Hoa Kỳ, Chiến Tranh Lạnh và Đông Nam Á

Từ năm 1945 cho tới 1950, chính sách Đông Dương của Mỹ đã dịch chuyển từ một trạng thái trung lập có khuynh hướng nghiên về phía nước Pháp sang tích cực giúp đỡ thế lực thuộc địa và cuộc chiến chống Việt Minh của nước này. Nguyên nhân cho sự biến đổi này là đa dạng: truyền thống chống cộng sản, các phát triển đối nội, những sự kiện trong đối ngoại và thay đổi trong hệ thống nhà nước quốc tế, cân nhắc về kinh tế và những đánh giá chiến lược. Chúng góp phần dẫn tới một thế giới quan chịu nhiều ảnh hưởng bởi nhận thức về mối đe dọa từ cộng sản. Kết hợp lại với nhau, những yếu tố đó ở phía Mỹ đã tạo nên các tiền đề cho cuộc Chiến Tranh Lạnh và thành lập khối ở Đông và Tây. Hoạt động của Hoa Kỳ ở Việt Nam là một sản phẩm của tình trạng lưỡng cực này. Lịch sử Chiến tranh Việt Nam vì vậy mà có liên quan hết sức chặt chẽ với lịch sử của cuộc Chiến Tranh Lạnh. Cả cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp, từ góc nhìn của Washington vào lúc ban đầu là một cuộc chạm trán giữa thế lực thuộc địa và phong trào giải phóng dân tộc-cộng sản, cũng đã nhanh chóng phát triển thành một phần của Chiến Tranh Lạnh. Chỉ sau một thời gian ngắn, quân đội Pháp đã không còn chỉ chiến đấu để tái thành lập chế độ thực dân của họ, mà còn để đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản đang hoạt động dưới chiêu bài chủ nghĩa dân tộc ở Đông Nam Á.

Đại đội súng cối nhảy dù lê dương (1er CEPML)
Đại đội súng cối nhảy dù lê dương (1er Compagnie étrangère parachutiste de mortiers lourds)

Cùng với Liên bang Xô viết, Hoa Kỳ và Liên hiệp Anh đã chiến thắng nước Đức Quốc Xã và Nhật. Thế nhưng ngay từ trong năm cuối cùng của cuộc chiến, người ta đã có thể nhìn thấy rõ những rạn nứt trong liên minh “Liên Hiệp Quốc”. Nhà độc tài Xô viết Stalin tuy vẫn cho rằng trật tự đó sau chiến tranh là có thể có, trật tự mà trong đó ông vẫn còn có thể tiếp tục hợp tác được với các thế lực Phương Tây. Nhưng đồng thời ông vẫn hy vọng rằng Phương Tây sẽ khoan dung và thừa nhận lần dùng bạo lực để mở rộng và củng cố phạm vi ảnh hưởng của Xô viết ở châu Âu. Stalin và các cố vấn của ông đã không nhận rõ được rằng những mục tiêu mà ông theo đuổi qua đó thì không thể nào tương hợp được với Phương Tây, và dưới ấn tượng của sự tàn phá khủng khiếp trong Liên bang Xô viết thì họ cũng không sẵn sàng điều chỉnh các đòi hỏi của họ cho phù hợp với những lợi ích của các thế lực Phương Tây.

