Người không chuyên

Trời lạnh buốt ở Zittau. Thời gian ấm áp, bây giờ nó đã qua rồi. Một mùa đông đến sớm xuống từ những ngọn núi, và những mặt tiền Baroque với màu sắc đã phai nhạt đứng quây quần quanh cả hai quảng trường ở phía nam, như thể muốn nhờ chúng mà sưởi ấm thân mình. Nhưng các quảng trường của Zittau đang nằm trong ánh sáng mệt mỏi, gần như là của mặt trời tháng 12. Tôi cũng đứng ở đó và cố tìm cách sưởi ấm. Tôi rét thảm thương đến mức phải mua găng tay len và quần lót dài trước khi bước vào ngôi nhà thờ trưng bày tấm màn mùa chay[1] nổi tiếng.

Toàn cảnh Zittau. Hình: Wikipedia
Toàn cảnh Zittau. Hình: Wikipedia

            Nó được treo to lớn ở đó, sau tấm kính, nhưng đối với tôi dường như chuyến phiêu lưu của nó còn lớn hơn thế nữa. Những tấm màn mùa chay là những truyện tranh sùng đạo, chủ yếu là dễ đọc cho người dân bình thường trong ánh sáng nến yếu ớt của một ngôi nhà thờ tranh tối tranh sáng hơn là có tác động về nghệ thuật. Cái bức màn này gói gọn toàn bộ sự kiện cứu thế kể từ lúc Chúa Trời sáng tạo ra thế giới vào trong vài chục bức tranh, thô sơ nhiều hơn là đẹp.

            Nhưng các bức màn không chỉ đơn thuần phục vụ truyền đạo, chúng cũng là đồ dùng sân khấu đầy tác dụng trong nhà hát khổ hình. Trong mùa chay, từ Thứ Tư Lễ Tro[2] cho đến Phục Sinh, chúng che đậy chốn linh thiêng, và đồng thời cũng thể hiện một mùa chay tâm linh: 7 tuần không được gần gũi hình ảnh của Chúa đối với một con người thời đó cũng không kém phần hà khắc hơn là từ bỏ những món ăn thể xác. Tất cả mọi thứ trong nhà thờ qua đó đều trở nên đơn sơ hơn, nghiêm nghị hơn, lo âu hơn. Bức màn che dấu hình ảnh người con của Chúa Trời trên bệ thờ, cái hình ảnh mà các tín đồ đều nhìn và gửi lời cầu nguyện đến, qua đó mà nó hiện thực trước cái chết trên thánh giá, đêm đen Chúa Trời của thế giới, và làm tăng nỗi niềm mong đợi sự sống lại vào ngày Chủ Nhật Phục Sinh, khi cuối cùng rồi bài hát ca ngợi Chúa ngân vang lên và cả ngôi nhà thờ rực rỡ trong bông hoa trang hoàng. Giờ đây, bức màn cũng rơi xuống.

            Ở đây nó được treo thả xuống từ trên trần, được cởi bỏ ra khỏi vai trò tẩy rửa linh hồn, được trưng bày trong một ngôi nhà thờ đã trở thành viện bảo tàng. Biến mất, bị xé rách, lại được tìm thấy, đã phai màu và được vá lại. Nhưng bền chắc. Vì chính tấm màn mùa chay Zittau đã đi qua cõi chết và sống lại, và không chỉ một lần. Từ thế kỷ 17, người ta cho rằng nó đã bị đốt cháy, nó không còn tồn tại nữa. Nhưng trong thế kỷ 19 người ta đã tìm lại được tấm màn.

