông dân có đất riêng, 28,5% khác thuê đất. 44,5% tất cả nông dân hoàn toàn không có đất. Cũng như Việt Minh trong những năm bốn mươi và đầu những năm năm mươi, cùng với việc tái phân chia ruộng đất, MTDTGP đã giải quyết một yêu cầu truyền thống của xã hội nông nghiệp, cái mà cũng đã được phản ánh trong một câu nói xưa cũ của Việt Nam. “Đất đai nên thuộc về những người quanh năm chà đất giữa hai bàn tay của họ.”[2]

Song song với cải cách ruộng đất, MTDTGP giảm tô xuống còn 10% lượng thu hoạch. Ngược lại, cho tới năm 1967, chủ đất trong những vùng do chính phủ kiểm soát còn thu tô từ 25 đến 40%. Đi theo lý tưởng của một sở hữu vừa đủ và tự cung cấp, MTDTGP còn thi hành một chính sách thuế có lợi cho tiểu nông và tạo khó khăn cho việc mua đất. Họ dấu không nói về việc tập thể hóa sở hữu đang bắt đầu ở miền Bắc năm 1960.

Một ngôi làng nằm trong vùng giải phóng năm 1973. Hình: Rene Burri
Một ngôi làng nằm trong vùng giải phóng năm 1973. Hình: Rene Burri

Cả trong lĩnh vực nhân sự và hành chánh, MTDTGP cũng cố gắng thực hiện các mục tiêu của họ. Ngược với các nhân viên của chính phủ, cán bộ của họ xuất hiện như là những người hợp tác với nông dân, bình đẳng. Vì vậy, tám trong mười hai quy định cơ bản mà bất cứ cán bộ MTDTGP nào cũng phải giữ đúng là về việc cư xử với người dân. Trong đó, người ta yêu cầu phải cần kiệm, trung thực, cởi mở, tôn trọng không gian cá nhân và sở hữu cá nhân, và những vụ vi phạm kỷ luật đều bị trừng phạt nghiêm khắc. Hình ảnh lý tưởng của một người cán bộ liêm chính, trung thực và can đảm rất được coi trọng, vì cuối cùng thì người ta phải dựa vào sự khoan dung và hợp tác của người dân ở nông thôn. Nhưng MTDTGP cũng tiến hành cưỡng ép, đe dọa, thao túng một cách cay độc để gây hoảng sợ và cũng sử dụng bạo lực một cách dã man. Điều chủ yếu cho thành công của họ là việc kích động căm thù – đặc biệt là căm thù “những tên đế quốc Mỹ và tay sai của chúng”. Khích lệ và định hướng sự hung hãn là một phương tiện được ưu tiên trên con đường dài đi tới quyền lực. Nó tạo khả năng để sử dụng có định hướng các năng lực cách mạng và đồng thời phục vụ cho việc kiểm soát xã hội. Lòng căm thù kẻ địch ở bên ngoài tăng cường và củng cố tình đoàn kết và gắn bó của cộng đồng làng; nó giúp đè nén những xung đột vì lợi ích chung và giữ gìn kỷ luật.

Một thành phần quan trọng khác cho sự thành công của MTDTGP là tổ chức. Nó không chỉ là việc xây dựng những cơ cấu chỉ huy hoạt động tốt mà là cả việc tái tổ chức cuộc sống làng mạc. Ở bất cứ nơi nào mà MTDTGP chiếm được quyền lực, họ bao giờ cũng tiến hành những khóa học tập cải tạo cho những người công khai theo chính phủ Sài Gòn. Họ tổ chức những cuộc họp trong làng mà trong đó thường là một thành viên của Mặt Trận được bầu làm người đứng đầu. Họ nhồi sọ người dân và thúc ép họ tham gia một trong những tổ chức quần chúng của MTDTGP. Người nông dân bị đưa vào trong “Phong trào Giải phóng Nông dân” và làm quen với những hình thức kinh tế tập thể, trong khi phụ nữ thì có thể tham gia “Phong trào Giải phóng Phụ nữ”. Năm 1965, các “Phong trào Giải phóng” này theo ước đoán của CIA đã có nửa triệu thành viên (tại một dân số tròn 15 triệu). Các phân tích khác của Mỹ vào cuối những năm sáu mươi cho rằng từ 50 đến 75% người dân dưới sự kiểm soát của MTDTGP đều tham gia hoạt động chính trị theo một cách nào đó hay thuộc một tổ chức quần chúng. Thật ra thì sau khi đến nơi, MTDTGP hầu như không đưa ra một khả năng nào khác cho người dân làng ngoài việc thích ứng với tình cảnh. Nhiều người dân không tán thành các loại thuế mà MTDTGP áp đặt, nhất là khi chúng tăng mạnh sau 1965. Những người khác thì than phiền về việc họ bị ép buộc phải đi làm việc. Thế nhưng ở những nơi mà Mặt Trận lo cho họ có ruộng đất và an ninh, và có thể mang lại một nhận thức về sự ổn định, thì phần lớn người dân đều cam chịu sự hiện diện của Mặt Trận.

