Điện Biên Phủ

Dwight D. Eisenhower (1956)
Dwight D. Eisenhower (1956)

Ngược với Tổng thống Truman, người kế nhiệm Dwight D. Eisenhower đã có nhiều kinh nghiệm trong quân sự và đối ngoại khi ông bước vào Nhà Trắng trong tháng Giêng 1953. Trong Đệ nhị thế chiến, ông là tổng tư lệnh của quân đội Đồng Minh tại châu Âu, và sau đó là tổng tư lệnh đầu tiên của NATO. Trong hai chức vụ đó, “Ike”, nhưng người Mỹ gọi viên tướng được ưa thích đó, đã thể hiện tài khéo léo trong ngoại giao và đã phát triển khả năng tìm ra được những giải pháp thực dụng cho các vấn đề phức tạp. Người ngoại trưởng của ông, John Foster Dulles, đã có một thời gian dài làm việc như là luật sư và nhà ngoại giao. Trong khi Eisenhower quyết định các đường lối chủ trương đối ngoại ở hậu trường thì Dulles là người nói thẳng thắn và rõ ràng. Trong cùng một đội ngũ, vị Tổng thống bảo thủ-thực tế và ông Ngoại trưởng Kitô giáo-đạo đức bổ sung cho nhau thật tuyệt vời, vì các quan điểm thế giới quan của họ hầu như đều thống nhất với nhau.

Cũng như người tiền nhiệm Truman, Eisenhower nhìn cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp như là một xung đột giữa chủ nghĩa cộng sản quốc tế và Phương Tây. Nhưng trong lúc tranh cử năm 1952, ông đứng cách xa người tiền nhiệm. Ông lên án người này là không thể chấm dứt cuộc chiến ở Triều Tiên lẫn xuất hiện đủ mạnh mẽ trước Liên bang Xô viết. Eisenhowser và Dulles phê phán rằng “chính sách ngăn chặn” là tiêu cực và chỉ phản ứng lại các diễn tiến trong đối ngoại. “Trả đũa thật nặng” (massive retaliation) và “New Look” là những từ ngữ mang tính khẩu hiệu mà đứng ở sau đó là một chính sách đối ngoại và an ninh mới cho Hoa Kỳ – một chính sách hành động tích cực thay vì chỉ phản ứng. Ở Triều Tiên, nơi mà một hiệp định, ký kết trong tháng Bảy 1953, tái thiết lập được status quo ante (tình trạng trước đó), thái độ mạnh mẽ của chính phủ Eisenhower đã dẫn tới thành công. Thế nhưng trong những cuộc khủng hoảng khác, ví dụ như tại cuộc nổi dậy ở Hungary (1956), cả Eisenhower lẫn Dulles đều không sẵn sàng thực hành một “đường lối ở cạnh vực thẳm hạt nhân” (brinkmanship) trên thực tế. Còn hơn thế: tăng cường vũ trang hạt nhân và đồng thời giảm thiểu lực lượng quân đội thông thường và ngân sách của nó đã hạn chế mạnh khả năng giải quyết khủng hoảng bằng quân sự. Một “tiếng nổ lớn hơn với ít tiền hơn” (more bang for the buck) cũng có thể có hiệu quả như là một thuyết để đối phó lại với Liên bang Xô viết hay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thế nhưng như là phương án để chống lại các phong trào nổi dậy ở khắp nơi trên thế giới thì “New Look” và chiến lược nền tảng của nó không thích hợp. Điều này có thể thấy rõ ở Việt Nam trong cuối những năm năm mươi.

Sự phê phán cách thức tiến hành chiến tranh của Pháp ở Việt Nam đã tăng lên dưới thời chính phủ mới. Eisenhower và Dulles yêu cầu phải hoạt động quân sự chống Việt Minh kiên quyết hơn nữa. Đồng thời, họ yêu cầu Paris nhất định phải trao trả độc lập cho người Việt Nam sau chiến tranh. Eisenhower tin rằng cuối cùng thì đó là khả năng duy nhất để cho người Việt và giới công chúng thế giới thấy rõ rằng cuộc chiến này không phải là một cuộc chiến tranh vì thuộc địa, mà là một xung đột ủy nhiệm chống cộng sản. Nếu như Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục tiến hành chiến tranh, thì Việt Minh không còn có thể quả quyết rằng họ chiến đấu cho nền độc lập của Việt Nam. Họ phải tỏ thái độ dứt khoát và sẽ bị lột trần ra như là tay sai của Moscow. Điều này về phần nó có thể làm cho cộng đồng quốc tế sẵn sàng giúp đỡ người Pháp nhiều hơn nữa.

