Chính sách Việt Nam của Mỹ sau Hội nghị Genève

Ngô Đình Diệm
Ngô Đình Diệm

Chính phủ Mỹ chỉ tham dự Hội nghị Đông Dương ở Genève với nhiều bảo lưu lớn, và thậm chí còn từ chối không công nhận chính thức quyết định ngưng bắn và chia cắt bằng chữ ký của họ. Ở Washington, Hội đồng An ninh Quốc gia nhìn các kết quả của Genève như là một “thảm họa”[1]. Tuy vậy, lần chia cắt đất nước ít ra thì cũng mang lại khả năng kéo miền Nam Việt Nam ra khỏi ảnh hưởng của cộng sản. Qua đó, hai mục đích cơ bản bây giờ đứng ở hàng đầu trong chính sách Đông Dương của Mỹ: một mặt, các lực lượng chống cộng sản ở Nam Việt Nam phải được củng cố và một sự lựa chọn dân tộc chủ nghĩa khác thay thế cho những người cộng sản dưới quyền Hồ Chí Minh phải được thiết lập. Điều đó đòi hỏi phải nhanh chóng đẩy lùi ảnh hưởng của Pháp ra khỏi Nam Việt Nam. Mặt khác, một cấu trúc an ninh khu vực cần phải được thành lập, cái có thể ngăn chận không cho ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản lan rộng ra. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dulles tìm thấy giải pháp cho vấn đề này trong một phiên bản mới của những cố gắng về “hành động hợp nhất” của ông.

Trong tháng Chín 1954, Hoa Kỳ cùng với Liên hiệp Anh, Australia, New Zealand, Pháp, Philippines, Thái Lan và Pakistan thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (Southeast Asian Treaty Organization, SEATO). Trong đó, các quốc gia ký hiệp ước cam kết sẽ hội ý lẫn nhau trong trường hợp có mối đe dọa từ bên ngoài – của cộng sản. Trong một biên bản riêng, các thành viên SEATO mở rộng phạm vi có hiệu lực của hiệp ước sang Lào, Campuchia và “vùng lãnh thổ tự do dưới quyền lực pháp lý của nhà nước Việt Nam”. SEATO khác biệt cơ bản so với NATO, tổ chức mà các thành viên của nó tự nguyện bảo đảm việc bảo vệ tập thể cho lãnh thổ của các quốc gia là thành viên. SEATO chỉ có dự định cố vấn lẫn nhau, không có những cam kết khác. Thêm vào đó, SEATO bao gồm cả những vùng đất (Đông Dương) bị cấm không được tham gia công khai vào trong các liên minh quân sự. Điều đó là một vi phạm rõ rệt các hiệp định Genève. Eisenhower và Dulles rất tiếc phải chấp nhận rằng Ấn Độ, Miến Điện và Indonesia, tức là các quốc gia đông dân cư nhất và quan trọng về mặt chính trị ở rìa của khu vực này, đã từ chối không tham gia vào câu lạc bộ của những nước đa phần là “da trắng”. Họ biết rõ rằng SEATO trước hết là một phương tiện của chính phủ Hoa Kỳ, để hợp pháp hóa những sự can thiệp vào công việc của Đông Nam Á trong tương lai.

Một công cụ khác, mà Hoa Kỳ muốn dùng nó để bảo đảm cho sự tích hợp của Nam Việt Nam vào trong vùng ảnh hưởng của Phương Tây, là tình báo. Tổng thống Eisenhower, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dulles và người em trai của ông, Allen W. Dulles, giám đốc “Central Intelligence Agency” (CIA), xem các hoạt động tình báo như là một phương tiện quan trọng của chính sách đối ngoại. Ở những nơi mà các nhà ngoại giao đụng phải ranh giới, vì rắc rối quốc tế, hiệp ước, lợi ích của các quốc gia khác hay diễn tiến đối nội tạo khó khăn cho việc thực hiện công khai các mục tiêu của nước Mỹ, thì CIA được sử dụng. Ngoài ra, CIA hầu như nằm ngoài sự kiểm soát của Quốc Hội. Điều đó tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện các ý muốn về đối ngoại của Nhà Trắng.

