Cái quán ở cạnh sông Neiße

Freienwalde thả tôi đi trong lúc vui tính nhất. Một cái xe buýt đi đến vùng Oderbruch, đi trong một ngày cho không, uể oải. Bướm đu đưa trong nắng, chim di trú quên cả cuộc hành trình, học trò rối rít xô đẩy nhau như trong tháng 5. Đi qua làng quê một lần nữa trong gió hè. Với những ngôi nhà và nhà thờ bằng gạch nung, với những cánh cửa nhỏ, cửa sổ nhỏ, vườn nhỏ, làng mạc trong vùng Oderbruch trông giống như những nơi trong thế giới của người Hobbit – lớn hơn người lùn nhỏ, nhỏ hơn con người lớn. Altfriedland và Gottesgabe và một lâu đài nhỏ ở đây đó.

Bad Freienwalde
Bad Freienwalde

Một nhà ga nằm ở đâu đấy trên những cánh đồng. Tôi tựa lưng vào nó, nhắm mắt lại và chờ đón cái tiếng động thành hình khi chuyến tàu hỏa từ thành phố lớn làm cho đường ray tỉnh lẻ kêu thét lên.

            Nó đi đến Eisenhüttenstadt, lại một thành phố trong lứa tuổi của tôi. Nhưng tuổi của nó thật, nó trẻ thật sự. Trước đây 60 năm, ở đây chỉ có ruộng và đồng cỏ; chẳng bao lâu nữa sẽ trở lại như vậy. Cái vũ trụ đã thành hình quanh nhà máy luyện kim và Thành phố Stalin, đã nở rộng ra trong một thời gian dài và có thêm nhiều vòng đai dân cư mà vào lúc cuối đã ngày càng trở nên không đáng yêu và tồi tàn hơn. Bây giờ nó đang co lại. Người ta đang giật sập những vành đai không còn ai cần đến nữa.

            Tôi đi qua một khu phố bị bỏ rơi như vậy. Nhiều khu nhà trống rỗng đứng ở đấy, bị trói lại, bị hôi của, đã sẵn sàng để được giật sập. Sau mỗi một cánh cửa là một tiếng động. Đập mạnh và vỡ tan. Kể lể và kêu rú. Một tiếng nổ to. Nghe giống như tiếng người. Tôi đứng trên quảng trường ngay trong đám cỏ dại giữa những ngôi nhà, một con ác là đậu trên thanh treo thảm, và trong một lúc lâu tôi tin rằng đã nghe được tiếng đánh nhau bằng những mảnh vỡ và thanh sắt và tiếng con gái đang cổ vũ ở phía sau những cánh cửa. Tôi nậy một cánh cửa ra và lần mò bước vào bên trong, nhưng không có bóng dáng con người ở trong những ngôi nhà đó.

            Chính là các khu nhà đổ nát đã tạo ra tiếng động đó, chúng kêu lạch cạch và lập cập. Các đồ vật cuối cùng còn lại ở trong đó đập vào nhau trong những hầm cầu thang và hộ ở. Dây điện lòng thòng. Đèn. Ống lắc lư. Cánh cửa bị đạp tung ra. Gió làm cho chúng chuyển động. Gió ở trong nhà, ngoài ra không có ai khác.

            Cối xay nhà đang chờ ở phía sau khu phố và nghiền nhỏ tất cả ra. Người ta đập nhà ra thành từng mảnh. Chúng nằm đó, bị đập tan thành từng đống. Chúng đi vào cối xay như thế. Và chúng trở thành đống bê tông bị nghiền nhỏ cao như một ngôi nhà khi trở ra.

Tôi nhìn thấy sông Neiße vào lúc hoàng hôn. Có một cái quán xinh đẹp ở đó, nơi nó chảy vào sông Oder, nhà một tầng với cửa gỗ ở giữa, nhìn ra sông. Tuy là chiều tối ngày thứ bảy nhưng quán chỉ có vài người khách. Ông chủ quán là một người đàn ông trẻ tuổi với mớ tóc vàng thắt đuôi ngựa. Ông có ác cảm với cây cầu biên giới chính thức ở tại Guben cách đây một đoạn theo hướng ngược sông. Vâng, ông nói, ngày xưa người tắm sông Neiße thỉnh thoảng đã bị bắn. Biên giới vẫn còn được canh phòng cẩn mật cho đến ngày nay. Nhưng tắm sông vào một tối hè nóng bức đơn giản là đẹp đến mức không thể không làm được.

Sông Neiße, biên giới Đức-Ba Lan. Hình: Thomas Mucha
Sông Neiße, biên giới Đức-Ba Lan. Hình: Thomas Mucha

            Ông lôi ra một quyển sách hướng dẫn du lịch của năm 1914. Làng có 2 quán, ở trong đó viết như thế, tuy vậy người ta phải ưu tiên cho quán này hơn. Trong vườn ngay cạnh nơi sông Neiße nhập lưu, người ta sẽ thích thú nhìn giao thông tàu thủy nhộn nhịp trên sông Oder. Cái đó cách đây đã lâu lắm rồi.

            “Ngày nay”, một người khách đã lắng nghe chúng tôi nói to, “họ thích thú cảnh buôn lậu nhộn nhịp. Thuốc lá, người, bất cứ cái gì anh muốn.” Lại vừa mới có 10 người lội qua sông Neiße.