Ở Paris, người ta phản ứng bằng một chiến lược nước đôi để đối phó lại với những tiếng nói gay gắt hơn từ phía tân chính phủ của Hoa Kỳ. Về một mặt, người ta đương đầu với áp lực của Hoa Kỳ, và là bằng một cách đầy hiệu quả. Từ 1950, người Âu đàm phán về việc thành lập một “Cộng đồng Quốc phòng Âu châu” (European Defence Community, EDC) bao gồm cả nước Cộng hòa Liên bang Đức. Trong khi Hoa Kỳ vì lợi ích an ninh Tây Âu mà mong muốn có một thống nhất nhanh chóng thì kế hoạch thành lập một quân đội Đức chỉ vài năm sau khi Đệ nhị thế chiến chấm dứt đã gây ra một cuộc tranh cãi gay gắt trong nước Pháp. Nếu Washington muốn đạt tới mục tiêu của mình thì phải chú ý đến những lợi ích của Pháp, những cái chỉ phù hợp một phần với những lợi ích của Mỹ. Vì EDC, cũng như NATO, bao hàm một chiến lược “ngăn chặn đôi”: một mặt, nó hướng tới mối đe dọa từ Khối Warszawa; mặt khác nó phục vụ cho sự kiểm soát nước Cộng hòa Liên bang Đức. Vì vậy mà từ góc nhìn của Pháp, phần đóng góp của nước Đức để bảo vệ Tây Âu không được phép vượt quá phần đóng góp của Pháp. Và điều này là điều hầu như không thể trong hoàn cảnh đó – cuối cùng thì một phần đáng kể của quân đội Pháp không có mặt ở châu Âu, mà là ở Việt Nam. Sự kết hợp lợi ích Âu châu và Đông Nam Á đã tạo khả năng cho chính phủ Pháp chịu đựng được áp lực của Mỹ. Cuộc Chiến tranh Việt Nam phải chấm dứt đã, rồi thì chính phủ có thể đưa trình Quốc Hội phê chuẩn EDC. Thái độ gần như là tống tiền này đã giới hạn đáng kể các lựa chọn của Mỹ đối với Paris.

Nhưng mặt khác, chính phủ Pháp quyết định đáp ứng các yêu cầu của Mỹ về một chiến thuật mới ở Việt Nam. Phục vụ cho mục đích này, tổng tư lệnh ở Đông Dương, Tướng Henri Navarre, lập một kế hoạch. Ông có ý định tập trung lực lượng quân đội Pháp lại, để ép buộc Việt Minh vào trong một trận đánh, và chuyển sang thế tiến công trong vùng đồng bằng sông Hồng. Thế nhưng kế hoạch này đã thất bại ngay từ đầu, vì tướng Giáp và Việt Minh về mặt họ đã tập trung quân đội của họ ở biên giới Việt-Lào. Căn cứ chính của Việt Minh trong vùng này là một ngôi làng mà tên của nó chẳng bao lâu nữa sẽ đầy trên các tít của báo chí thế giới: Điện Biên Phủ. Các cuộc tấn công của Việt Minh sang lãnh thổ Lào có nhiệm vụ làm suy yếu quyền lực của vua Lào hợp tác với Pháp. Về cơ bản, những cuộc tấn công này được dự định như là những hoạt động đánh lạc hướng, ngăn chận một đợt tấn công của người Pháp ở phía Đông Việt Nam và làm phân tán lực lượng của người Pháp. Toan tính của Giáp thành công: trong tháng Mười 1953, nước Pháp ký kết một hiệp ước tương trợ quân sự với Vương quốc Lào thuộc trong Liên hiệp Pháp, cái đã đặt thêm nhiều trách nhiệm lên cho quân đội Pháp. Một tháng sau đó, Navarre ra lệnh tái chiếm các vùng biên giới và xua đuổi Việt Minh ra khỏi vùng Tây Bắc Việt Nam. Vị tướng tuyên bố lạc quan, chiến thắng đã tiến gần đến tầm tay, “như ánh sáng ở cuối đường hầm”.[1]

