Chế độ thực dân và phong trào chống thực dân ở Việt Nam cho tới 1945

Máy bay Mỹ bay một vòng danh dự trên Hà Nội, một giàn nhạc chơi bài “Star Spangled Banner”. Nhân viên tình báo Mỹ “Office of Strategic Services” (OSS) đứng từ trên một khán đài nhìn xuống một quảng trường có hàng trăm ngàn người tụ tập lại ở đó. Đứng tại tâm điểm của sự kiện là nhà dân tộc chủ nghĩa và cộng sản người Việt Hồ Chí Minh. Vào ngày 2 tháng Chín năm 1945 đó, dựa theo Thomas Jefferson, ông đã tuyên bố nền độc lập của đất nước ông, thoát khỏi chế độ thuộc địa Pháp và sự chiếm đóng của Nhật: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”[1]. Và cũng như Jefferson đã quy nhiều tội phạm về cho vua Anh George III, Hồ cũng biện hộ cho tuyên ngôn độc lập bằng sự độc đoán của chế độ thực dân Pháp.

Các sĩ quan OSS cùng với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, Hà Nội, tháng Tám 1945
Các sĩ quan OSS cùng với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, Hà Nội, tháng Tám 1945

Hồ đã hoạt động nhiều năm trời cho sự kiện này. Như cha của ông – một quan lại của triều đình Huế, người rời bỏ gia đình của ông và trở thành thầy giáo đi dạy học hết nơi này sang nơi khác – Hồ cũng muốn đi ra thế giới bên ngoài ngay từ sớm. Trong năm 1922, từ ở Sài Gòn ông lên một chiếc tàu thủy làm phụ bếp và đi đến Bombay, New York và London. Trước khi Đệ nhất thế chiến bùng nổ, ông làm báo ở Paris và liên kết với những người thuộc phe Xã hội Pháp. Năm năm sau, giới công chúng lần đầu tiên chú ý đến con người Việt Nam trẻ tuổi đó: ông kêu gọi Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson, người tham dự các cuộc đàm phán hòa bình ở Versailles, hãy tạo thêm áp lực ủng hộ lời yêu cầu đòi quyền tự quyết cho mọi dân tộc, nhưng không có kết quả. Năm 1920, niềm tin cá nhân và hoàn cảnh chính trị đã dẫn Hồ đến với những người cộng sản Pháp, đảng duy nhất dứt khoát chống lại mọi hình thức của chủ nghĩa thực dân. Chẳng bao lâu sau đó, ông rơi vào xung đột với cảnh sát vì những bài báo bút chiến và chống thực dân gay gắt. Năm 1924, Hồ phải rời Pháp. Bắt đầu từ đó, Hồ có một cuộc sống nay đây mai đó, sống nhiều năm ở Moscow, ở Trung Quốc và ở Thái Lan. Trước sau ông vẫn kiếm tiền sống bằng cách viết lách. Thế nhưng qua thời gian lưu vong, ông không chỉ trở thành một nhà báo biết diễn đạt thông thạo bằng nhiều thứ tiếng – Hồ trở thành một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Năm 1929, ông cùng với các trí thức người Việt khác thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương ở Hongkong, và cuối cùng ông đã đặt ra một mục tiêu duy nhất: nền độc lập của Việt Nam, thoát khỏi thế lực thuộc địa Pháp. Nhưng mãi Đệ nhị thế chiến mới mở ra cho Hồ những khả năng mà ông đã chờ đợi từ lâu. Vì trong những năm ba mươi, hoàn toàn không có điều gì cho thấy rằng chế độ thuộc địa Pháp ở Đông Dương sẽ sớm chấm dứt.

