Chiến tranh Đông Dương của Pháp bắt đầu

Đối với Việt Minh, những người đã tước vũ khí người Nhật ở nhiều vùng của Việt Nam và tuyên bố đất nước độc lập, có ba vấn đề đứng ở hàng đầu trong chính sách của họ. Đứng trước nạn đói, họ cố gắng phân chia một cách công bằng số lương thực ít ỏi trong những vùng đất do họ kiểm soát. Gắn chặt với việc đó là cố gắng mở rộng ảnh hưởng của họ trong Việt Nam. Thật sự là Việt Minh đã có nhiều thành công lớn trong lúc đó. Trong lúc phong trào chỉ có tròn 5000 thành viên tích cực vào lúc chiến tranh kết thúc thì bốn năm sau đó đã là 700 000. Miền Bắc chiếm số đông, nhưng Việt Minh cũng có cơ sở vững chắc trong các vùng nông thôn của miền Nam cũng như trong các thành phố, đặc biệt là ở Sài Gòn. Tuy vậy, ảnh hưởng của họ ở miền Nam ít hơn ở miền Bắc rất nhiều. Hai giáo phái chịu ảnh hưởng của Phật giáo, mang tính dân tộc chủ nghĩa, đạo Cao Đài và Hòa Hảo, nắm quyền gần như là tự trị ở nhiều vùng tại đồng bằng sông Cửu Long cũng như ở nhiều vùng khác của miền Nam. Mỗi một giáo phái này có khoảng một triệu thành viên. Việt Minh xem việc xây dựng quân đội của họ như là một mối quan tâm quan trọng khác. Lực lượng quân đội vào cuối 1946 là khoảng 80.000 người, chủ yếu đóng ở miền Bắc. Thêm vào đó là một con số lớn hơn rất nhiều của những đơn vị không chính quy, hoạt động trên mọi miền đất nước.

Việt Minh trong thời gian của Cách mạng tháng Tám. Hình: Wikipedia
Việt Minh trong thời gian của Cách mạng tháng Tám. Hình: Wikipedia

Trong Đệ nhị thế chiến, Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã cố gắng thuyết phục các thế lực thuộc địa hãy từng bước trao trả lại nền độc lập cho những nước châu Á bị họ chiếm hữu. Thế nhưng những lời yêu cầu của ông đã bị phản đối kịch kiệt. Người Anh, người Pháp và người Hà Lan tin rằng chỉ với sự giúp đỡ của các nước thuộc địa, họ mới có thể tái xây dựng được những nền kinh tế quốc dân đã bị chiến tranh tàn phá. Để không gây nguy hại tới liên minh chiến tranh với Hà Lan và đặc biệt là với Liên hiệp Anh, Roosevelt phải chấp nhận nhiều thỏa hiệp lớn. Thế nhưng người Tổng thống này muốn dùng nước Pháp bị Đức chiếm đóng và chính quyền thuộc địa trung thành với chính phủ Vichy của nó để đưa ra một ví dụ làm gương. Sau khi quân đội Đồng Minh giài phóng nhiều phần đất rộng lớn của Pháp trong mùa hè 1944 và quân đội Pháp trở thành một yếu tố quan trọng trong cố gắng đánh bại nước Đức, Tướng Charles de Gaulle đã dùng mọi quyền lực để tuyên bố quyền sở hữu các nước thuộc địa của ông. Trong khi Roosevelt trì hoãn một quyết định thì Liên hiệp Anh đã tạo tiền đề để nước Pháp quay trở lại Đông Dương: Thủ tướng Winston Churchill để cho “nước Pháp tự do” của de Gaulle tham chiến chống Nhật ở Đông Nam Á. Khi người Nhật thiết lập chế độ bù nhìn dưới quyền của Hoàng đế Bảo Đại ở Việt Nam trong tháng Ba 1945, cả chính phủ Mỹ cũng chấp nhận để cho quân lính Pháp chiến đấu chống kẻ thù chung. Cuối cùng, sau cái chết của Roosevelt trong tháng Tư 1945, Washington cũng chấm dứt sự phê phán của ông ấy về chủ nghĩa thực dân. Tin chắc rằng Roosevelt đã đi quá xa, tân tổng thống Harry S. Truman hoan nghênh sự giúp đỡ của nước Pháp trong cuộc chiến chống Nhật. Qua đó, ngoài Việt Minh ra thì không còn điều gì ngăn chận việc tái thiết lập chế độ thực dân của Pháp ở Đông Dương sau chiến tranh nữa.

