Công nhận chính quyền Bảo Đại

Ở dưới bình diện của các ý tưởng chủ đạo và viễn tưởng to lớn về kinh tế thế giới và địa chính trị, Hoa Kỳ vào lúc đầu không quan tâm nhiều cho lắm tới Đông Dương. Washington tự hạn chế mình ở mức độ thận trọng thúc giục người Pháp hãy tiến hành cải tổ và hỗ trợ thành lập những nhóm dân tộc chủ nghĩa có định hướng Tây Phương ở Việt Nam. Vì cả trong Bộ Ngoại giao Mỹ, người ta cũng không nghi ngờ rằng Hồ là “cá nhân có nhiều ảnh hưởng nhất và có lẽ là có năng lực nhất” ở Việt Nam, và không có sự chọn lựa dân tộc chủ nghĩa nào khác để thay thế ông.[1] Một vài nhà báo và nhân viên của Bộ Ngoại giao vì vậy mà đề nghị hãy tiến hành tiếp xúc với Việt Minh. Mặc cho khuynh hướng ý thức hệ của ông, họ cho rằng ông trước hết là một nhà dân tộc chủ nghĩa Việt Nam. Không thể xác minh được quan hệ trực tiếp của ông với Moscow. Thế nhưng từ quan điểm của các chuyên gia về Âu châu có nhiều ảnh hưởng trong Bộ Ngoại giao thì điều đó không phải là lý do để đánh giá mới về Hồ và Việt Minh. Còn ngược lại – không có liên lạc còn được diễn giải là Stalin hoàn toàn tin tưởng vào tay sai của ông ở Việt Nam, và Hồ không cần được dẫn dắt. Chính sách đối ngoại của Mỹ sẽ luôn rơi vào tình thế khó xử đó: về một mặt, họ ủng hộ chấm dứt chế độ thực dân, tuyên truyền cho quyền tự quyết của các dân tộc và thận trọng hoạt động để giải tán các thuộc địa. Mặt khác, họ luôn luôn chùn bước (ngoại trừ Indonesia và Hà Lan) trước việc tạo áp lực có hiệu quả lên các thế lực thực dân châu Âu. Và họ cương quyết từ chối không tiếp xúc với những người dân tộc chủ nghĩa theo cộng sản của “Thế giới thứ Ba” đang thành hình.

Bảo Đại ngày phong vương
Bảo Đại ngày phong vương

Ở Việt Nam, cố gắng của người Pháp, xây dựng một sự lựa chọn chính trị khác thay thế Việt Minh mà họ có thể chấp nhận được, đã không thành công. Cuối cùng thì Hoàng đế Bảo Đại, sau khi ngần ngừ ít lâu, là người duy nhất được công chúng biết tới mà đã tuyên bố sẵn sàng đứng đầu một chính phủ dựa vào ân sủng của Pháp. Trong cái được gọi là Hiệp ước Elysée của tháng Ba 1949, nước Pháp hứa trao cho Việt Nam “nền độc lập”, đổi lại nhiều nhân nhượng về kinh tế. Tuy vậy, chính sách đối ngoại và quốc phòng vẫn còn nằm trong phạm vi trách nhiệm của Pháp. Ngoài ra, Việt Nam, Lào và Campuchia phải gia nhập Liên hiệp Pháp, điều tiếp tục đào rỗng ruột lời hứa hẹn về nền độc lập. Cũng như trong quá khứ, thuộc trong chính phủ Việt Nam mới dưới quyền của Bảo Đại là những lực lượng hưởng lợi về chính trị và kinh tế từ một liên kết lâu dài với nước Pháp. “Nguyên thủ quốc gia” này không thể là một sự lựa chọn dân tộc khác để thay thế cho Việt Minh. Bảo Đại, người mà hầu hết thời gian đều sống với gia đình ông tại Côte d’Azur và ở Việt Nam thì thích ở thị trấn nghỉ dưỡng Đà Lạt xa vắng, không có tiếp xúc với người dân nông thôn và đã tách rời quá xa ra khỏi cuộc sống Việt Nam với các vấn đề của nó.