            Chuyến phiêu lưu cuối cùng của nó là chuyến phiêu lưu thô bạo nhất. Được mang đi cất dấu ở làng Oybin trong đồi núi Zittau, nó lọt vào tay quân nhân Xô viết trong những ngày cuối cùng của chiến tranh, những người đang cần một cái gì đó để che phòng tắm hơi tạm thời của họ, để giữ cho nó nóng và hơi nước không bay mất. Họ xé tấm giẻ tồi tàn đó ra làm bốn và buộc chúng lên trên những túp lều để toát mồ hôi của họ. Khi tiếp tục hành quân họ quẳng cái vật vô dụng đấy đi. Một người đàn ông nhìn thấy nó trong rừng, và vì, như sự tình cờ mong muốn, ông đã từng là người trông nom nhà thờ, nên ông hiểu được mình vừa mới lôi vật gì ra khỏi bụi rậm. Ông đặt tất cả 4 mảnh lên cái xe gỗ của ông, thắng ngựa và chở chúng về Zittau, nơi người ta vá nó lại với nhau.

            Người giải thích tấm màn mùa chay giải thích cho tôi tất cả những việc đó trước tấm màn, một người đàn ông có vẻ am hiểu vào khoảng 40 trong chiếc áo khoác trượt tuyết màu xanh nước biển, người rõ ràng là thích đi vào chi tiết thay vì đọc bài thuyết trình ngắn gọn của mình lần thứ một nghìn. Nhưng cái làm cho tôi mất tập trung trong khi ông ấy nói luôn là cái âm “R” giọng Mỹ của ông. Tôi đã biết điều này từ nhiều vùng nhất định của bang Hessen. Ai là người lạ đến đấy thì sẽ nghĩ rằng chỉ toàn là người Mỹ sống ở đó thôi, mặc dầu đó chỉ là một nét đặc trưng của tiếng địa phương.

            Nhưng người đàn ông ở vùng Oberlausitz này làm sao lại có được âm “R” của ông ấy? Ông ấy chắc chắn không từ Mỹ đến mà cũng không phải từ Hessen đến. Tôi muốn hỏi ông, nhưng lại thôi. Công việc của ông kết thúc, tôi là người khách tham quan cuối cùng; khi ông mời tôi đi cùng ô tô lên Jonsdorf, ở trên núi Zittau, tôi rất vui lòng nhận lời mời. Ông cũng đề nghị sẽ chỉ cho tôi xem biên giới Bohemia vào ngày hôm sau, ông rất quan tâm đến nó theo như ông nói với tôi. Tôi không biết phải quyết định ra sao nên không dứt khoát.

            Đó là một buổi tối yên tịnh ở Jonsdorf. Tôi chỉ nhìn thấy người chủ quán trọ ở nơi mà người tấm màn mùa chay cho tôi xuống – người này, ông nói, là nguyên bản và đi lang thang chăn cừu trong bộ lông cừu – trong những tấm ảnh trên tường chụp ông ấy trong bộ quần áo của ông ấy. Tôi đóng vai trò quen thuộc: Mãi mãi là người khách duy nhất.

Vào buổi sáng ngày hôm sau, các cánh đồng của Jonsdorf nằm dưới sương, mặt trời xuất hiện, và các quán trọ nằm cạnh đường lên núi có tên là “Yên Tịnh Rừng”, “Thái Bình Rừng” và “Heidelberg cổ xưa”. Rồi tôi nhìn thấy tuyết đầu mùa. Vào buổi trưa, khi tôi lên đến được trạm thuế quan lúc trước ở cạnh con đường đi dạo mang tên Kammweg, cũng là đường biên giới, tôi nhìn thấy 2 đài tưởng niệm, một cái ở bên phía Séc và một bên phía Đức, và người tấm vải màn mùa chay đang đứng cạnh đài tưởng niệm Séc trong cái áo khoác trượt tuyết của ông ấy.

            Ông đang chờ tôi, ông nói, ông thông thuộc lối đi nên có thể dễ dàng đoán trước được khi nào tôi sẽ lên đến đây. Nếu như tôi bắt đầu đi ngay sau khi ăn sáng ở Jonsdorf, ông thêm vào với một nụ cười hài lòng. Chúng tôi không có hẹn trước. Ông ấy muốn gì ở tôi?

