Biến đổi lớn trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trong Chiến tranh Đông Dương của Pháp, miền Bắc Việt Nam phải chịu đựng nhiều tàn phá nhất qua các trận chiến. Nhiều con đường không còn có thể đi lại được nữa, vô số kênh đào và đê đập bị hư hại. Sau khi bị người Nhật bóc lột trong Đệ nhị thế chiến, nền kinh tế ở miền Bắc tiếp tục suy tàn trong đầu những năm năm mươi. Nếu Việt Minh không muốn đánh mất sự công nhận rộng khắp của họ trong người dân thì họ phải cố gắng đảo ngược sự phát triển này. Những ý tưởng mang tính ý thức hệ về một xã hội xã hội chủ nghĩa và những điều cần thiết về kinh tế gặp nhau tại một điểm cơ bản: phân chia đất đai.

Cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc
Cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc

Ngay từ tháng Mười Một 1945, Việt Minh đã tịch thu đất đai của địa chủ Pháp và phân chia cho các tiểu nông. Sau khi kiểm soát hầu như toàn bộ miền Bắc đất nước và tăng cường ảnh hưởng của họ ở miền Nam, nhiều vụ tịch thu đã diễn ra tiếp theo sau đó từ 1949 cho tới 1951, đặc biệt là trong những vùng đất chiếm giữ được ở Nam Kỳ. Hai năm sau, 1953, Việt Minh tăng cường tiến hành tịch thu đất. Trong lúc đó, cả những chủ đất đã hợp tác với Việt Minh hay giúp đỡ cho họ cũng thuộc vào trong số các nạn nhân. Nhiều người bị bắt, thậm chí bị hành quyết. Sau quyết định chia cắt và tái phối trí của Hội nghị Genève, cuộc cải cách ruộng đất được đẩy mạnh. Trong hai năm 1955 và 1956, người cộng sản tịch thu sở hữu của hầu hết các địa chủ còn lại ở miền Bắc. Những người sở hữu đất đai bị khai trừ ra khỏi Việt Minh, không còn có ảnh hưởng về chính trị và bị cô lập trong xã hội. Trong nhiều vùng rộng lớn ở miền Bắc Việt Nam đã xảy ra những vụ đàn áp thật sự và nhiều vụ hành quyết. Có cho tới mười lăm ngàn người là nạn nhân của chiến dịch này, hai mươi ngàn người nữa bị bắt giam hay bị đẩy vào trong trại cải tạo. Làn sóng khủng bố không được điều khiển từ trung tâm, mà bắt đầu từ sự cộng tác của các các bộ hung hãn, thường xa lạ với địa phương, với các tầng lớp nông dân nghèo. Những người này lợi dụng cuộc cải cách ruộng đất để vĩnh viễn tiệt trừ những người địa chủ bị căm ghét và các phú nông. Cuộc đàn áp được chấm dứt dưới áp lực của giới lãnh đạo trong mùa thu 1956. Thất thoát về kinh tế rất nhiều, và tổn hại về mặt đối ngoại rất lớn. Trong con mắt của thế giới, cuối cùng thì chế độ này cũng đã cho thấy bản chất thực sự của nó. Trong một hành động hết sức hiếm hoi đối với một chế độ cộng sản, Tướng Giáp và Hồ Chí Minh đã công khai thừa nhận nhiều sai lầm lớn. Vài cán bộ cấp lãnh đạo của Việt Nam bị sa thải, và Hồ Chí Minh nhận chức vụ tổng bí thư trong một thời gian ngắn. Một bầu không khí sợ hãi và bất bình thống trị tạm thời. Trong tỉnh Nghệ An quê hương của Hồ thậm chí còn xảy ra những cuộc biểu tình chống đối đông người của tầng lớp nông dân. Việc người cộng sản cũng không khoan dung cho những quan điểm đối lập giống như chính quyền thực dân Pháp trước đó đã được họ chứng minh bằng một cách tàn bạo: hàng ngàn người nông dân bị quân đội bắt mang đi đày hay bị giết chết.