Ba năm trước khi Hồ ra đời, trong năm 1887, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương sau những trận chiến kéo dài. Pháp đã lợi dụng các xung đột địa phương ở Việt Nam và dần dần mở rộng chế độ thuộc địa ra thành bốn đơn vị hành chánh: Nam Kỳ với thủ đô Sài Gòn, Vương quốc An Nam ở miền Trung Việt Nam, Bắc Kỳ với trung tâm Hà Nội ở miền Bắc, và vương quốc láng giềng Campuchia. Lào nhập vào vài năm sau đó. Sau khi những kháng cự cuối cùng bị bẻ gãy năm 1897, công cuộc thuộc địa hóa có hệ thống được bắt đầu. Hành chánh được tập trung hóa, quyền tự trị của làng mạc bị hạn chế nhiều và tiếp tục bị làm suy yếu đi bởi một hệ thống lao động khổ sai (corvée). Thị trường nội địa bị đóng kín cho tới mức trên thực tế chỉ có hàng hóa Việt và Pháp là đến được với thị trường. Qua trưng thu và khai phá, nhiều nông trại và đồn điền lớn đã thành hình, sản xuất gạo và cao su cho xuất khẩu. Đi cùng với việc này là công cuộc xây dựng kênh đào, đường sắt và đường bộ.

Théâtre annamite de Cholon
Nhà hát trong Chợ Lớn

Cho tới Đệ nhất thế chiến, hạ tầng cơ sở được cải thiện, kinh tế tiền tệ và kinh tế thực dân, và cả việc xây dựng một hệ thống giáo dục mang dấu ấn Pháp cũng đã làm thay đổi cấu trúc xã hội một cách sâu sắc. Cộng đồng làng mạc truyền thống, khai thác đất trồng trọt phần lớn như là sở hữu chung, bắt đầu tan rã ở một vài vùng, nhất là khi việc tái phân chia đất đai đã mang lại một giai cấp tinh hoa mới. Trong khi xã hội nông thôn nằm trong một trạng thái có nhiều căng thẳng giữa truyền thống Nho giáo-Phật giáo và hiện đại tư bản-Phương Tây, con số tương đối nhỏ người dân thành thị ngày càng hướng tới Kitô giáo và nền văn hóa giáo dục Pháp nhiều hơn. Việc Tây Phương hóa cũng được tạo điều kiện dễ dàng qua những lợi ích kinh tế mà tầng lớp này hưởng được qua liên kết với nước Pháp. Thế nhưng sự chống đối chính quyền thực dân bắt đầu tăng lên trong nội bộ giới tinh hoa nhỏ của Việt Nam. Các cuộc nổi dậy ở Trung Quốc (1911) và cuộc Cách mạng tháng Mười Nga của năm 1917 đã để lại một ấn tượng sâu đậm, vì chúng hứa hẹn sẽ giải phóng khỏi sự cai trị của nước ngoài và sự bình đẳng về xã hội, luật pháp, kinh tế và chính trị cho tất cả mọi người.

Vào thời điểm cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu ở Pháp và Việt Nam năm 1930, những người trí thức này bắt đầu thảo luận công khai về tình cảnh kinh tế-xã hội và chính trị. Trong khi chủ nghĩa tư bản đang nằm trong cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất của nó thì Liên bang Xô viết của Josef Stalin đã đạt được nhiều thành công về kinh tế với công cuộc xây dựng “chủ nghĩa xã hội trong một nước”. Cả lịch sử của đất nước cũng đưa ra những khả năng cho sự nhận dạng: nó đưa ra nhiều ví dụ đa dạng của công cuộc kháng chiến chống lại người Trung Quốc, những người đã cai trị đất nước này nhiều thế kỷ. Vào cuối những năm ba mươi, đàn áp những người bất đồng chính kiến tăng lên ở Việt Nam. Năm 1939, có khoảng 2000 người chống chế độ thực dân, dân tộc chủ nghĩa và cộng sản đã bị bắt. Một vài người có thể thoát được truy nã, trong số họ là Tướng Võ Nguyên Giáp sau này. Thế nhưng toàn bộ gia đình ông đã chết trong trại của Pháp. Chính quyền thuộc địa Pháp và 27.000 người lính của họ vẫn còn có thể kiểm soát được một dân tộc 18 triệu người.