Việc Mao Trạch Đông chiến thắng Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc và người Trung Hoa quốc gia chạy trốn sang Đài Loan trong mùa thu 1949 đã có tác động đáng kể tới chính sách Đông Dương của Hoa Kỳ. Trong Quốc hội ở Washington, phe Cộng hòa đối lập quy trách nhiệm “mất Trung Quốc” về cho chính phủ Truman. Họ cáo buộc chính phủ không hỗ trợ đầy đủ cho Tưởng Giới Thạch và không cương quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản. Những lời cáo buộc này lại càng nghiêm trọng hơn, khi nhiều người Mỹ không chỉ có cảm giác bị đe dọa trên bình diện quốc tế mà còn lo sợ rằng ngay chính nước Mỹ cũng đã bị một âm mưu cộng sản thâm nhập. Ngay trong tháng Ba 1947, Tổng thống Truman đã ra lệnh kiểm tra tất cả các nhân viên liên bang, xem liệu họ có tiếp xúc với những người cộng sản Mỹ và quốc tế hay không, và một “Ủy ban về những hoạt động phi Mỹ” của Hạ viện (House Un-American Activities Committee, HUAC) điều tra cuộc sống của nhiều người dân. Những nỗi lo sợ về một âm mưu còn được tăng cường qua Chiến tranh Triều Tiên: từ 1950 cho tới 1954, thượng nghị sĩ Cộng hòa Joseph McCarthy còn tổ chức một “cuộc truy lùng” những người cựu cộng sản, trí thức và tự do. Bầu không khí nội địa của “kỷ nguyên McCarthy” yêu cầu cần phải có một chính sách đối ngoại cương quyết.

Trong tháng Giêng 1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Xô viết công nhận Việt Minh là chính phủ hợp pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đối với Washington, bước đi này là bằng chứng cuối cùng cho sự hợp tác chặt chẽ giữa những người cộng sản Việt Nam, Trung Quốc và Xô viết. Như là một phản ứng, vào ngày 7 tháng Hai 1950, năm ngày sau khi Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp ước Elysée, Hoa Kỳ công nhận “nhà nước Việt Nam” dưới quyền Hoàng đế Bảo Đại như là một đất nước độc lập nằm trong Liên hiệp Pháp. Vẫn còn trong tháng Ba 1950, chính phủ Truman tiếp tục hỗ trợ tài chính cho cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp, và chuyển giao 15 triệu dollar viện trợ quân sự cho Paris. Với lần công nhận ngoại giao này, Hoa Kỳ đã hợp thức hóa chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Bắt đầu từ đó, bên cạnh chính quyền thuộc địa Pháp, ở Việt Nam có hai chính phủ tranh giành quyền lực trong nước, được khối Đông Âu hay Phương Tây hợp thức hóa, và đều tuyên bố chủ quyền của mình trên toàn Việt Nam.

Quyết định ủng hộ Bảo Đại là một quyết định không dễ dàng cho chính phủ Mỹ. Trong Bộ Ngoại giao ở Washington, người ta biết rõ rằng vị cựu hoàng đế không phải là một đối trọng chính trị cho Hồ. Và người ta cũng biết rõ rằng việc xây dựng một lựa chọn dân tộc khác thay thế cho Việt Minh chỉ có thể khi người Pháp quyết định tự do hóa thật sự chế độ thực dân của họ, và có thể đưa ra cho người Việt những triển vọng đáng tin cậy về một nền độc lập. Thế nhưng trong bầu không khí đối nội và đối ngoại nóng bỏng sau khi “mất Trung Quốc”, người ta đã quyết định nghiên về phía được cho là ít tai hại hơn. Bây giờ, Bảo Đại và người Pháp xuất hiện như là những người bảo vệ các giá trị và mô hình xã hội của Phương Tây. Qua đó, trong cảm nhận của Mỹ, cuộc nổi dậy dân tộc của Việt Minh chống lại chế độ thực dân Pháp, bị cộng sản nắm thế áp đảo, đã biến thành một âm mưu toàn cầu của chủ nghĩa cộng sản chống Phương Tây được bộc lộ ra ở Việt Nam.

Vua xứ An Nam Bảo Đại, có toàn quyền Đông Dương tháp tùng rời dinh với đoàn tùy tùng.
Vua xứ An Nam Bảo Đại, có toàn quyền Đông Dương tháp tùng rời dinh với đoàn tùy tùng.