Cả trong nội bộ MTDTGP và trong Đảng Cộng sản, tổ chức cũng có một tầm quan trọng nổi bật. Mỗi một cán bộ, từ người du kích hoạt động tại địa phương cho tới các thành viên lãnh đạo đều thuộc trong một tổ. Tổ này bao gồm từ ba cho tới mười người ngang cấp nhau, có điểm đặc trưng là một mạng lưới dầy đặc những gắn kết cá nhân và chính trị. Nó thay thế cho gia đình, là chỗ dựa trong những tình huống khó khăn của cuộc sống và đưa ra giải pháp cho các vấn đề. Các quyết định được tập thể đưa ra mà trong đó người mà đồng thời cũng thuộc một tổ cao cấp hơn về mặt hành chánh có một trọng lượng đặc biệt. Hành động tập thể cũng như tổ chức hàng ngang và hàng dọc ngăn chận sự tan rã của một tổ khi thành viên riêng lẻ bị bắt hay bị giết chết. Đứng trên giới lãnh đạo các tỉnh là bốn ban chỉ huy liên vùng mà về mặt địa lý đại khái tương ứng với các đơn vị quân sự-hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa (vùng chiến thuật I – IV). Cấp lãnh đạo cao nhất của MTDTGP bao gồm 64 thành viên mà trên lý thuyết là do đại biểu các tình bầu lên. Quyền hành nằm trong tay của một ủy ban chịu trách nhiệm về mặt đối ngoại và quân sự. Bên cạnh đó là một văn phòng cho việc nội bộ. Tuy việc lập tổng kế hoạch chính trị và quân sự được tiến hành tập trung nhưng giới lãnh đạo tỉnh và đặc biệt là du kích quân địa phương được giao cho một quyền tự trị lớn. Vì vậy, tuy MTDTGP có một quân đội chính quy với Quân đội Giải phóng Nhân dân, nhưng làng nào cũng có một đơn vị du kích riêng, tình báo riêng, cơ sở đào tạo riêng và dịch vụ xã hội riêng.

Với “Đảng Nhân dân Cách mạng” (ĐNDCM), những người cộng sản, một cơ cấu tổ chức thứ nhì tồn tại ở bên trong MTDTGP. Nhiệm vụ của đảng này là tiến hành các mục tiêu về ý thức hệ và chính trị đã được đưa ra và lo sao cho tất cả các thành viên của MTDTGP đều thi hành đúng những việc này. Đảng viên có quyền phủ quyết tại các quyết định quân sự và chính trị quan trọng. Trên thực tế, ĐNDCM lãnh đạo Mặt Trận, và về phần mình thì ĐNDCM hoạt động thường là có phối hợp chặt chẽ với giới lãnh đạo của đảng Lao Động ở Hà Nội.

Mặt trận không chỉ là một tổng số của các đơn vị có chức năng về quân sự và hành chánh. Mặt Trận mang lại học vấn cho nam nữ trẻ tuổi – ngay cả khi có sàng lọc trước – và giúp họ có được một kiến thức mà chân trời của nó trải ra khỏi thế giới trải nghiệm của làng mạc rất xa. Đào tạo một thiếu niên lớn lên ở nông thôn để trở thành một du kích quân, trở thành một nhân viên vô tuyến điện, chuyên gia về chất nổ hay cán bộ chính trị không chỉ đơn thuần là việc học và nắm vững những khả năng nào đó. Nó có ảnh hưởng đến sự phát triển của cá nhân và thay đổi hoàn toàn toànbộ cuộc sống; nó khiến cho người ta nghi ngờ truyền thống và gắn kết tương lai với những mong đợi do MTDTGP định nghĩa.

Thêm vào đó, MTDTGP biết cách liên kết những câu hỏi về xã hội, chính trị và hệ tư tưởng với các phương diện vật chất. Phần lớn thành viên của MTDTGP không phải là những người cộng sản giáo điều, hầu như không một ai đã nghiên cứu các tác phẩm của Marx, Engels và Lênin. Đối với nhiều người cộng sản, cả Chủ nghĩa Marx-Lênin cũng là một mô hình trừu tượng có tầm quan trọng thứ cấp. Họ tin rằng một thái độ cư xử trung thực và đúng đắn của tất cả các đảng viên nhất định sẽ mang lại các phương cách và chương trình chính trị đúng đắn. Mục tiêu cấp bách là cuộc giải phóng do chủ nghĩa cộng sản yêu cầu, giải phóng khỏi “chủ nghĩa đế quốc”, khỏi Diệm và các cố vấn Mỹ của ông, và xóa bỏ những bất bình đẳng về xã hội và kinh tế. Yêu cầu này hòa hợp với truyền thống Nho giáo ở một điểm trung tâm: ước muốn có một xã hội hài hòa. Đòi hỏi bình đẳng về kinh tế và xã hội rất phổ biến trong người dân ở nông thôn, những người sống trong các hoàn cảnh hết sức khiêm tốn. Bất bình đẳng mang lại chia rẽ, xung đột và bất an. Bình đẳng về kinh tế ngược lại không chỉ có nghĩa là một thu nhập công bằng cho tất cả mọi người mà còn có tác động ổn định xã hội và tạo an toàn. Đó là chiếc chìa khóa đi tới thành công của MTDTGP. Không phải ý thức hệ trừu tượng mà là lý tưởng và hy sinh cá nhân là các động lực chính của MTDTGP – phục vụ vô điều kiện cho một cộng đồng mà trong tư tưởng Nho giáo cũng như cộng sản là một cộng đồng nhiều hơn tổng số đơn thuần của các cá nhân ở trong đó. MTDTGP rút ra từ đó một ưu thế về đạo đức, cái chưa từng bao giờ để cho niềm tin vào chiến thắng giảm sút đáng kể, mặc cho nhiều chiến bại, và là cái đã làm cho họ trở thành một đối thủ đáng gờm.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

———————————————————————————————————————–

[1] Trích dẫn theo FitzGerald, Fire in the Lake, trang 155.

[2] Trích dẫn theo Eric Bergerud, The Dynamics of Defeat: The Vietnam War in Hau Nghia Province, New York 1991, trang 16.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s