Việt Minh chấp nhận thách thức này. Trong khi quân đội Pháp chiếm đóng thung lũng quanh Điện Biên Phủ, Giáp đóng quân trên những ngọn núi hiểm trở bao quanh thung lũng đó. Trong một thành tích vượt bậc, hàng chục ngàn Việt Minh chỉ với sức người đã mang tiếp tế, vũ khí, đạn dược và cả trọng pháo qua những con đường mòn trong rừng ở hai bên biên giới tới đó. Đầu 1954, 12.000 người lính tinh nhuệ Pháp bị bao vây bởi những lực lượng đông hơn về quân số trong một vùng núi đồi bị cô lập, và việc tiếp tế cho đội quân này chỉ còn có thể được duy trì bằng máy bay. Tin chắc rằng Việt Minh không có khả năng sử dụng vũ khí hạng nặng trong vùng đồi núi, Navarre phớt lờ những lời cảnh báo từ tình báo của ông và quyết định giữ Điện Biên Phủ và ép buộc đối thủ bước vào một trận đánh.

Đứng trước những gánh nặng về quân sự và kinh tế, ngay từ mùa hè 1953, niềm hy vọng đã nẩy mầm trong chính phủ Pháp, rằng có thể chấm dứt cuộc chiến ở bàn đàm phán. Tình hình quốc tế thuận lợi. Ngưng bắn ở Triều Tiên đã góp phần làm giảm căng thẳng nhất định, và giới lãnh đạo Xô viết mới, lên nắm quyền sau cái chết của Stalin (tháng Ba 1953), thông báo rằng họ quan tâm tới một giải pháp cho các xung đột ở châu Á. Nhưng đồng thời họ hy vọng sẽ thuyết phục được nước Pháp không tham gia vào EDC, để qua đó mà ngăn chận một quân đội Đức được thành lập. Nhưng cũng cả những cân nhắc về đối nội cũng góp phần làm tăng tính sẵn sàng bước vào đàm phán của chính phủ dưới quyền Thủ tướng Joseph Laniel: Đại đa số người dân Pháp khước từ cuộc chiến. Trong khi ít ra là còn 37% người dân ủng hộ cuộc chiến trong các thăm dò ý kiến của năm 1947 thì tỷ lệ này đã giảm xuống còn 8% năm 1954. Ở Paris, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Dulles phản đối những cuộc thương lượng này, nhưng không thành công: vấn đề Đông Dương được đưa vào chương trình nghị sự của một hội nghị Đông-Tây, dự định vào tháng Năm 1954 ở Genève.

Quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ
Quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ

Trong khi đó thì tình hình của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ ngày càng tuyệt vọng hơn. Để hỗ trợ, Eisenhower cho điều động 40 chiếc máy bay ném bom B-26 do phi công người Pháp lái cũng như nhân viên kỹ thuật mặc thường phục sang Việt Nam. Thế nhưng sự giúp đỡ của người Mỹ không thể đảo ngược được tình thế. Vào ngày 13 tháng Ba 1954, Việt Minh tăng cường tấn công quân đội Pháp đã đào hào cố thủ dưới mặt đất. Hai trong số ba ngọn đồi mà viên chỉ huy người Pháp bố trí pháo binh của ông ở trên đó đã thất thủ trong lúc đó. Cả đường băng cũng bị phá hủy; qua đó, lực lượng này chỉ còn có thể được tiếp tế bằng dù. Bầu không khí khủng hoảng bắt đầu lan rộng ra tại bộ tổng chỉ huy Pháp ở Sài Gòn, ở Paris xa xôi và ở Washington.