Không văn kiện nào khác của lịch sử Mỹ sau chiến tranh mà có thể khiến cho người ta hiểu thấu được cảm nhận của xung đột Đông Tây như một tài liệu về chiến lược do Hội đồng An ninh Quốc gia (National Security Council, NSC) soạn thảo. NSC-68, tên của bản phân tích do Paul Nitze (người đứng đầu Ban Kế hoạch Chính trị trong Bộ Ngoại giao) góp phần quyết định soạn thảo, xác nhận các giả định cơ bản trong chính sách đối ngoại và an ninh Mỹ từ 1947, nhưng xét lại chúng một cách nghiêm khắc dưới ấn tượng của lần Xô viết cho nổ thử quả bom nguyên tử đầu tiên trong tháng Chín 1949. Văn kiện phân tích mọi lĩnh vực của chính sách đối ngoại và an ninh Mỹ này bắt đầu bằng câu: “Các vấn đề mà chúng ta phải đối phó với chúng là rất lớn, và chúng có liên quan không chỉ tới thành tựu hay phá hủy nền cộng hòa này, mà là tới nền văn hóa nói chung.” Mục tiêu của Liên bang Xô viết, được dẫn dắt bởi “một niềm tin cuồng tín mới”, là “quyền thống trị tuyệt đối trên phần còn lại của thế giới.”[2] Trong tương lai gần, Liên bang Xô viết muốn mở rộng quyền lực của mình ra trên toàn Âu-Á. Vì vậy mà trước tiên là phải đẩy lùi ảnh hưởng Xô viết ở vùng ngoại vi, trước khi người ta có thể bắt đầu thúc đẩy chính chế độ đó đi tới một thay đổi trong tư tưởng hệ và chính trị của nó nhờ vào những cuộc nổi dậy mang tính dân tộc chủ nghĩa của các dân tộc thiểu số trong Liên bang Xô viết. Hoa Kỳ phải chống lại và đẩy lùi sự xâm lược này bằng mọi quyết tâm. Được đưa ra như là những biện pháp phù hợp: tăng cường vũ trang thật nhiều, viện trợ phát triển, hợp tác quân sự, hoạt động bí mật của mật vụ (covert operations), tiến hành chiến tranh tâm lý và có giải pháp nhanh chóng cho các vấn đề về kinh tế của Nhật Bản và Tây Âu. Tuy NSC-68 không yêu cầu tiến hành chiến tranh rộng lớn, chiến tranh hạt nhân lại càng không, nhưng yêu cầu một chính sách “giải phóng” tích cực. Thuộc vào trong đó không chỉ là một tiềm năng răn đe về hạt nhân có thể khiến cho Liên bang Xô viết không dám tấn công Hoa Kỳ và các đồng minh của Hoa Kỳ. Cũng quan trọng không kém là tăng cường các lực lượng quân sự thông thường. Hoa Kỳ, theo NSC-68, phải có khả năng phá hỏng “các bước đi địa phương của Xô viết qua các hành động địa phương” trên khắp thế giới. Với cái nhìn đến Đông Nam Á, NSC-68 cũng như những phân tích khác của Hội đồng An ninh Quốc gia cho rằng không chỉ Việt Nam mà toàn bộ khu vực đó là mục tiêu bành trướng của cộng sản. Giành lấy quyền lực trong một nước sẽ dẫn tới sự thâm nhập vào các quốc gia khác và cuối cùng rồi sẽ đưa quyền lực về tay các chế độ cộng sản ở khắp nơi. Chiến thắng của một hệ thống trong một đất nước tự động có nghĩa là một sự mất mát của phía bên kia. Trong trò chơi chiến lược tổng bằng không này, những tiếng nói trung dung hầu như không còn được nghe đến nữa – chỉ có bạn và thù, và bất cứ nhà hoạt động nào mà không muốn bị cả bên này lẫn bên kia thu tóm lấy mình thì đều bị nghi ngờ ngay từ đầu. “Trung lập” trở thành một từ để chửi mắng.