Trong tháng Sáu 1954, Đại tá Không quân Edward Lansdale với mười hai nhân viên CIA tới Sài Gòn, để “cứu những gì còn cứu được”[2], theo nhận định của William Colby, người sau này là sếp tình báo. Cựu nhân viên ngành quảng cáo Lansdale đã tham gia mang tính quyết định vào trong lần trấn áp một cuộc nổi dậy của người cộng sản ở Philippines. Hầu như không một người Mỹ nào khác ở Việt Nam trong những năm năm mươi mà có thể bộc lộ tinh thần “Can-do” tích cực của thời đó như Lansdale. Ông tin chắc rằng viện trợ tài chính của Mỹ, trong kết hợp với tính thực dụng Mỹ nổi tiếng và với một phần quan tâm thích đáng tới sự việc, sẽ có thể làm cho các nước của Thế giới thứ Ba dần dần trở thành những xã hội phát triển, tư bản-dân chủ. Vì chủ nghĩa cộng sản hoạt động khắp thế giới đứng ngăn cản điều đó, nên Lansdale xem việc tiêu diệt nó qua hoạt động cụ thể và gương mẫu cá nhân như là nhiệm vụ cấp bách của ông. “Đừng quên rằng”, ông giải thích cho giới quân đội Mỹ, “du kích cộng sản dấu mình trong đám đông. Khi các anh lôi kéo người dân về bên phía các anh thì du kích cộng sản sẽ không còn có nơi ẩn nấp nữa. Khi họ không có nơi ẩn nấp nữa thì các anh có thể tìm thấy họ. Rồi thì hãy tóm chặt lấy họ và tiêu diệt họ!”[3] Lansdale, được nhà văn Graham Greene thể hiện một cách hài hước như là Alden Pyle trong The Quiet American (1954) và được William J. Lederer và Eugene Burdick tôn vinh trong tiểu thuyết The Ugly American (1958) của họ như là Thiếu tá Hillendale, đã sử dụng một loạt các phương pháp tình báo. Phần lớn các cố gắng của ông là nhằm đẩy lùi ảnh hưởng của Pháp trong quân đội Việt Nam, và đào tạo chuyên gia cho cuộc chiến tranh du kích. Từ khi Hiệp định Genève chấm dứt, ông gởi nhiều nhóm nhỏ ra miền Bắc. Những nhóm này đổ đường vào trong bình xăng của các xe buýt ở Hà Nội, để làm tê liệt hệ thống giao thông công cộng và kích động sự bất bình của người dân. Một loạt các chiêm tinh gia thường hay được hỏi ý kiến ở Việt Nam đã được hối lộ để họ tiên đoán một tương lai đen tối cho miền Bắc. Các hoạt động thả truyền đơn nhắm tới trước hết là những người Công giáo. Những người này không phải đơn độc rời bỏ miền Bắc vì người cộng sản. Ngay cả “Đức Mẹ Đồng Trinh Maria” cũng đã quay lưng lại với miền Bắc và đã đi vào miền Nam, để chứng minh cho sự vô thần của chế độ VNDCCH. Cuộc chiến tranh tâm lý này (psychological warfare) chắc chắn không mang tính quyết định cho lần di cư của khoảng một triệu người Việt mà đa phần là Công giáo, những người mà đã di cư vào miền Nam sau quyết định chia cắt của Genève. Nhưng chúng cũng không phải là hoàn toàn không quan trọng, nhất là khi lực lượng TQLC Mỹ với một “cây cầu tự do” đã tham gia đáng kể vào trong việc vận chuyển những người di cư này. Mục đích của tất cả các hoạt động đó là làm cho người dân lo sợ và gây bất ổn định cho chế độ cộng sản.