Vài ngày sau đó, Tổng tham mưu trưởng Pháp Paul Ely sang Washington để hội đàm với giới lãnh đạo Mỹ. Tại đó, sự thất vọng bị dồn nén lại bốn năm nay của phía bên này về chính sách của phía bên kia đã được bộc lộ rõ ràng. Tuy Ely đã cảm kích nhận thêm nhiều chiếc máy bay ném bom hỗ trợ nữa, nhưng đã dứt khoát chống lại ý muốn gửi chuyên viên đào tạo người Mỹ sang Việt Nam, để huấn luyện cho quân đội Việt Nam do người Pháp thành lập. Nhằm ngăn chặn trước một sự can thiệp có thể có từ quân đội Trung Quốc, Ely và Đô đốc Arthur Radford, tổng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ (Joint Chiefs of Staff, JSC), cũng bàn về một không kích của Mỹ lên vùng đồi núi quanh Điện Biên Phủ. Sếp không quân Nathan Twining thậm chí còn suy đoán về khả năng của một cuộc không kích hạt nhân: “Người ta có thể dành trọn một ngày để bảo đảm rằng quả bom được ném đúng chỗ. Không có chống cự. Những người cộng sản sẽ biến mất, dàn nhạc sẽ chơi bài Marseillaise, và người Pháp có thể hành quân ra khỏi Điện Biên Phủ – trong tình trạng tốt đẹp nhất. Và người cộng sản sẽ nói rằng: ‘Ừ, những tên đấy có thể sẽ làm điều đó thêm lần nữa. Trong tương lai, chúng ta cần phải thận trọng hơn.'”[2] Thế nhưng Radford và Twining không chỉ gặp phải sự không đồng tình của Tổng tham mưu trưởng Lục quân, Tướng mattew Ridgway, cho chiến dịch VULTURE. Eisenhower và Dulles tuy không muốn chấp nhận một chiến bại của Pháp. Nhưng một cuộc không kích, còn chưa nói tới một quả bom nguyên tử, sẽ làm tăng nguy cơ khiến Trung Quốc can thiệp. Eisenhower lo ngại rằng một diễn tiến như vậy sẽ dẫn tới một phiên bản mới của Chiến tranh Triều Tiên. Để cho thế giới thấy rõ sự nghiêm trọng của tình hình, vào ngày 7 tháng Tư 1954 vị Tổng thống đã nhấn mạnh trước báo chí tầm quan trọng của Đông Dương đối với Hoa Kỳ. Tại cơ hội này, Eisenhower đã đưa ra một cái tên cho quan điểm trong chính sách đối ngoại mà đã được chấp nhận chung kể từ 1950: “Cuối cùng thì có những suy nghĩ rộng lớn hơn mà người ta có thể mô tả với nguyên tắc của ‘quân cờ domino ngã xuống’. Khi người ta dựng một loạt quân cờ domino và đẩy ngã con cờ đầu tiên, thì chắc chắn rằng tất cả các quân cờ domino đó đều ngã xuống.”[3]

Điều mà Tổng thống và người Ngoại trưởng của ông dự định là một “hành động hợp nhất” (United Action). Một liên minh từ Hoa Kỳ, Liên hiệp Anh, Pháp, Australia, New Zealand, Thái Lan, Philippines và Liên bang Đông Dương sẽ cùng nhau bảo vệ Việt nam và toàn bộ Đông Nam Á chống lại chủ nghĩa cộng sản. Một liên minh như vậy, theo tính toán của Eisenhower, sẽ làm tăng tinh thần sẵn sàng chiến đấu của Pháp và loại trừ một sự can thiệp của Trung Quốc. Thế nhưng những cuộc trao đổi với các thành viên dẫn đầu trong Quốc Hội cho thấy rằng các dân biểu không đồng tình với việc can thiệp bằng quân sự của Hoa Kỳ. Cả London cũng không muốn tham gia về quân sự. Churchill và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anthony Eden cho rằng cuộc Chiến tranh Đông Dương thế nào thì cũng thất bại, và không kích Điện Biên Phủ là một sai lầm lớn. Churchill lo ngại một tiếng thét chỉ trích kịch kiệt sẽ vang lên trong những vùng đất còn nằm dưới chính quyền thuộc địa và đặc biệt là từ phía những nước vừa mới được độc lập như Ấn Độ. Thêm vào đó, ông xem việc can thiệp bằng quân sự là một mối nguy hiểm thật sự cho nền hòa bình thế giới. Ngay cả khi ở Washington người ta không vui vẻ với lời từ chối của người Anh, và câu hỏi về cuộc không kích vẫn tiếp tục là đề tài bàn luận, Eisenhower không muốn có một hoạt động đơn phương của Mỹ vì niềm tin cá nhân của ông và vì thái độ của Quốc Hội. Điều mà ông còn ít muốn hơn nữa là cho phép tiến hành một cuộc tấn công quân sự chỉ với nước Pháp. Một hành động như vậy không phù hợp với các lợi ích của Mỹ, vì trong con mắt của công chúng thế giới, nó gắn bó Hoa Kỳ quá chặt chẽ với thế lực thực dân này.

