Thành phố tiền tuyến. Thành phố trong mơ

Tôi chui ra khỏi tấm giả da hổ, hôm đấy là ngày chủ nhật. Tôi bước xuống dưới nhà, đi về hướng có tiếng người nói. Bữa ăn sáng và một lời nói thân thiện đang chờ trong phòng bếp. Gia đình đã dùng xong bữa sáng, người chồng sắp sửa đi, đứa con trai cũng vậy, người vợ chuẩn bị bữa trưa.

            Làng quê vẫn như thời tôi còn bé – ngôi nhà có thể rộng lớn như nó muốn, người ta chỉ sống trong một gian phòng duy nhất. Các phòng khác được trang bị bàn ghế một cách vô lý và được lau chùi thường xuyên. Chúng không được sử dụng mà chỉ được để đó, thường ở tầng trên, nơi tôi vừa bước xuống.

            Thật ra, chủ nhân của những ngôi nhà được xây mở rộng, có tầng lầu với nhiều phòng mới, giống nhau, trước sau vẫn còn sống trong ngôi nhà nông dân nhỏ của tổ tiên họ, những người mơ ước có dư thừa chỗ trống. Bây giờ thì họ có nó. Họ xây thêm phòng, để lưu trữ không gian ở trong đó. Không phải vì những vật ở bên trong, người ta nhận ra ngay tức khắc điều đó trong các gian phòng. Người ta đặt nhiều đồ vật vào bên trong, chỉ để cho cái trống rỗng đừng lai vãng ở trong đó. Tôi đã ngủ trong giấc mơ của một người nông dân, đã được mơ cách đây một hay hai thế kỷ; những thứ bề bộn hết sức hiện đại bám vào trong đó như một con ruồi trên cái đập ruồi.

Sông Neiße đoạn phía Bắc. Hình: Wikipedia
Sông Neiße đoạn phía Bắc. Hình: Wikipedia

            Tôi từ giã, người vợ tiễn tôi ra đến cổng và suỵt con chó, rồi tôi tiếp tục đi dọc theo sông Neiße. Nó hẹp hơn sông Oder rất nhiều – tôi có thể ném một hòn đá sang bờ bên kia mà chẳng khó nhọc gì –, và nó chảy và rì rầm nhanh hơn rất nhiều. Tôi phải tự nói với tôi rằng nó là biên giới và người ta không được phép băng ngang qua nó một cách đơn giản, không nhìn thấy được như vậy. Dòng sông có vẻ cạn đến mức ở một vài nơi tôi có thể cởi giày và quần ra và bước qua bên kia mà không bị ướt. Người buôn lậu cũng làm như thế về đêm. Bờ sông này cũng như bờ sông kia: một vùng đất thấp với cỏ và rừng ngập nước. Đồng cỏ, dẻ gai, sồi. Thỉnh thoảng tôi nghe thấy tiếng súng của một người thợ săn, tiếng kêu của chim di trú. Chúng đúng là bay dọc theo sông.

            Tôi phát hiện một nông trại đổ nát ở bờ sông bên kia gần Coschen. Mái của ngôi nhà chính đã phủ rêu, dầm nóc của chuồng nuôi gia súc là một cột sống đã biến dạng. Ngôi nhà nhỏ có lò nướng bên trong đứng xiêu vẹo xám xịt, các ống khói đã mục, gạch đã rớt hay bị đập ra từ ngôi nhà kho chứa rơm. Màu mưa xám của 60, 70 mùa đông treo ở bản lề cổng. Tiếng chó sủa.

            Rồi tôi đến Guben, và Guben đánh bại tất cả những gì tôi đã biết đến. Köln, Kiel, Kassel đã bị xóa sạch, bị đốt cháy và tan thành bụi, nhưng ở đấy vẫn còn một cái gì đó có tên là Köln, Kiel, Kassel, và nếu có vài ý tốt thì vẫn nhìn ra được Köln, Kiel, Kassel. Ở đây thì khác. Không phải như ông chủ quán nói tối hôm qua, rằng không có quán nào ở Guben cả. Mà chính là không có Guben.