Đảng Cộng sản Đông Dương cũng như các phong trào giải phóng dân tộc khác ở châu Á đã được thúc đẩy mạnh qua các diễn tiến trên trường quốc tế. Chiến thắng nước Pháp của Hitler trong tháng Sáu 1940, nước Nhật, liên kết với Đức, chiếm đóng Việt Nam (tháng Chín 1940/tháng Bảy 1941) và sự cộng tác với người Nhật của chính quyền thuộc địa, trung thành với chính phủ Vichy. Khi người Nhật chiếm đóng nhiều phần rộng lớn ở Đông Nam Á chỉ vài tháng sau lần tấn công Pearl Harbor trong tháng Mười Hai 1941, tiếng chuông đánh dấu sự kết thúc chế độ thực dân Âu châu nói chung đã được gióng lên. Ngay cả khi người Nhật chiếm đóng đối xử tàn bạo hơn nhiều khi so với chế độ thực dân Âu châu, ví dụ của nước Nhật đã cho các phong trào giải phóng dân tộc từ Miến Điện qua bán đảo Mã Lai và Indonesia cho tới Đông Dương thấy rõ một điều: cái được cho là tính ưu việt của Phương Tây so với văn hóa Á châu, so với chiến lược, chính trị và tổ chức Á châu, đã bộc lộ ra là ảo giác, là huyền thoại.

Khai thác than ở Hòn Gai
Khai thác than ở Hòn Gai

Trong thời gian người Nhật nắm quyền tối cao ở Đông Dương, chính quyền thuộc địa Pháp đàn áp chống những người cộng sản, những nhóm chống chế độ thực dân và chống Nhật một cách ác liệt chưa từng có cho tới lúc đó. Một cuộc nổi dậy của Đảng Cộng sản ở miền Nam của đất nước trong tháng Mười Một 1940 đã bị đàn áp đẫm máu bằng không quân, trên năm ngàn người bị bắt và hơn một trăm người bị xử bắn. Để có thể đối phó lại với cuộc truy nã, với sự tham gia mang tính quyết định của Hồ Chí Minh, người từ Trung Quốc đã trở về Việt Nam, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, đã được thành lập. Thuộc vào trong đó, bên cạnh một vài lực lượng trung lưu, trước hết là giới trí thức trẻ mà đã quay sang với chủ nghĩa cộng sản trong những năm ba mươi. Là nhóm chính trị duy nhất, Việt Minh giành lấy về phần mình cuộc đấu tranh chống chế độ thực dân Pháp chống kẻ thù của Đồng Minh. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, thành công của họ có liên quan tới Hồ Chí Minh. Ông không những được kính trọng như là một nhà cách mạng quốc tế có nhiều kinh nghiệm. Tài năng tổ chức nổi bật của ông, khả năng thuyết phục người khác nhiệt tình hoạt động cho sự việc của ông, và sức mạnh tích hợp của ông đã đưa ông lên trở thành lãnh tụ không tranh cãi của phong trào kháng chiến và giành độc lập của Việt Nam trong những năm từ 1941 cho tới 1945. Hồ và Việt Minh đã mở ra cho giới trí thức một triển vọng cộng tác với người dân ở nông thôn, chiếm 95% người Việt, như là cán bộ tuyên truyền, như là chỉ huy quân đội hay như là thầy giáo. Họ đấu tranh cho quyền lợi của người nghèo và nông dân, tiến hành những chiến dịch xóa nạn mù chữ trong làng mạc, khuyến khích phụ nữ tham gia đời sống chính trị, hứa hẹn tự do dân chủ và biết cách dùng những từ ngữ đơn giản để diễn tả thế giới như là một cuộc xung đột giữa cái tốt và cái xấu.