Qua đó, số phận của lực lượng quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ đã bị định đoạt, những người mà sau 55 ngày bị bao vây và bắn phá liên tục đã đầu hàng vào ngày 7 tháng Năm 1954. Điện Biên Phủ không những đã chấm dứt chính quyền thuộc địa Pháp ở miền Bắc; chiến bại này cũng gióng hồi chuông khởi đầu lần rút quân của Pháp ra khỏi toàn Đông Dương.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

———————————————————————————————————————–

[1] Trích dẫn theo George C. Herring và Richard H. Immermann, “Eisenhower, Dulles and Điện Biên Phủ: ‘The Day We Didn’t Go To War'”, trong Dien Bien Phu and the Crisis of Franco-American Relations, 1954-1955. Phát hành bởi Lawrence S. Kaplan, Denise Artaud và Mark R. Rubin, Wilmington/DE, 1990, trang 81-104, ở đây là trang 82.

[2] Trích dẫntheo Lloyd Gardner, Approaching Vietnam. From World War II Through Điện Biên Phủ 1941-1945, New York và London 1988, trang 202.

[3] Public Papers of the Presidents, Dwight D. Eisenhower, 1954, Washington 1960, trang 381-90.

Advertisements

2 thoughts on “Điện Biên Phủ

  1. […] Nhưng mặt khác, chính phủ Pháp quyết định đáp ứng các yêu cầu của Mỹ về một chiến thuật mới ở Việt Nam. Phục vụ cho mục đích này, tổng tư lệnh ở Đông Dương, Tướng Henri Navarre, lập một kế hoạch. Ông có ý định tập trung lực lượng quân đội Pháp lại, để ép buộc Việt Minh vào trong một trận đánh, và chuyển sang thế tiến công trong vùng đồng bằng sông Hồng. Thế nhưng kế hoạch này đã thất bại ngay từ đầu, vì tướng Giáp và Việt Minh về mặt họ đã tập trung quân đội của họ ở biên giới Việt-Lào. Căn cứ chính của Việt Minh trong vùng này là một ngôi làng mà tên của nó chẳng bao lâu nữa sẽ đầy trên các tít của báo chí thế giới: Điện Biên Phủ. Các cuộc tấn công của Việt Minh sang lãnh thổ Lào có nhiệm vụ làm suy yếu quyền lực của vua Lào hợp tác với Pháp. Về cơ bản, những cuộc tấn công này được dự định như là những hoạt động đánh lạc hướng, ngăn chận một đợt tấn công của người Pháp ở phía Đông Việt Nam và làm phân tán lực lượng của người Pháp. Toan tính của Giáp thành công: trong tháng Mười 1953, nước Pháp ký kết một hiệp ước tương trợ quân sự với Vương quốc Lào thuộc trong Liên hiệp Pháp, cái đã đặt thêm nhiều trách nhiệm lên cho quân đội Pháp. Một tháng sau đó, Navarre ra lệnh tái chiếm các vùng biên giới và xua đuổi Việt Minh ra khỏi vùng Tây Bắc Việt Nam. Vị tướng tuyên bố lạc quan, chiến thắng đã tiến gần đến tầm tay, “như ánh sáng ở cuối đường hầm”.[1] […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s