            Tôi rất muốn uống một cái gì đó nong nóng và mua thứ gì đó để ăn, nhưng tôi không tìm thấy gì hết. Những con đường còn sống sót lạc lõng trong khu vực của thành phố trước đây. Trong cơn xúc cảm bướng bỉnh buồn cười, một con đường tự gọi mình là “trung tâm thành phố”, nhưng chỉ là một con đường đầy bụi rậm dẫn sang Ba Lan, hướng đến cây cầu qua sông Neiße.

            Tôi không biết phải đi đâu, và bước bộ quanh một vòng. Bất thình lình tôi đứng trước đống đổ nát khổng lồ của một nhà máy theo kiểu của cuối thế kỷ 19. Rồi tôi phát hiện thêm một cái và thêm một cái nữa và một ngôi nhà có cổng gợi nghĩ đến một ngôi biệt thự lộng lẫy của người chủ nhà máy – vâng tất nhiên rồi, các nhà máy mũ Guben.

            Vào đầu thế kỷ 19, đúng vào thời của cuộc cách mạng công nghiệp, có một người làm mũ từ thành phố Forst nhỏ ở kế cận dọn về Guben, ông ấy phát minh ra cách xử lý nỉ bằng cơ học và qua đó là phương thức sản xuất mũ công nghiệp cho quý ông và quý bà. Chẳng bao lâu sau, thành phố mà cho đến thời điểm đó vẫn còn hoàn toàn không quan trọng, có đến 7 nhà máy lớn chuyên sản xuất mũ. Trước Đệ nhất thế chiến, chúng cung cấp hằng năm nhiều triệu chiếc mũ cho châu Âu và bên kia đại dương. Guben cung ứng mũ cho toàn thế giới. Ngày nay, chỉ còn những di tích khảo cổ là vật chứng cho việc đó. Năm 1945 Guben đã là thành phố tiền tuyến, cũng như những thành phố khác cạnh sông Oder và Neiße, như Küstrin hay Frankfurt. Có thể còn sót lại một cái gì đó ở bên kia, Gubin, cái nửa kia của thành phố ở bên kia sông.

            Tôi đi qua cầu biên giới và lại ở trong Phnom Penh. Các thành phố sau chiến tranh ở khắp mọi nơi đều giống nhau. Một cái chợ hoang dã rồi có trật tự và có mái che. Một cái chợ trên mảnh đất bỏ hoang đã từng là trái tim của Guben. Những lối đi chật hẹp, được chia thành từng khu rất chính xác, nhét đầy quần áo lót rẻ tiền và thuốc lá, quần jean giả hiệu và những tấm trải bàn bằng nhựa trong màu sắc đang kêu thét lên. Dụng cụ câu cá, xoong nồi, dao, thánh giá dùng trong lễ ban thánh thể, bánh mì. Đồ dùng trong lúc nguy cấp. Hàng hóa để mà sống còn.

            Những chợ này có một cái gì đó thô và nguyên thủy và mang tính chữa trị ban sơ. Giống như một nghi thức của Beuys. Vì ở đây cũng giống như ở ông: đồ nỉ, mỡ, xe trượt tuyết, hàng được đóng dấu một cách thô sơ. Hàng hóa để mà sống còn.

            Và chính Beuys cũng như những thành phố này. Ông cũng trở về từ chiến tranh như chúng; ông mang một tấm kim loại trong đầu, cũng như chúng mang những bộ phận giả bằng tôn gợn sóng. Và huyền thoại của ông như vầy: Người Tatar đã tìm thấy và cứu sống ông trên bán đảo Crimea ra sao. Họ cuộn lại và bảo quản chiếc máy bay Stuka rơi xuống như thế nào, trong nỉ và mỡ. Ông đã hồi phục và tìm đường trở lại hàng ngũ ra sao. Trong lần gặp ông ở Kassel, tôi đã hỏi ông rằng điều đó có thật không.

