Hội nghị Đông Dương ở Genève

Tướng Giáp đã chọn thật đúng thời điểm cho trận đánh quyết định, vì vào ngày đầu hàng ở Điện Biên Phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của bốn cường quốc đã từng tạo nên liên minh trong chiến tranh gặp nhau tại Genève: Liên bang Xô viết, Pháp, Liên hiệp Anh và Hoa Kỳ. Lần đầu tiên sau chiến thắng của người cộng sản, một phái đoàn Trung Quốc dưới quyền của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chu Ân Lai chính thức bước lên chính trường quốc tế. Bên cạnh đó cũng có hai phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Đông Dương ở Genève (từ 8 tháng Năm cho tới 21 tháng Bảy 1954): một phái đoàn của chính quyền Bảo Đại cũng như đại diện của Việt Minh cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Người Mỹ chỉ tham dự như là quan sát viên, và Dulles chẳng bao lâu sau cũng đã rời bỏ hội nghị. Từ những cân nhắc về mặt nguyên tác mà ông từ chối hội nghị này cũng như các đàm phán trực tiếp với “người Trung Quốc Đỏ”. Chỉ một tai nạn ô tô là có thể khiến cho ông tiếp xúc với Chu Ân Lai, Dulles tuyên bố trước báo giới.

Hội nghị Đông Dương ở Genève, 1954
Hội nghị Đông Dương ở Genève, 1954

Trên chiến trường, Việt Minh là những người chiến thắng không tranh cãi. Nhưng ở Genève xa xôi, họ lại trở thành những con cờ của một trò chơi quyền lực quốc tế. Các kết quả của hội nghị hoàn toàn không phản ánh thực tế quân sự và chính trị ở Việt Nam, mà chỉ phản ánh lợi ích của các nước lớn, những nước mà một phần chỉ có liên quan rất ít tới Việt Nam. Đối với Liên bang Xô viết, Đông Nam Á cho tới giữa những năm sáu mươi chỉ là một khu vực ít quan trọng. Vì vậy mà giới lãnh đạo Xô viết mới chỉ nhìn xung đột Đông Dương như là một khả năng để tái đối thoại với Phương Tây sau khi nền độc tài Stalin chấm dứt. Khrushchev, Bulganin, Malenkov và Molotov muốn ngăn chặn EDC. Chấm dứt cuộc chiến sẽ mang lại cho nước Pháp khả năng đáp ứng các nhiệm vụ của mình như là thành viên của NATO. Điều này về phần nó sẽ làm tăng sự phản kháng ở Pháp chống lại EDC và cuộc tái vũ trang cho Liên bang Đức, và cuối cùng thì sẽ  khiến cho dự án này thất bại. Ý muốn này được thỏa mãn, nhưng không cần có sự can thiệp từ Moscow: trong tháng Tám 1954, Quốc Hội Pháp quả thật đã từ chối phê chuẩn hiệp định EDC. Việc mà nước Cộng hòa Liên bang Đức mặc dù vậy vẫn bắt đầu xây dựng một quân đội trong năm tiếp theo sau đó có liên quan tới ý muốn nhất định tái vũ trang cho Liên bang Đức của Mỹ. Việc Bonn sẵn sàng tích hợp toàn bộ quân đội Liên bang Đức vào trong NATO về phần nó lại góp phần làm giảm nghi ngại của Pháp về một quân đội Đức.

Về cơ bản thì đó là giới lãnh đạo Trung Quốc, những người đã thúc ép Việt Minh tiến tới nhiều nhượng bộ đáng kể. Mao và Chu Ân Lai có một mối quan tâm vượt lên trên hết thảy: họ muốn ngăn chận bất cứ một hình thức hoạt động nào của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Cuối cùng thì sau những năm dài của chiến tranh, Trung Quốc không cần gì cấp thiết hơn là một giai đoạn ổn định, đối nội và đối ngoại. Ngoài ra, giới lãnh đạo Trung Quốc có cảm giác bị đe dọa bởi người Trung Hoa Quốc gia ở Đài Loan mà tuyên truyền của họ lớn tiếng yêu cầu tái chiếm lại đất liền. Vì vậy, Chu không những ủng hộ chia cắt Việt Nam mà còn ủng hộ việc cấm quân đội nước ngoài đóng quân. Do đó mà miền Bắc cộng sản thoát được một sự can thiệp từ nước ngoài, và quân đội Mỹ cũng không thể đóng quân ở miền Nam.