            Ông có kiểu tóc giống như Rudi Dutschke[i] từ đến từ Guben, và ông chủ quán nói rằng người Guben thích đến quán cạnh sông Neiße, vì thật ra không có quán nào ở chỗ họ cả. Tôi không tin như thế, Guben là một thành phố, tôi biết như vậy.

            Người chủ quán trước ông chủ này suýt nữa thì đã nổi tiếng. Một người chuyên làm súng, kinh doanh cái quán cạnh nơi hợp lưu của sông Neiße từ những năm 30. Ông đã cưới con gái của gia đình chủ quán và vào năm 1933, lúc còn là một thanh niên trẻ tuổi, đã tiếp nhận cái quán lúc đó có tên là “Cái neo vàng”. Ông Willi Dohme này cũng là một vận động viên chèo thuyền có nhiều thành tích. Ông luyện tập ngay trước cửa nhà, trên sông Oder và Neiße. Năm 1932 ông vô địch nước Đức trong môn thuyền đơn.

            Sau chiến tranh, người vận động viên thể thao và chủ quán được ưa thích là một điều phiền nhiễu cho quyền lực mới. Không còn có thể nghĩ đến việc chèo thuyền trên sông Oder và Neiße nữa. Các con sông giờ đây là biên giới hòa bình, và hòa  bình ở sông là tuyệt đối. Người ta thật ra rất muốn quốc hữu hóa cái quán nằm ở một vị trí nhạy cảm như thế, nhưng ông vẫn giữ nó cho tới chừng nào ông còn giữ được. Người ta cho chỉ điểm bám sát lấy ông, người ta theo dõi ông, người ta sưu tập tài liệu chống ông nhiều năm liền và cố khích ông nói những điều nào đó có hại cho ông. “Do ông ta có quan hệ qua Tây Berlin”, theo như trong một bản báo cáo bí mật, “nên có khả năng ông ta là gián điệp.” Khi tất cả đều không thành công, người ta cố gắng thu nhận ông làm người chỉ điểm. Dohme chỉ đơn giản là không đi đến điểm hẹn.

            Những người chỉ điểm phần lớn đều là người trong làng, vài người có bí danh đẹp. “Vòi voi”, “Hoa đổng thảo”, “Linh lan”, “Gió”. Một người chỉ điểm có bí danh “Gió”, thật là tuyệt. Nhưng người có bí danh đẹp nhất, kỳ lạ nhất lại là “cộng tác viên không chính thức Hòa Bình”.

            Rồi có người khai báo rằng ông đã nhìn thấy dấu hiệu đèn pin nhấp nháy từ trong cái quán cạnh sông Neiße hướng sang nước Ba Lan, nhưng cũng không thành công, người ta không nắm bắt lấy được ông chủ quán. Cuối cùng, người ta buộc tội ông đã phá hoại việc chống nước lụt, vì ông đã không cho một người lính cứu hỏa dùng điện thoại riêng của ông. Will Dohme bị bắt ngay trên đường phố và bị tuyên xử nhiều tháng tù treo. Cuối cùng thì có thể tịch thu được cái quán của ông. Đó là trong tháng 7 năm 1958, và Dohme biết rằng sự tồn tại của ông ở cạnh biên giới hòa bình đã chấm dứt cùng với việc này. Chỉ một tháng sau đó ông đã chuẩn bị xong để bỏ trốn. Vào ngày 16 tháng 8 năm 1958, người chủ quán cạnh sông Neiße sang Tây Đức, mang theo gia đình và huy chương chèo thuyền của ông.

Trong lúc đó chỉ còn lại hai chúng tôi, người chủ quán kể chuyện của người chủ trước và tôi. Đã đến lúc phải đi. Tôi tìm đến quán trọ trong đêm tối như mực. Chó trong làng giúp tôi: Chúng chồm lên bờ rào và tạo thành một hàng rào danh dự hung dữ. Tôi mở cửa và không bật đèn mà lần mò bước lên cầu thang.

            Đôi bàn chân của tôi cảm nhận được gỗ lát sàn đang oằn xuống, đầu ngón tay sờ vào giấy dán tường, chúng dẫn qua cạnh cứng của cái kệ bằng kính, chạm phải máy truyền hình, bộ bàn ghế, màn treo cửa sổ. Tất cả đều thơm mùi mới. Không chỉ ở trong này: Cả làng đều mới. Trước đấy, tôi không nhìn thấy một cái đầu hồi nhà kho nào mà không vừa mới được sơn xong, không một ngôi nhà nào mà không vừa mới được trát vữa. Tôi chui vào trong tấm chăn giả da hổ, nó cũng thơm mùi mới – tất nhiên rồi, bây giờ tôi mới sực nhớ ra. Sông Oder đã đến đây, trận ngập lụt. Sau lần chìm đắm đấy tiền được gửi đến các làng mạc. Bởi vì thế mà Ratzdorf mới tinh.

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

————————————————————————————————————————

[i] Alfred Willi Rudi Dutschke (1940-1979) nhà xã hội học người Đức, một trong những người phát ngôn nổi tiếng nhất của phong trào sinh viên Tây Đức trong thập niên 1960.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s