            “Thật như cái này.”

            Ông chỉ tay đến một ngọn núi đá bazan, nằm ngay giữa Kassel, một đống đá bazan to lớn thô sơ mà ông đã tặng cho thành phố hay, theo cách nhìn của phần lớn người dân Kassel, đang đè nặng lên nó. Thêm vào đó là từng ấy cây sồi. Ông muốn chúng được trồng, phân tán khắp thành phố. Mỗi một cây sồi với một hòn đá núi lửa. Thành phố chống lại, nó rên lên dưới đá bazan – cái ngọn núi mới của những đống đổ nát này, cái mà ông Buyes của nó đã đổ vào ngay chính giữa đã bị đập nát ra, đã được làm sạch những đống đổ nát và đã được dọn dẹp một cách rất cẩn thận. Nhưng rồi cái đống trên Quảng trường Friedrich cũng vơi đi dần dần. Cuối cùng, nó biến mất trong thành phố, từng cột bia mộ một, từng cây sồi một.

            Tôi đi bộ vài phút qua chợ, rồi tôi quay trở lại cây cầu được kiểm soát bởi nhiều nhân viên hải quan, đang nghi ngờ vì có người lại nhanh chóng trình thẻ căn cước ra mà chẳng hề mua đến một tút thuốc lá.

            Nhưng tôi vẫn còn có một câu hỏi, một câu hỏi rất thực tế. Làm sao để mà có thể sống được ở đây? Tôi đặt câu hỏi đó cho một người đàn ông ở bàn bên cạnh trong quán bán bánh mà cuối cùng rồi tôi cũng tìm thấy. Tôi dám làm điều đấy, vì ông ấy bàn luận với hai người khác về Gottfried Benn[i].

            “Xin lỗi, ông có thể cho là trơ tráo, nhưng tôi phải hỏi ông là làm sao ông chịu đựng được cuộc sống ở đây mà không phát điên lên?”

            Ông ấy mang một cái áo khoác nhung màu sáng và một bộ râu cực nhỏ đang thời thượng và là một người tròn trịa, trông có vẻ bồn chồn. Ông không cười nhạo tôi và cũng không giận điên lên. Ông suy nghĩ không lâu lắm và trả lời một cách điềm tỉnh: “Người ta phải tìm một cái gì đó để sống sót trong nội tâm. Để đừng kết thúc trong rượu chè be bét. Tôi tìm hiểu về lịch sử, đó là phương pháp của tôi.”

Sông Oder
Sông Oder

 

Phương pháp của tôi là đi tiếp. Đã sang tháng 11 mà không nhận ra. Trời mưa lất phất khi tôi đến Görlitz. Và nếu như Guben chỉ cho tôi xem thành ngữ “finis Germaniae[ii]” có nghĩa là gì, thì Görlitz chỉ cho tôi xem cái đẹp, và nó giống như một cú đánh vào mắt. Đất nước đã từng đẹp đến dường nào. Chúng ta đã mất đi những gì. Tôi đi trong một thành phố còn nguyên vẹn đến mức không thể tưởng tượng được.

            Có đôi lúc những người tàn phá vĩ đại thích dung thứ cho một hình mẫu và bảo tồn nó toàn hảo, ở nơi tất cả đều đã chìm vào trong tro bụi: Hãy nhìn đi, dường như họ muốn gọi hậu thế, quyền lực của ta to lớn như thế đấy. Ta chiếm hữu quyền lực về cái đẹp của thế giới, ta có thể làm với nó bất cứ điều gì mà ta muốn.