Trong diễn tiến của lần phân chia đất đai cuối cùng này, phần lớn cộng đồng làng mạc bị gom vào trong các hợp tác xã. Hình thức quản lý đất này cũng tương ứng với việc sử dụng trong truyền thống, như đã được thực hiện trước khi người Pháp đến. Đất đai và công cụ thuộc sở hữu tư nhân, nhưng việc bán các sản phẩm được tiến hành dưới danh nghĩa của hợp tác xã. Tuy vậy, trong thời gian của những năm sáu mươi, chúng bị tập thể hóa dưới áp lực của Đảng Cộng sản. Đất đai, công cụ và thú nuôi được đưa vào trong sở hữu tập thể hay sở hữu nhà nước. Năm 1968 đã có 90% nông dân thuộc vào trong một tập thể. Dưới những điều kiện của cuộc chiến tranh Mỹ ở Việt Nam, nền nông nghiệp tập thể này rõ ràng là đã thành công. Trong những năm sáu mươi và bảy mươi, người ta không còn biết tới việc nông dân nổi loạn, gây trở ngại hay có tinh thần làm việc suy sút. Mức sống tăng nhẹ, từ một mức thật ra là hết sức khiêm tốn của năm 1957, nhưng liên tục.

Cải cách ruộng đất ở miền Bắc
Cải cách ruộng đất ở miền Bắc

Tương tự như việc tập thể hóa từng bước trong nông nghiệp, nền công nghiệp cũng bị quốc hữu hóa dần dần. Thế nhưng cho tới tận những năm sáu mươi, nó chỉ tạo ra một tỷ lệ phần trăm nhỏ tới mức không đáng kể của tổng sản phẩm quốc gia Bắc Việt Nam. Ví dụ như năm 1954 chỉ có vài ngàn người làm việc trong tròn ba ngàn xí nghiệp giống như công nghiệp, những cái đóng góp tổng cộng không nhiều hơn là 1,5% tổng sản phẩm quốc gia, và hai phần ba trong số đó là những hãng xưởng thủ công nằm trong các thành phố. Cho tới 1960, một phần lớn các hãng xưởng này bị quốc hữu hóa hay gộp vào trong các hợp tác xã thủ công.

Song song với những biến đổi lớn đó, một sự phát triển tiến tới một nhà nước độc đảng trung tâm đã diễn ra trong lĩnh vực chính trị. Sau 1954, đảng cộng sản, Đảng Lao Động, là lực lượng chính trị duy nhất trong nước. Tổ chức của họ tương đương với các kiểu mẫu Xô viết. Với một bộ chính trị và một ủy ban trung ương, họ có các bộ phận lãnh đạo mà cơ cấu nhân sự của chúng ít nhiều đều đồng nhất với giới lãnh đạo nhà nước. Hoạt động ở dưới đó là một tầng lớp mỏng của các quan chức cao cấp và một nhóm rộng lớn hơn của các cán bộ tiến hành những nhiệm vụ hành chánh địa phương và chính trị. Cho tới lúc bị tập thể hóa, cộng đồng làng mạc còn có một quyền tự trị và tự do quyết định tương đối lớn. Phương pháp và mục tiêu sản xuất cũng như các quyết định có tầm quan trọng địa phương được các cán bộ và những người đứng đầu làng cùng nhau đưa ra. Thế nhưng sau 1960, Đảng với các tổ chức quần chúng liên kết với họ đã phát triển trở thành một lực lượng duy nhất và thống trị tất cả. Năm 1950, Hồ Chí Minh còn giải thích rằng, đó chỉ là cố gắng vô ích và phung phí tiền bạc, khi muốn truyền bá chủ nghĩa cộng sản cho những người nông dân. Thế nhưng vào cuối những năm 50 ông lại kêu gọi Đảng hãy mang tư tưởng Marx-Lênin đến với người dân nhiều hơn nữa. Tuy vậy, ông luôn chống lại việc truyền tải các nguyên tắc tư tưởng hệ sang tình hình đặc biệt của Việt Nam mà không xem xét trước. Ví dụ như quyền tự do tín ngưỡng được duy trì phần nào và những người Công giáo sống ở miền Bắc không bị đàn áp. Tuy giới lãnh đạo Đảng và nhà nước cố gắng gây ảnh hưởng lên hệ thống nhà thờ Công giáo, nhưng chỉ thành công ở mức độ.

Một sự tôn sùng cá nhân được giới chóp bu Đảng ban hành giống như ở Liên bang Xô viết hay trong nước Công hòa Nhân dân Trung Hoa cũng không có trong nước VNDCCH. Điều này có liên quan chặt chẽ tới cá nhân Hồ Chí Minh. Khác với các lãnh tụ cộng sản khác, ông cũng thực hành lý thuyết Marx-Lênin cả trong cuộc sống cá nhân. Phong cách sống khiêm tốn của ông – Hồ sống trong một ngôi nhà đơn giản cạnh các nhà cơ quan chính phủ –, lời yêu cầu để cho người nông dân tham gia vào chính trị và yêu cầu bình đẳng nam nữ của ông đã tạo cho “Bác Hồ” trở thành cuộc cách mạng được nhân cách hóa và trở thành một hình dạng cha già dân tộc đáng tin.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s