Toàn cảnh Jonsdorf
Toàn cảnh Jonsdorf

            Tôi nhìn ngắm cả hai đài tưởng niệm. Chúng đứng đối diện chỉ cách nhau vài mét và đang buộc tội lẫn nhau. Đài tưởng niệm Séc nhắc nhở đầy tự hào về lần tập kích trạm thuế quan Đức 2 ngày sau Hiệp ước München[3], và đài tưởng niệm Đức nhắc nhở đầy cay đắng về việc xua đuổi người Đức vùng Sudetenland 7 năm sau đó cũng qua chính trạm thuế quan này.

            Một cuộc giao tranh nhỏ của các tưởng nhớ, không phải là cái duy nhất dọc theo đường biên dới dài ở Bohemia. Ngay từ bây giờ tôi đã có cảm giác nó lởm chởm hơn là biên giới Ba Lan nằm ở phía sau tôi. Ở bất cứ nơi nào cạnh sông Oder và Neiße, tôi không hề chạy lạc vào trong một cuộc đối đầu như thế này, vào một cuộc chiến hầm hào của các đài tưởng niệm như thế này. Tôi đã dự đoán nó phải ngược lại. Cuối cùng thì đường biên giới Ba Lan là đường biên giới mới và bị bắt buộc, cái đường biên giới này đây đã lâu đời và theo ý của thiên nhiên. Đỉnh núi và đường phân nước.

            Người tấm màn mùa chay đề nghị ông ấy sẽ đi cùng tôi một đoạn đường và chỉ cho tôi xem biên giới. Tôi nói, tại sao không? Chúng tôi đi dọc trên những đỉnh núi, một con đường mòn, một phần có nhiều đá, một phần lại lầy lội, dẫn qua một cánh rừng thấp trên núi. Đá và cây ở trên này được vẽ đầy những biểu tượng quốc gia xanh đỏ và đen đỏ vàng, trông có vẻ hơi trẻ con và vụng về, giống như một bài tập khéo tay. Người ta phải nhảy qua nhảy lại, từ Đức sang Bohemia và khứ hồi chỉ là một bước nhảy, một bước dài. Tôi thật sự đã nhảy cả một thời gian dài, tuyết tan, tuyết lầy bắt buộc tôi phải làm như thế.

            Nét trẻ con biến mất ngay khi tôi ngửng nhìn lên. Chúng tôi đi trên cao, phía dưới là một biển sương mù có những ngọn núi nhô ra ở đây đó, đi trên đỉnh núi, ngang qua nhiều đường rừng xuyên biên giới có đá tảng lớn chận lại. Để chống buôn lậu bằng ô tô, người tấm màn mùa chay nói.

            Tôi suy nghĩ về ông ấy. Tại sao ông ấy lại lên núi và chờ tôi? Tại sao ông ấy lại dành thời gian cho tôi? Để kể lại những gì ông ấy biết: Tôi không nghĩ ra một nguyên nhân nào khác, và ông ấy hoàn toàn không làm gì khác trong chuyến đi trên đỉnh núi của chúng tôi, sự dè dặt ban đầu của tôi không còn tìm thấy lý do nữa. Hằng ngày, ông ấy đứng cạnh tấm màn mùa chay và kể lại những gì cần thiết nhất. Mãi bây giờ ông ấy mới có thể phô bày được ông có kiến thức đến đâu. Ông đã tự học tất cả những điều đó, ông ấy nói. Ông đã học nghề thợ mộc, nếu tôi nhớ đúng.

            Dần dần tôi mới để mắt đến những người này, không phải ngẫu nhiên mà tôi thường hay gặp họ. Tuýp người này trở nên quen thuộc đối với tôi: người nghiên cứu nghiệp dư về lịch sử Đức, yêu thích công việc của mình, chìm đắm hoàn toàn vào trong đó. Và họ thật sự là những người say mê. Họ không có lý thuyết cho điều kiện đầu tiên của tình yêu. Nhưng họ biết rất rõ làn da của đất nước yêu dấu, mỗi một vết sẹo, mỗi một vết bỏng. Tấm màn mùa chay chỉ là một mảnh của làn da này.