Hoa Kỳ đã đến Genève với nhiều bảo lưu và nghi ngại lớn, và thật ra thì điều mà Dulles thích nhất là việc hội nghị này thất bại. Trong khi các cuộc đàm phán kéo dài và có nguy cơ bước vào ngõ cụt trong tháng Sáu, Eisenhower và Dulles thậm chí còn quay trở lại với những suy nghĩ của họ về một “hành động hợp nhất”. Hội đồng các Tham mưu trưởng soạn thảo các kế hoạch chi tiết để đóng quân ở Việt Nam, nếu như Trung Quốc can thiệp về mặt quân sự trong thời gian của các cuộc đàm phán hay Việt Minh tiếp tục có thêm nhiều thành công. Ngay cả một nghị quyết của Quốc Hội cũng được chuẩn bị sẵn, giao quyền cho Tổng thống gởi quân đội sang Đông Dương. Thế nhưng đây là những kế hoạch cho trường hợp khẩn cấp, những cái thế nào đi chăng nữa cũng đã trở nên vô giá trị sau một cuộc khủng hoảng chính phủ ở Paris. Vào ngày 12 tháng Sáu, chính phủ Laniel sụp đổ, và người sếp chính phủ mới của Pháp, Pierre Mendès-France nói rằng việc ông tiếp tục đảm nhiệm chức vụ phụ thuộc vào một giải pháp ngoại giao nhanh chóng cho xung đột Đông Dương. Ngược với Laniel, Mendès-France cởi mở với một giải pháp chia cắt Việt Nam. Điều này buộc chính quyền Eisenhower phải định hướng mới chính sách của họ. Ở Washington, người ta nhận ra rằng các bên của hội nghị sẽ hợp thức hóa yêu cầu của VNDCCH, ít nhất là cho miền Bắc của đất nước. Bây giờ vấn đề là giới hạn thiệt hại. Trong liên kết với chính phủ Anh, Dulles soạn thảo một chương trình bảy điểm có nhiệm vụ phục vụ cho Mendès-France như là cơ sở cho các cuộc trao đổi tiếp theo. Nó có mục đích cô lập Việt Minh ở miền Bắc của đất nước, và trao trả độc lập toàn phần cho Campuchia, Lào và miền Nam Việt Nam. Qua đó, chính quyền Eisenhower bây giờ theo đuổi một chiến lược nước đôi. Một mặt, việc phi thuộc địa hóa – Pháp rút quân vĩnh viễn ra khỏi Đông Dương và trao trả độc lập cho Campuchia, Lào và Việt Nam – phải được bảo đảm qua hiệp định. Mặt khác, bây giờ Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ cho an ninh trong vùng.

Và thật sự là chính phủ Mỹ đã có thể đạt được hầu hết các yêu cầu của họ: vào ngày 20 tháng Bảy 1954, VNDCCH và Pháp ký kết một hiệp định ngưng bắn. Hiệp định này quy định một cuộc tái phối trí các quân đội là đối thủ của nhau. Việt Minh phải rút về phần đất nằm ở phía bắc của vĩ tuyến 17, trong khi quân đội Pháp sẽ rời Bắc Kỳ. Mỗi bên sẽ quản lý phần đất của họ cho tới khi có đầu phiếu phổ thông, và phải tôn trọng vĩ tuyến 17 như là vùng phi quân sự. Cả hai bên bị cấm không được mở rộng tiềm năng quân sự của họ hay tham gia vào trong một liên minh quân sự. Một ủy ban kiểm soát quốc tế bao gồm đại diện của khối Đông Âu (Ba Lan), của Phương Tây (Canada) và của nước Ấn Độ trung lập có nhiệm vụ giám sát các điều kiện ngưng bắn. Ngoài ra, Việt Minh phải rút lui ra khỏi Lào; đồng minh của họ, Pathet Lào, nhận được một vùng đất nhỏ để làm căn cứ. Bên cạnh hiệp định ngưng bắn, tất cả các bên, ngoại trừ Hoa Kỳ và đại diện của chính phủ Bảo Đại, đã ký kết một tuyên bố chung. Trong đó, họ xác nhận các thỏa thuận về quân sự, bảo đảm rằng vĩ tuyến 17 không phải là một biên giới theo luật phát quốc tế, và sẽ có đầu phiếu phổ thông, tự do và kín trong tháng Bảy 1956 dưới sự giám sát của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Trong một biên bản riêng, Hòa Kỳ tuyên bố sẽ không làm thay đổi các nghị quyết Genève, cả qua đe dọa lẫn bằng cách sử dụng bạo lực vũ trang.