Edward Lansdale và Ngô Đình Diệm
Edward Lansdale và Ngô Đình Diệm

Ngay từ trong thời gian của Hội nghị Genève, Bộ Ngoại giao Mỹ đã tìm kiếm các nhân vật thích hợp có thể đứng đầu một chính quyền Nam Việt Nam. Nếu có thể thì đó phải là một chính phủ chống cộng sản và chống thực dân lẫn dân tộc chủ nghĩa đích thực. Công việc tìm kiếm hóa ra là khó khăn, vì giới tinh hoa nhỏ về chính trị và kinh tế của Việt Nam ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ thì đã cộng tác với người Pháp. Với Ngô Đình Diệm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dulles cho rằng đã tìm được đúng người. Con người sùng đạo Công giáo này đã nhanh chóng thăng tiến trong bộ máy của chính quyền thực dân Pháp vào cuối những năm hai mươi khi còn là một người trẻ tuổi. Năm 1933, ông là Bộ trưởng Bộ Nội vụ dưới quyền Bảo Đại trong một thời gian ngắn, thế nhưng chỉ sau vài tuần sau lại từ chức sau một cuộc tranh cãi về quyền hạn với người Pháp. Sau đó, ông lui ra khỏi chính trường và sống cuộc sống của một người độc thân quay lưng lại với thế giới. Mùa xuân 1945, người Nhật cũng đã hoài công cố gắng mời Diệm giữ một chức vụ trong chính phủ Bảo Đại do họ dựng lên. Thậm chí sau chiến tranh Hồ Chí Minh còn cố gắng thuyết phục ông cộng tác. Thế nhưng con người kiên quyết chống cộng sản này – một người anh của ông bị Việt Minh giết hại – không muốn biết gì về những việc đó. Thay vì vậy, Diệm sang Mỹ định cư, trong một nơi giống như tu viện ở New Jersey. Trong một chuyến đi thuyết trình, người Việt này, mà cho tới thời điểm đó còn chưa được biết tới, đã tạo một loạt quan hệ quan trọng, đưa ông lên trở thành một nhà đại diện nổi tiếng cho đất nước của ông trong những giới có nhiều ảnh hưởng. Thuộc vào trong giới này, giới mà năm 1955 đã thành lập “American Friends of Vietnam”, là đức Hồng y Francis Spellman, William O. Douglas, quan tòa của Tòa án Liên bang Tối cao, Joseph Kennedy và con trai của ông, thượng nghị sĩ trẻ tuổi John F. Kennedy, thượng nghị sĩ Mike Mansfield cũng như cựu giám đốc tình báo Mỹ trong Đệ nhị thế chiến (OSS), tướng William “Wild Bill” Donovan. Nhờ vào sự bảo hộ của họ mà Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dulles tin rằng ở Diệm, ông đã nhận ra được người lãnh đạo thích hợp cho một (Nam) Việt nam chống cộng sản và chống thực dân. Sau khi ông thúc ép Bảo Đại và chính phủ Pháp chấp nhận Diệm làm thủ tướng, người này về đến Sài Gòn vào ngày 25 tháng Sáu 1954. Nhưng rủi ro thì thật là lớn: Đại sứ Mỹ ở Paris mô tả Diệm như là một “người huyền bí giống như người tập luyện yoga”, mà chỉ duy nhất một sự việc mang lại lợi thế cho ông, đó là mức rất thấp do những người tiền nhiệm của ông đưa ra. Và trong đại diện ngoại giao của Hoa Kỳ ở Sài Gòn thì người ta cho ông là “một vị cứu tinh không có thông điệp”, người mà toàn bộ chính sách của ông ấy nằm trong việc yêu cầu nước Mỹ giúp đỡ.[4]

Thật sự thì Diệm hầu như không thể giữ lấy quyền lực nếu như ông không được Hoa Kỳ và đặc biệt là CIA giúp đỡ. Chính quyền thực dân Pháp, còn có nhiệm vụ nắm quyền cho tới lần tổng tuyển cử được dự định vào tháng Bảy 1956, luôn cố gắng gây khó khăn cho công việc điều hành cho ông. Và bên cạnh người Pháp và quân đội Việt Nam do họ kiểm soát, quân đội mà cũng đứng đối diện không tán thành Diệm, còn có thêm những trung tâm quyền lực khác nữa. Trước sau thì hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo vẫn quản lý nhiều vùng rộng lớn ở đồng bằng sông Cửu Long và các nơi khác một cách hết sức trần tục. Trong thủ đô Sài Gòn thì đó là Bình Xuyên, lực lượng luôn luôn là một mối đe dọa tiềm năng cho một chính phủ của bất cứ phe phái chính trị nào. Tổ chức tương tự như mafia này, trong quá khứ được người Pháp cho phép kiểm soát việc mua bán thuốc phiện, cờ bạc, mãi dâm – và làm cảnh sát. Sau khi Diệm cố gắng ngăn chận thế lực của Bình Xuyên thì đã có nhiều trận chiến thật sự đã bùng nổ ra ở Sài Gòn trong tháng Ba 1955. Khi các lực lượng dân quân của Cao Đài và Hòa Hào liên kết với Bình Xuyên và cuối cùng Bảo Đại từ dinh cơ của ông ở Côte d’Azur cũng cố thuyết phục người thủ tướng kém may mắn này rời bỏ đất nước thì số phận chính trị của Diệm dường như đã ngàn cân treo sợi tóc.