            Những mảnh khác là các câu chuyện huyền thoại mà người sưu tập ma ở Leer đã nhặt được trên những cánh đồng lầy và căng chúng ra để phơi khô trong những quyển sách của ông. Nhà nghiên cứu tận thế trong cái quán bánh mì ở Guben lại sưu tập những cái khác. “Người ta phải tìm một cái gì đó để sống sót trong nội tâm.”

            Ở người tháp tùng của tôi thì không bi thảm như vậy. Rõ ràng là bây giờ tôi đã đến những vùng đất mà không gian của nó rộng lớn hơn, tự do hơn và chiến tranh không phải lúc nào cũng là một đề tài. Trong giây phút này ông ấy đang giải thích cho tôi nhiều chi tiết từ thời gian mà phía bên Bohemia của biên giới vẫn còn thuộc lãnh địa cai trị của dòng họ Habsburg[4]: Các công tước Liechtenstein đã ngồi ở phía dưới đó, ở sườn phía nam của dãy núi, cạnh họ là các hầu tước Kinsky[5], và vào đầu thế kỷ 19, Ferdl ngu ngốc, vị Hoàng đế Ferdinand[6] đáng thương, đã được mang đến một lâu đài nằm ở đằng sau đó trong sương mù để rồi Metternich[7] ở Wien đã lợi dụng sự vắng mặt của hoàng đế.

            Ông thuật lại một câu chuyện buồn cười nhưng có thật của thời Metternich. Ở phía bên Đức, trong một ngôi làng tên là Waltersdorf, có một ngôi nhà có con chim bồ câu trên lanh tô cửa bằng sa thạch. Đó là con chim bồ câu đưa thư, biểu hiện lòng biết ơn, vì chim bồ câu đã giúp nhiều người ở đây trở nên khá giả do nó nhanh hơn xe ngựa đưa thư. Đó là một câu chuyện về chơi xổ số và về một giấc mơ xưa cũ của con người: thuần phục sự ngẫu nhiên có tính khí bất thường, nhanh hơn may mắn.

            Một phần vì xổ số Áo thời đấy rẻ tiền hơn là xổ số ở Sachsen, nhưng cái quan trọng hơn là có những vùng đất Áo lọt vào giữa Sachsen, những ngôi làng Bohemia lạc lõng từ thời xa xưa mà không còn bên nào giành giật nữa. Người dân làng đi buôn lậu, gần như không nhà nào mà không có một cái kho đầy hàng hóa. Trong những làng được ban phúc lành này, và đây mới là điều cốt yếu, ai cũng được phép chơi xổ số Áo, đối thủ cạnh tranh rẻ tiền hơn này bị cấm trong Vương quốc Sachsen nằm bao quanh. Những con số mang lại lợi nhuận được lôi ra ở Prag, xe ngựa đưa thư mang chúng qua núi, mất cả một ngày. Những người chơi xổ số trong các vùng đất ở bên này núi có thêm một ngày để đặt số so với những người ở Bohemia bên kia – cho đến khi xe ngựa đến.

            Nếu biết được những con số trúng nhanh hơn và đặt nó ở đây, nơi mà một ngày sau đó chúng mới được công bố, trong khoảng khắc cuối cùng, thì người ta sẽ giàu có. Vì thế mà chỉ còn là câu hỏi của thời gian cho đến khi có người nảy ra ý tưởng dùng chim bồ câu đưa thư. Chúng mang những con số được xổ ở Prag bay qua núi, người ta chỉ còn phải đặt tiền vào những con số đó và thế là trúng ngay lập tức. Felix austria[8] đã tặng cho nhiều người trong những làng nghèo khổ ở trên núi cả một gia tài nho nhỏ. Một người dân đã tỏ lòng biết ơn bằng con chim bồ câu trên lanh tô cửa.