Chỉ vài tháng sau đó, các phân tích của Nitze về tính hung hãn của chủ nghĩa cộng sản quốc tế dường như đã trở thành hiện thực: trong tháng Sáu 1950, quân đội cộng sản Bắc Hàn được Stalin và Mao trợ giúp đã tiến xuống miền Nam của bán đảo. Cuộc Chiến tranh Triều Tiên xác nhận các giả định của Bộ Ngoại giao, hướng sự chú ý đến Đông Nam Á mạnh hơn và cỗ vũ cho tính sẵn sàng giúp đỡ cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Và nước Pháp đang hết sức cần điều đó. Chỉ riêng trong năm 1949, cuộc chiến đã nuốt chửng 167 triệu franc – số tiền hết sức cần thiết cho công cuộc tái xây dựng nước Pháp. Từ 1950 cho tới 1954, dòng tiền bạc, thiết bị chiến tranh và dịch vụ quân sự Mỹ với tổng giá trị là 2,76 tỉ dollar đã chảy sang Pháp và Việt Nam (ngoài những thứ khác là 1800 xe bọc thép, 31.000 xe Jeep, 361.000 súng cá nhân và súng máy, hai hàng không mẫu hạm và 500 máy bay). Nếu như Hoa Kỳ còn đảm nhận 40% chi phí chiến tranh trong năm 1952 thì 1954 đã là 80%. Ngược lại, viện trợ phát triển kinh tế cho các chính phủ Đông Dương được giới hạn ở tổng cộng là 50 triệu dollar.

Thế nhưng sự trợ giúp của Mỹ bắt đầu từ tháng Ba 1950 đã không thể dẫn tới một chuyển biến có lợi cho quân đội Pháp. Việt Minh kiểm soát tròn hai phần ba lãnh thổ Việt Nam, và vào cuối năm đó tướng Giáp đã có thể đẩy lui hoàn toàn người Pháp ra khỏi vùng biên giới Việt-Trung. Từ đó, trợ giúp về quân sự từ Trung Quốc sang Việt Nam không còn bị ngăn chận nữa. Đột phá mang tính quyết định chiến lược này làm dấy lên nhiều mối lo âu đáng kể ở Paris và dẫn tới việc thay thế những người đứng đầu về quân đội ở Việt Nam. Thế nhưng cả Tướng Jean de Lattre de Tassigny có sức lôi cuốn và luôn luôn lan truyền sự lạc quan cũng chỉ đạt được những thành công tạm thời. Sau mỗi một chiến thắng, sau mỗi một trận đánh thắng lợi, du kích Việt Minh lại quay trở về làng và biến chúng trở thành những vùng đất tử thần về ban đêm cho những người Pháp không được bảo vệ và cho những người theo chính phủ Bảo Đại. Người con trai duy nhất của de Lattre hy sinh trong chiến tranh, và chỉ trong vòng một năm sau khi tiếp nhận quyền chỉ huy, viên tướng này đã qua đời vì bệnh ung thư. Số phận đáng buồn này mang tính tượng trưng cho chế độ thực dân Pháp. Cả các cố gắng xây dựng một quân đội Việt theo Phương Tây và “Việt Nam hóa” cuộc chiến cũng không đạt được thành công nào đáng kể. Cho tới cuối năm 1952, quân đội Pháp – từ 1946 cho tới 1954 có khoảng 35.000 người Đức là lính lê dương chiến đấu ở Đông Dương, phần lớn là thiếu niên mồ côi và bán mồ côi, cũng như tròn 40.000 lính Bắc Phi và châu Phi da đen – đã tổn thất hơn 90.000 người, bị bắt, bị thương và tử trận. Giới công chúng Pháp đã mệt mỏi với cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (sale guerre) này, và sự bất mãn về chi phí cao đã lan rộng ra trong Quốc Hội. Ở Washington người ta quan sát tiến triển này với nhiều lo ngại, vì cuộc Chiến tranh Việt Nam của Pháp từ lâu đã trở thành một cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Từ góc nhìn Mỹ, người Pháp bảo vệ Phương Tây ở Đông Dương, trong khi Hoa Kỳ trợ giúp nó ở Triều Tiên. Đó là hai mặt trận của cùng một cuộc đương đầu chống chủ nghĩa cộng sản quốc tế.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

————————————————————————————————————————

[1] Department of State Policy Statement on Indochina, 27/09/48, trong FRUS 1948, tập 6: The Far East and Australia, Washington 1979, trang 48 và tiếp theo.

[2] National Security Council Memorandum 68, 7/4/1950, trong FRUS 1950, Tập 1: National Security Affairs; Foreign Economic Policy, Washington 1977, trang 234-285.

 

Advertisements

One thought on “Công nhận chính quyền Bảo Đại

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s