Thể theo kế hoạch được Đồng Minh thỏa thuận tại Hội nghị Potsdam vào tháng Bảy 1945, quân đội Anh chiếm đóng phần phía Nam của Việt Nam trong tháng Chín, trong khi một quân đội Trung Hoa Quốc gia tiến vào miền Bắc cho tới vĩ tuyến 17. Đi theo người Anh là quân đội Pháp mà một phần được chở sang Việt Nam trên những con tàu của Mỹ. Sau những trận đánh ác liệt chống lại Việt Minh, tướng Pháp Philippe Leclerc tuyên bố chiến thắng ở miền Nam năm tháng sau đó. Cả hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, những người mà vào lúc đầu còn liên kết với Việt Minh, cũng đổi chiến tuyến và dàn xếp với người Pháp. Thế nhưng thật sự thì không thể nói đến một chiến thắng của quân đội Pháp được. Họ kiểm soát Sài Gòn cũng như những thành phố lớn khác, và họ giành được đất từ Việt Minh – thế nhưng họ không thể giữ được. Ngay sau khi quân đội Pháp rút đi thì các du kích quân Việt Minh lại quay trở về những ngôi làng đó.

Lính Pháp đổ bộ vào bờ biển An Nam, tháng Bảy 1950
Lính Pháp đổ bộ vào bờ biển An Nam, tháng Bảy 1950

Tại thủ đô Sài Gòn, Cao ủy Đông Dương, Đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu, tiếp nhận chính quyền, và với việc bổ nhiệm người Việt vào trong các chức vụ cao cấp, ông hy vọng có thể đáp ứng cho ý thức dân tộc Việt Nam lẫn các lợi ích của nước Pháp. Tuy vậy, chính phủ này không thể hiện một giải pháp mang tính dân tộc thay thế cho Việt Minh. Ở trong đó, bên cạnh người Pháp thì chỉ có đại địa chủ, doanh nhân và luật sư – évolués, như người Pháp gọi họ –, những người mong muốn một sự hiện diện của chính quyền thực dân.

Ở miền Bắc, tình hình còn phức tạp hơn. Quân đội Trung Hoa quốc gia bóc lột đất nước này một cách tàn nhẫn. Hồ Chí Minh hoài công kêu gọi Hoa Kỳ hãy chấm dứt tình trạng tồi tệ của những đạo quân cướp bóc và ngăn chận lần quay trở lại của người Pháp. Trong tháng Hai 1946, Tưởng Giới Thạch, lãnh tụ người Trung Hoa quốc gia, ký kết với người Pháp một hiệp định tạo khả năng cho chính quyền thực dân quay trở lại Bắc Kỳ, dưới điều kiện là Pháp phải từ bỏ những ưu đãi về kinh tế ở Trung Quốc. Hồ ở trong một tình thế khó khăn. Ông có thể cố gắng ngăn chận việc thực hiện hiệp định, bằng cách là chiến đấu chống lại người Hoa và người Pháp. Một khả năng khác cho ông là thương lượng với những người Trung Hoa quốc gia. Thế nhưng ông lại quyết định đàm phán với đặc sứ của tướng de Gaulle, Jean Sainteny. Các cuộc đàm phán này dẫn tới một thỏa hiệp tạm thời vào ngày 6 tháng Ba 1946. Pháp công nhận Việt Nam như là một “nhà nước tự do” nằm trong Liên hiệp Pháp – tên mới cho hệ thống thuộc địa cũ của Pháp. Đổi lại, Hồ đồng ý tôn trọng sự kiểm soát của người Pháp cả ở miền Bắc Việt Nam trong vòng năm năm. Hồ, bị nội bộ phê phán gay gắt vì hiệp định này, đã lý giải hành động của mình như sau: “Đối với tôi, thà tôi ngửi phân Pháp năm năm còn hơn là phải ăn phân Tàu cả đời.”[1]