Cả đặc sứ Mỹ ở Sài Gòn, Tướng J. Lawton Collins, cũng cho rằng ngày tàn của Điệm đã đến. Từ khi đến đây trong tháng Mười Một 1954, người thân cận của Eisenhower này đã theo dõi chính sách của Diệm với nỗi nghi ngờ ngày một tăng. Ông phê phán chính phủ của người này là tham nhũng và không có hiệu quả. Theo đánh giá của Collins, thiếu sự ổn định về chính trị đã ngăn cản không cho củng cố quân đội Việt Nam và qua đó là công cuộc xây dựng một hệ thống nhà nước có khả năng tồn tại. Cuối tháng Tư 1955, viên đặc sứ bay trở về Washington, để đích thân mình chỉ ra tình trạng không đủ khả năng và bất lực của Diệm. Collins có thể thuyết phục được Eisenhower đứng về phía quan điểm của ông. Bất chấp sự chống đối của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dulles, Tổng thống trao quyền cho ông để hoạt động hướng tới một thỏa hiệp ở Sài Gòn. Người ta cần phải đẩy Diệm sang một chức vụ chỉ mang tính tượng trưng, và quyền lực thật sự cần phải tạm thời trao về cho giới đứng đầu quân đội. Trong thời gian đó, Collins cần phải tìm một lựa chọn khác để thay thế Diệm. Thế nhưng trong lúc viên đặc sứ còn đang bay trở về Sài Gòn thì đã xảy ra một điều gây ngạc nhiên cho tất cả các bên: lực lượng quân đội trung thành với Diệm đánh bật một cuộc tấn công của Bình Xuyên ra khỏi dinh thủ tướng, và xua đuổi quân đội mafia này ra khỏi Sài Gòn qua một cuộc chiến kéo dài nhiều ngày. Diệm lợi dụng thời điểm có lợi cho ông. Với sự giúp đỡ của Lansdale và của CIA, bây giờ thậm chí ông còn quay sang các giáo phái. Các số tiền hối lộ hào phóng của CIA đưa cho một vài người lãnh tụ của các giáo phái – nhà báo Bernard Fall đưa ra con số mười hai triệu dollar – và những thành công về quân sự trong lúc chống lại lực lượng dân quân Cao Đài và Hòa Hảo cũng đã trung lập hóa sự đối kháng của họ trong vòng chỉ vài tuần. Qua đó, Diệm đã hầu như đã củng cố được quyền lực của mình. Ở Washington, người ta hết sức mừng rỡ về người đàn ông đã vươn lên từ đống tro tàn như một con phượng hoàng, và đã chứng tỏ mình có thần kinh vững chắc cũng như khả năng vượt qua trở ngại.

First Indochina War, 1945-55. Dien Bien Phu, the end of the French. Automatic weapons fire from ARVN troops pins down Binh Xuyen rebels at the Petrus Ky School. April 28, 1955.
Quân chính phủ bao vây quân phiến loạn Bình Xuyên phía trước trường Pétrus Ký, trên đường Cộng Hòa (thời Pháp là đường Nancy, nay là Nguyễn Văn Cừ) — Image by © CORBIS