            Từ trong một tính khí như thế của chiến tranh, Görlitz đã được dung thứ, và rồi thêm một lần nữa từ một tính khí của hòa bình. Mặt trận đang tiến về Berlin bước một bước dài và hướng hàng rào hỏa lực vòng qua thành phố thời Phục Hưng; 40 năm sau đó, các kế hoạch giật sập khu phố cổ đã có, hố chôn thuốc nổ đã được đào trên đường Heiliggrab, người ta chỉ còn phải đẩy những thanh thuốc nổ vào trong đó. Người ta đã không làm điều đấy. Görlitz vẫn còn tồn tại, ngược với tất cả những khả năng có thể xảy ra đến 2 lần.

            Những người Tây Đức đầu tiên xuất hiện ở đây sau tháng 11 kỳ diệu của năm 1989 không biết là họ phải ngạc nhiên về điều gì nhiều hơn – phát hiện một mảnh Phục Hưng bị bỏ quên nhưng vẫn còn toàn vẹn tuyệt diệu, giấc mơ ban ngày khó tin mà họ không hề đoán trước và bây giờ đang đi xuyên qua nó. Hay là giá của giấc mơ này rẻ đến như thế: Tất cả các ngôi nhà từ thời Columbus[iii] đều bị bỏ trống, người ta có thể mua chúng với giá ngang với giá của một chiếc ô tô rất, rất rẻ tiền đã qua sử dụng. Người Tây Đức hào hứng vì Görlitz, họ tháo cái tạp dề màu xám ra khỏi thành phố và tặng lại cho nó trang sức và màu sắc như nó đã từng mang trước kia.

            Trời đã về khuya, tôi đi dạo trong khu phố cổ. Ở Bắc Ý, tôi sẽ nghĩ như vậy nếu như được thả xuống đây mà không biết mình đang ở đâu. Tiếng phụ nữ thanh thanh trong quán rượu, tiếng kéo ghế nhỏ trên sàn nhà bằng đá không bằng phẳng, những cánh cổng gỗ, tiếng mở ra và đóng lại nặng nề của chúng. Những cái tên đầy ý nghĩa và hình dung mà chúng gợi lên. Ngõ Sáng. Ngõ Đen. Ngõ Người phản bội.

            Bước qua những con phố đó trong đêm, không phải là ngọt ngào hay đa cảm, đánh thức dậy một nỗi đau đã tê lặng lâu nay, cái mà người ta bất chợt lại cảm nhận được. Tôi đi ngang qua những ngôi nhà có sảnh lớn thời Trung cổ, có những người yêu Görlitz cuồng nhiệt đang ngồi bên trong cạnh ly rượu vang. Tôi làm quen với một vài người. Họ đến đây từ khắp mọi nơi, lúc ban đầu có nhiều kế hoạch khác, muốn chuyển sang sống trong vùng Toscana[iv] hay Provence[v], nhưng rồi họ bắt gặp Görlitz. Bây giờ họ đang ngồi trong những ngôi nhà 500 tuổi của họ ở cạnh sông Neiße. Vị giáo sư từ Hawaii với người vợ Ba Lan, kiến trúc sư từ Bremen, nữ họa sĩ từ Hamburg, nhà kinh doanh khách sạn từ Frankfurt. Một đôi vợ chồng từ Berlin, sau khi về hưu thật ra muốn sang sống ở miền nam nước Pháp, bây giờ ngắm sông Neiße thay cho hoa oải hương, họ ngồi dưới mái vòm mà ở phía dưới đó chuyến phiêu lưu của một đôi khác đã bắt đầu trước đây nửa thiên niên kỷ, hai người kể lại cho tôi nghe.