Thế nhưng người Việt hết sức thất vọng vì hiệp định này hoàn toàn không có giá trị gì cả: trong khi Hồ còn ở Paris để đàm phán thêm nhiều chi tiết thì d’Argenlieu, với sự ủng hộ của chính phủ ông, đã tuyên bố thành lập một nhà nước Nam Kỳ riêng trong mùa hè 1946. Và cả những yêu cầu về kinh tế mà Hồ phải đối mặt với chúng ở Paris cũng vượt xa những điều khoản trong cuộc trao đổi với Sainteny. Hồ lại nhượng bộ thêm một lần nữa. Thật ra thì người Pháp không quan tâm tới một hiệp định với Việt Minh. Họ hoàn toàn không thể hiện ý định giao cho Việt Nam một thể chế tự trị, nói chi đến nền độc lập. Thêm vào đó, để giải quyết các xung đột mang tính địa phương, quân đội thực dân Pháp ngày càng hay dùng những biện pháp đàn áp bằng quân sự. Cuối cùng, trong tháng Mười Một 1946, quân đội Pháp có cơ hội để dạy cho Việt Minh một bài học. Khi quân đội Pháp dựa trên những lý do giả mạo mà ném bom thành phố cảng Hải Phòng vào ngày 23 tháng Mười Một 1946 và giết chết 6000 người dân thường, sự kiên nhẫn của Hồ, bị những người đi theo đường lối cứng rắn trong Việt Minh thúc ép, chấm dứt. Bắt đầu từ lúc đó, Việt Minh dùng vũ khí chống lại chế độ thực dân Pháp trên toàn nước. Với những trận đánh trong Hải Phòng và quanh Hà Nội, thành phố mà quân đội Pháp mãi tới tháng Mười Hai sau nhiều trận chiến liên tục mới có thể giành được quyền kiểm soát, cuộc chiến tranh kéo dài gần ba mươi năm trời ở Việt Nam bắt đầu.

————————————————————————————————————————

[1] The Pentagon Papers. The Defense Department History of the United States Decisionmaking in Vietnam (The Senator Gravel Edition), 4 tập, Washington 1971, tập 1, trang 50.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on “Chiến tranh Đông Dương của Pháp bắt đầu

  1. […] Ở miền Bắc, tình hình còn phức tạp hơn. Quân đội Trung Hoa quốc gia bóc lột đất nước này một cách tàn nhẫn. Hồ Chí Minh hoài công kêu gọi Hoa Kỳ hãy chấm dứt tình trạng tồi tệ của những đạo quân cướp bóc và ngăn chận lần quay trở lại của người Pháp. Trong tháng Hai 1946, Tưởng Giới Thạch, lãnh tụ người Trung Hoa quốc gia, ký kết với người Pháp một hiệp định tạo khả năng cho chính quyền thực dân quay trở lại Bắc Kỳ, dưới điều kiện là Pháp phải từ bỏ những ưu đãi về kinh tế ở Trung Quốc. Hồ ở trong một tình thế khó khăn. Ông có thể cố gắng ngăn chận việc thực hiện hiệp định, bằng cách là chiến đấu chống lại người Hoa và người Pháp. Một khả năng khác cho ông là thương lượng với những người Trung Hoa quốc gia. Thế nhưng ông lại quyết định đàm phán với đặc sứ của tướng de Gaulle, Jean Sainteny. Các cuộc đàm phán này dẫn tới một thỏa hiệp tạm thời vào ngày 6 tháng Ba 1946. Pháp công nhận Việt Nam như là một “nhà nước tự do” nằm trong Liên hiệp Pháp – tên mới cho hệ thống thuộc địa cũ của Pháp. Đổi lại, Hồ đồng ý tôn trọng sự kiểm soát của người Pháp cả ở miền Bắc Việt Nam trong vòng năm năm. Hồ, bị nội bộ phê phán gay gắt vì hiệp định này, đã lý giải hành động của mình như sau: “Đối với tôi, thà tôi ngửi phân Pháp năm năm còn hơn là phải ăn phân Tàu cả đời.”[1] […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s