Năm tháng sau đó, Diệm thanh toán với Bảo Đại, người tranh giành quyền lực cuối cùng với ông ở Nam Việt Nam. Trong một cuộc “bầu cử”, ông để cho mình đắc cử trở thành tổng thống của Việt Nam Cộng hòa (RVN) có chủ quyền; qua đó, ông cũng đồng thời chấm dứt chế độ thực dân Pháp. Trong cuộc bầu cử này, nhà chuyên môn quảng cáo Lansdale đã không chừa bất cứ điều gì lại cho sự tình cờ: phiếu bầu cho Diệm có màu đỏ, đồng nghĩa với sự may mắn, trong khi cho Bảo Đại là màu xanh lá cây, báo hiệu cho bất hạnh. Lansdale cho rằng sáu mươi phần trăm người dân chấp nhận Diệm thì là đã đủ, thế nhưng trên thực tế có tới 98,5 phần trăm phiếu bầu cho ông. Thậm chí ở Sài Gòn, từ 405.000 cử tri có đăng ký, Diệm nhận được tới 605.000 phiếu. Cuộc bầu cử bị thao túng, nhưng điều đó dường như chỉ là thứ cấp đối với những người có trách nhiệm ở Washington. Việc Diệm là một người dứt khoát chống cộng sản và chống Pháp, và đã củng cố chính quyền của ông qua những hành động cương quyết, điều đó là đã đủ. Trong một điểm khác, các mục tiêu cơ bản của Diệm và Hoa Kỳ cũng trùng với nhau: cả hai đều muốn nhất định phải ngăn chận cuộc tổng tuyển cử đã được quyết định ở Genève.

Theo nghị quyết chia đôi và tái bố trí của Genève, có khoảng 130.000 Việt Minh đã tạm thời đi ra miền Bắc. Họ nghĩ rằng có thể trở về quê hương của họ sau cuộc bầu cử được dự định sẽ tiến hành trong tháng Bảy 1956. Vì không chỉ họ, mà toàn bộ những người quan sát ở Sài Gòn và Washington cũng loại trừ khả năng là Diệm có một cơ hội dù mỏng manh trong cuộc tổng tuyền cử trên toàn Việt Nam. Chính Diệm cũng biết điều đó. Ông ít được người dân yêu thích, những người theo ông ở miền Nam giới hạn ở một vài phần trong quân đội và hành chánh cũng như ở những người Công giáo, đặc biệt là từ miền Bắc. Ngược lại, Hồ Chí Minh và Việt Minh được số đông nông dân xem như là người giải phóng Việt Nam ra khỏi chế độ thực dân Pháp. Tuy Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dulles vẫn công khai yêu cầu Diệm ủng hộ cho cuộc tổng tuyển cử. Thế nhưng đó chỉ là lời nói suông. Ở hậu trường, người ta bảo đảm với ông rằng chính phủ Mỹ xem cuộc tổng tuyển cử đó như là một mối nguy hiểm lớn. Cuối cùng thì trong quá khứ, những cuộc bầu cử “tự do” dưới dự tham gia của người cộng sản chỉ phục vụ cho họ như là bàn đạp để thiết lập một chế độ độc tài cộng sản. Về mặt hình thức, để từ chối bầu cử, Diệm và Hoa Kỳ dựa trên lý lẽ rằng cả nhà nước Bảo Đại của Việt Nam lẫn chính phủ Mỹ cũng đều không ký vào các nghị quyết Genève. Việc cả Ủy ban Kiểm soát Quốc tế lẫn Trung Quốc lẫn Liên bang Xô viết đều không lên tiếng phản đối một cách thật sự cũng đã hợp pháp hóa như thế nào đó lần vi phạm các thỏa thuận Genève này, và nhấn mạnh tới niềm tin rất phổ biến ở ngoài nước VNDCCH, rằng quyết định chia cắt đó không mang tính tạm thời. Nhờ vậy, cuộc thử nghiệm Nam Việt Nam-Mỹ cho một “national building”, cho công cuộc xây dựng một nhà nước có khả năng tồn tại và hoạt động, mới có thể bắt đầu.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

————————————————————————————————————————

[1] US Congress, House Committe on Armed Services (xuất bản), United States-Vietnam Relations, 1945-1967: A Study Prepared by the Department of Defense, 12 tập, Washington 1971, tập 10, trang 731-741.

[2] William Colby, Lost Victory. A Firsthand’ Account of America’s Sixteen Year Involvement in Vietnam, Chicago và New York 1989, trang 27.

[3] Trích dẫn theo Stanley Kernow, Vietnam. A History, New York 1991, trang 236

[4] Đại sứ Douglas Dillon gửi State Department, 24/05/1954, trong FRUS 1952-1954, tập 13: Indochina, II, Washington 1982, trang 1608 và tiếp theo, Chargé d’affaire Robert McClintock gửi State Department, 04/07/1954, như trên, trang 1783 và tiếp theo.

Advertisements

2 thoughts on “Chính sách Việt Nam của Mỹ sau Hội nghị Genève

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s