            Người tháp tùng tôi vừa kể lại như thế khi ông bất chợt hỏi tôi rằng cái âm “R” của ông ấy không làm cho tôi để ý đến hay sao. Tôi nói cho ông ấy biết suy nghĩ đầu tiên của tôi, giống như tiếng địa phương vùng Hessen. Ông ấy gật đầu, nhẹ nhỏm giống như một người mà người ta nhìn trừng trừng cả một lúc lâu và bây giờ cuối cùng mới nhận ra được. “Đúng rồi, tất nhiên. Đó là lần di dân của người Franken.”

            Đúng rồi, tất nhiên. Chỉ có điều là đã cách đây 1200 năm. Karl Đại đế và những người kế tục ông đã nhìn Oberlausitz như một vùng đất trống ở phía đông cần phải đưa người đến để định cư. Những người con trai nông dân Franken, những người mà ở quê hương phải phục vụ cho bố và anh cả như một người đầy tớ, đã vui mừng nhận lời đề nghị của hoàng đế, đi đến sinh sống ở đây như một người nông dân tự do. Và đã mang cái âm “R” từ Hessen đến đây. Voilà[9].

            Có lần tôi đã đi lang thang trong rừng Teutoburg cùng với một nhà khảo cổ học cũng mang nhiều nét của một người nghiệp dư. Ông ấy giận dữ hỏi tôi rằng tôi chẳng nhìn thấy gì hết hay sao, rừng đầy những dấu vết, ngay chỗ này, nơi chúng tôi đang đứng, đã rất nhộn nhịp trong thời Đồ đồng. Nhưng tôi chỉ nhìn thấy cây, đường rừng, đồi, chẳng có đến một cái dấu vết nào của dấu vết cả. Rồi tôi được ông mở mắt. Kia! Và kia! Và ở đằng trước! Con đường rừng này: một con đường cho xe chạy thời Đồ đồng, người ta nhìn thấy rõ chỗ trũng xuống vì bánh xe. Và kia: một ngã tư. Và kia: một đường song song, đường thứ nhất chắc hẳn đã quá lầy lội, xe không đi được. Và ngọn đồi ở đằng kia không phải là một ngọn đồi, đó là một cái mồ cạnh con đường hằng nghìn năm tuổi, người đi đường thời Đồ đồng đã chôn cất một người của họ ở đó, một người chết dọc đường.

            Bây giờ tôi cũng có cảm giác tương tự như thế với người đàn ông trong cái áo khoác trượt tuyết màu xanh nước biển và với cái âm “R” qua nhiều thế kỷ của ông ấy.

            Tôi đứng hơi chưng hửng trước những làn sóng dài của thời gian.

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

————————————————————————————————————————

[1] Tấm màn mùa chay hay tấm màn khổ hình là một bức màn dùng để che hình ảnh mô tả Chúa Giêxu, thường là chiếc thánh giá, vào mùa chay trong các nhà thờ Công giáo.

[2] Thứ Tư Lễ Tro là ngày thứ tư bắt đầu mùa chay trong Ki tô giáo.

[3] Hiệp ước München được Liên hiệp Anh, Pháp, Ý và Đức quốc xã ký kết tại München vào ngày 23 tháng 9 năm 1938, cắt phần đất Sudetenland của nước Tiệp Khắc trước đây, nơi có phần đông là người Đức sinh sống, giao về cho nước Đức quốc xã.

[4] Habsburg là một hoàng tộc ở châu Âu, đã cai trị Áo, Bohemia và Hungary qua nhiều thế kỷ.

[5] Kinsky của Wchinitz và Tettau là tên của một dòng họ quý tộc ở Bohemia.

[6] Ferdinand I (1793-1875): Hoànng đế Áo 1835-1848, Vua của Bohemia và Hungary.

[7] Metternich, tên đầy đủ là Klemens Wenzel Lothar von Metternich-Winneburg zu Belstein (1773-1859) là bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thủ tướng của Đế quốc Áo, một trong các chính khách dẫn đầu của châu Âu.

[8] Felix austria (tiếng La tinh): “Nước Áo hạnh phúc” là một tục ngữ được trích dẫn từ một bài thơ cổ bằng tiếng La tinh.

[9] Voilà (tiếng Pháp): thế đấy.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s