Thành phố Görlitz
Thành phố Görlitz

            Ông ấy là một trong số những người giàu nhất trong thời của ông. Luther[vi] đã gọi ông ấy là ông vua của Görlitz. Thị trưởng, đại thương gia, đứng đầu trong danh sách thuế của thành phố, ông ấy trả gấp 3 lần người láng giềng, và người này là người giàu thứ nhì của thành phố. Georg Emmerich đã mua lại 14 làng, và rồi ông nghĩ đến việc cứu vớt cho linh hồn của ông và đến việc ghi tên mình vào trong lịch sử của thành phố. Ông sẽ đi đến Jerusalem, để được phong thành hiệp sĩ của Mộ Thánh[vii], và sau khi trở về, theo ý Chúa, sẽ hiến tặng cho thành phố của ông một bản sao của Ngôi Mộ Thánh. Nó vẫn còn đó cho đến ngày hôm nay.

            Bà ấy cũng giàu có, con gái của một người buôn bán vải. Một quyển biên niên sử gọi bà là “người có tấm lòng”, có vóc dáng đẹp, “và lông mày đen trên mặt”, Agnes Finger lấy chồng là một người buôn vải, chẳng bao lâu sau đó đã qua đời, để bà góa bụa ở lại.

            Görlitz trở nên giàu có nhờ buôn bán tùng lam, loại cây dùng để nhuộm vải xanh và đen thông dụng trong thời đó, trước khi có thuốc nhuộm màu chàm. Tùng lam mọc rất nhiều trong vùng Thüringen, và Görlitz có đặc quyền mua trước: Những người đi bán dạo phải ở lại thành phố trong một thời gian nhất định để chào bán hàng hóa của họ với giá phải chăng. Qua đó mà hình thành công nghiệp vải và giao thương xa cho đến tận bán đảo Balkan và Vương quốc Ottoman.

            Nhưng không có đường hành hương dẫn từ Görlitz qua bán đảo Balkan đi đến Jerusalem. Người ta phải đi vòng qua Ý, người Venice điều hành một dạng giống như tuyến giao thông đường thủy đi đến Đất Thánh. Và Agnes Finger cũng muốn đi đến đó. Bà không nghĩ đến việc tái giá sớm và từ bỏ sự độc lập có một không hai của một người đàn bà góa giàu có. Bà sẽ đi, trong thời của bà đó là một việc chưa từng có đối với một người phụ nữ trẻ sống đơn chiếc. Đi như Georg Emmerich, vị phú gia – không, không như Goerg. Với ông. Các nhà viết biên niên sử không biết chắc chắn, nhưng họ không chỉ ngụ ý, rằng chuyến đi đồng thời của hai người đến Jerusalem, bên cạnh tất cả những gì của nó – đường hành hương, bảo hiểm linh hồn, trang sử vinh quang phú gia –, cũng là một chuyến phiêu lưu của tình yêu.

            Tôi đứng cạnh cửa sổ trong phòng khách sạn của tôi. Trước tôi là quảng trường Untermarkt về đêm, đối diện là những mái nhà dốc đứng và một vài cửa sổ còn sáng đèn. Thành phố nằm ngủ. Nhưng tôi nhìn những chân mày cổng tò vò dương lên một nửa của nó, những mi mắt đầu hồi khép lại một nửa của nó. Đó là giấc ngủ không say của một nơi đã no thời gian. Tiếng người và bước chân về khuya, cười, nói thì thầm. Có một sự yên tịnh trong đêm như là âm nhạc, thái bình về đêm của những thành phố cổ xưa.

            Cái bài thơ cũ rích, tất cả đều có thật.

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

————————————————————————————————————————

[i] Gottfried Benn (1886-1956): Bác sĩ, nhà thơ và nhà văn người Đức.

[ii] Tiếng La tinh trong nguyên bản, “tận cùng của nước Đức”.

[iii] Christopher Columbus (1451-1506) người khám phá ra châu Mỹ.

[iv] Toscana (tiếng Anh Tuscany): một vùng đất trong nước Ý, giáp với Biển Tyrrhenus.

[v] Provence: Một vùng đất ở miền nam nước Pháp, giáp với Địa Trung Hải.

[vi] Martin Luther (1483-1546) nhà thần học và học giả khởi đầu cho phong trào Cải cách Kháng cách

[vii] Mộ của Giêxu.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s