Chỉ dưới áp lực thật lớn của Liên bang Xô viết và đặc biệt là của giới lãnh đạo Trung Quốc, Việt Minh mới chấp thuận với các yêu cầu của Mỹ. Cuối cùng thì bên cạnh toàn bộ miền Bắc Việt Nam ngoại trừ Hà Nội, họ đã kiểm soát khoảng hai phần ba của miền Nam cũng như, cùng với những người cộng sản Lào, nhiều phần đáng kể của Lào. Từ những yêu cầu vào lúc ban đầu, họ nhiều lắm là chỉ có thể cứu vớt được những gì còn sót lại. Mối quan tâm chính của Việt Minh là nền độc lập dân tộc cho Việt Nam, Lào và Campuchia. Họ đã không đạt được điều đó: vào ngày 4 tháng Sáu, nước Pháp đã hứa trao trả chủ quyền Việt Nam trong vòng hai năm cho chính quyền Bảo Đại, và quyết định chia cắt này đã để lại hai chính phủ  – VNDCCH ở miền Bắc và nhà nước Bảo Đại của Việt Nam ở miền Nam. Yêu cầu duy nhất mà VNDCCH đạt được là sự bảo đảm, rằng cuộc đấu tranh giành quyền lực ở Việt Nam không còn được tiến hành bằng phương tiện quân sự nữa, mà là trên bình diện chính trị. Việt Minh lạc quan tin tưởng rằng họ sẽ chiến thắng trên toàn Việt Nam trong các cuộc bầu cử được dự định tổ chức.

 Tất cả các bên tham gia đều biết rõ rằng những quyết định ở Genève chỉ thể hiện một cuộc ngưng bắn chứ không chấm dứt xung đột. Trong diễn tiến của hội nghị, Eisenhower và Dulles đưa ra một quyết định mà trên thực tế sẽ gắn kết chặt chẽ Hoa Kỳ với số phận của Nam Việt Nam nhiều năm trời: họ bước vào vị trí của nước Pháp và quyết định đảm nhiệm an ninh cho Nam Việt Nam, Lào và Campuchia. Điều này đồng nghĩa với một bước ngoặc quyết định trong chính sách Đông Dương của Mỹ. Từ 1946 cho tới 1950, chính phủ Mỹ đã tỏ thái độ trung lập rộng lượng đối với chế độ thực dân Pháp. Từ tháng Ba 1950, họ tài trợ cho cuộc chiến tranh của Pháp, và dưới thời Eisenhower, sự trợ giúp này thêm một lần nữa đã được tăng lên rất nhiều. Thế nhưng Hoa Kỳ luôn luôn từ chối can thiệp trực tiếp vào Đông Dương. Cuộc khủng hoảng quanh Điện Biên Phủ và việc Eisenhower không chấp thuận chiến dịch VULTURE đã xác nhận điều này thêm một lần nữa. Nhưng bây giờ thì Hoa Kỳ gắn kết các lợi ích của họ với một đất nước phần lớn bị địch thủ kiểm soát. Lần tiếp nhận trách nhiệm về an ninh là điều kiện cần thiết để Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s