Thủ tướng Anh Churchill và Tổng thống Mỹ Roosevelt tuy đã đồng ý để cho Liên bang Xô viết mở rộng vùng ảnh hưởng ở Đông Âu. Thế nhưng cuộc Xô viết hóa đầy bạo lực và sự đàn áp dã man những quyền tự do cá nhân và các đảng dân chủ đã nuôi dưỡng lòng nghi ngờ của họ đối với Stalin và làm tăng cường sự chống đối. Sau cái chết của Roosevelt, người lên nắm quyền lực Harry S. Truman không còn muốn “vuốt ve” người Xô viết nữa, và biết rằng đại đa số người Mỹ cũng đồng quan điểm này với ông. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, sự phản kháng tăng lên nhanh chóng từ Mỹ và Tây Âu, chống lại lần mở rộng quyền lực Xô viết ở Đông Âu, cũng có liên quan tới những hy vọng lớn lao mà người Mỹ đã đặt ra cho tương lai. Ngay từ trước khi bước vào cuộc Đệ nhị thế chiến, Tổng thống Roosevelt đã tuyên bố với người Mỹ và công chúng thế giới rằng, Hoa Kỳ phải bảo vệ dân chủ và tự do. Sau tháng Mười Hai 1941, hàng triệu người Mỹ đã bước vào cuộc chiến với niềm tin rằng việc thiết lập dân chủ và chủ nghĩa tư bản ở khắp nơi trên thế giới là sự bảo đảm duy nhất để không bao giờ xảy ra một thế chiến nữa.

Việc Stalin liên tục cự tuyệt hợp tác với Phương Tây và không muốn tìm kiếm một giải pháp chính trị đồng thuận cho tương lai của nước Đức đang bị chiếm đóng, áp lực lên Thổ Nhĩ Kỳ, sự trợ giúp của Xô viết cho du kích quân cộng sản ở Hy Lạp cũng như nhiều xung đột khác đã tạo thêm căng thẳng cho các quan hệ giữa những cựu đồng minh trước đây cho tới năm 1947. Trước bối cảnh đó, trong tháng Ba 1947, Tổng thống Truman tuyên bố Học thuyết Ngăn chặn (containment), có giá trị và được áp dụng ở phạm vi vượt ra khỏi Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ rất xa. Nó hứa hẹn rằng Hoa Kỳ sẽ giúp đỡ và hỗ trợ cho tất cả các dân tộc đang chiến đấu chống lại những thiểu số quá khích (cộng sản) hay đang bị áp lực từ bên ngoài. Truman tuyên bố rằng bây giờ là thời điểm để cho các dân tộc trên trái Đất lựa chọn giữa tự do và áp bức.

Với Kế hoạch Marshall (1947), Hoa Kỳ đã tạo một công cụ để ổn định các nền kinh tế quốc dân của (Tây) Âu châu, liên kết Hoa Kỳ và châu Âu chặt chẽ với nhau hơn. Ngoài ra, các cựu thù đã tiến lên trở thành đồng minh trong một trật tự thế giới mới. Nhật Bản cần phải được xây dựng trở thành một thế lực khu vực hướng về Phương Tây ở Viễn Đông, để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc và Xô viết, và qua đó góp phần tăng cường an ninh cho Hoa Kỳ và Phương Tây. Ở châu Âu, Tây Đức, trái tim công nghiệp, cần phải được tích hợp vào trật tự dân chủ-tư bản. Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản (1952) cũng như lần thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization, NATO) năm 1949 và kết nạp nước Cộng hòa Liên bang Đức vào các cấu trúc quân sự của Phương Tây trong năm 1955 đã tạo khả năng để liên kết các chính sách an ninh tại Đông Á và Tây Âu vào trong hệ thống trật tự toàn cầu của Hoa Kỳ.

Qua đó, thuyết của Truman và công cuộc tái tích hợp kinh tế là hai mặt của cùng một cái huy chương: Phần chính sách an ninh phục vụ cho việc “ngăn chặn” vùng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản, phần kinh tế phục vụ cho sự phát triển của trật tự tự do-tư bản. Cả hai phương diện bảo đảm cho the American way of life, một hệ thống dân chủ, nhà nước pháp quyền, cái có nhiệm vụ tạo mọi khả năng phát triển và tiêu thụ cho cá nhân. Trong hệ thống này, Đông Nam Á có một chức năng thiết yếu. Khu vực này lúc đầu cần phải là thị trường nguyên liệu và tiêu thụ cho Nhật Bản và châu Âu, để rồi dần dần tự tiến lên trở thành một nhà hoạt động độc lập, một tiểu trung tâm được tích hợp về kinh tế và liên kết với toàn thế giới, có khuynh hướng thân thiện với các giá trị và mô hình xã hội Mỹ.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s