Ý thức hệ của Việt Minh bắt nguồn từ lý thuyết của Lênin về một liên minh quốc gia “của tất cả các lực lượng chống đế quốc và tiến bộ” trong các xã hội thuộc địa. Họ vay mượn từ Mao Trạch Đông, người tiến hành một cuộc chiến tranh du kích chống lại người Trung Hoa Quốc gia từ cuối những năm hai mươi, sự chuyển tải của chủ nghĩa cộng sản sang hoàn cảnh của châu Á. Họ hướng tới các tác phẩm của ông về việc huy động tầng lớp nông dân và về chiến tranh du kích. Nhưng có tác động đặc biệt tới những người theo Việt Minh là sự nhấn mạnh tới một chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Cái làm cho nó khác biệt với các phong trào dân tộc trong những nước Đông Nam Á khác là việc một chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đã tồn tại từ trước khi người Pháp đến. Chế độ thực dân ở Việt Nam vì vậy không thúc đẩy sự thành hình một nhận thức dân tộc, mà nó hướng nhận thức dân tộc này đi theo các ý tưởng chống thực dân.

Lúc đầu, Việt Minh tập trung trong vùng rừng núi Việt Bắc khó đi lại ở cạnh biên giới Việt-Trung. Mãi tới khi người Nhật chấm dứt chính quyền Pháp trong tháng Ba 1945 (Paris được quân đội Pháp và Đồng Minh giải phóng trong tháng Tám 1944), tình hình mới thay đổi. Sau khi người Nhật tuyên bố “nền độc lập” của Việt Nam, và đưa Hoàng đế Bảo Đại đã được người Pháp sử dụng lên làm người đứng đầu nhà nước phụ thuộc vào Nhật, thì Việt Minh mới có thể nhanh chóng kiểm soát được thêm sáu tỉnh ở miền Bắc. Thành công của Việt Minh không chỉ có liên quan tới lực lượng chiếm đóng đã suy yếu đi của Nhật. Cho tới 1943/1944, nền kinh tế phục vụ cho chiến tranh, lạm phát và bóc lột đất nước đã dẫn tới thiếu thốn trong cung cấp lương thực, điều còn trầm trọng thêm qua xuất khẩu gạo bắt buộc sang các vùng đất khác trong khu vực do Nhật chiếm đóng. Trong hai năm chiến tranh cuối cùng, đặc biệt là ở miền Bắc, ở Bắc Kỳ, đã xảy ra nạn đói cướp đi sinh mạng từ một tới hai triệu người. Con số này tương ứng với gần một phần năm dân số. Hàng trăm ngàn người nghèo đói đã tham gia Việt Minh trong thời gian này.

Trong năm tháng từ tháng Ba 1945 cho tới khi nước Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng Tám 1945, Việt Minh trở thành đồng minh chính thức của phe Đồng Minh. Điệp viên OSS ở Việt Nam được trợ giúp về mặt tiếp vận, nhận được thông tin về các hoạt động của quân đội Nhật, và du kích Việt Minh giúp đỡ cho các phi công Mỹ bị bắn rơi. OSS cung cấp vũ khí cho Việt Minh và thậm chí còn nhận Hồ làm điệp viên của OSS, bí danh “Lucius”. Khi người lãnh tụ không tranh cãi của Việt Nam tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) vào ngày 2 tháng Chín 1945, người Mỹ và Việt Minh, điệp viên OSS và Hồ Chí Minh đã có một thời gian cộng tác nhiều thành công. Vào thời điểm đó, không ai nghĩ rằng liên minh chiến tranh này chẳng bao lâu nữa sẽ tan rã.

————————————————————————————————————————

[1] David G. Marr, Vietnam 1945. The Quest for Power, Stanford/CA 1995, trang 535.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on “Chế độ thực dân và phong trào chống thực dân ở Việt Nam cho tới 1945

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s