Cái chén pha trà của Tanata

Ferdinand von Schirach
Ferdinand von Schirach

Ferdinand von Schirach

Phan Ba trích dịch từ tập truyện ngắn “Verbrechen” (“Tội Phạm”)

Họ tham dự một trong những buổi tiệc công khai của giới sinh viên Berlin. Ở đó bao giờ cũng có vài cô gái thích con trai từ các khu phố Kreuzberg và Neukölln, đơn giản chỉ vì họ khác với những người khác. Có lẽ là vì các cô gái muốn tìm kiếm tính dễ bị tổn thương ở họ. Cả lần này Samir cũng dường như đã gặp may: cô ấy có mắt xanh và rất thích cười.

Bất thình lình, người bạn trai của cô ấy xuất hiện, Samir hãy biến đi, hay là người ta giải quyết việc này ở ngoài đường. Samir không hiểu “giải quyết” có nghĩa là gì, nhưng gã hiểu được sự hung hãn đó. Họ bị đẩy ra ngoài. Một sinh viên lớn tuổi nói với Samir, rằng người kia là võ sĩ quyền Anh nghiệp dư và đứng đầu ở trường Đại học. Samir nói: “Tôi mặc kệ.” Gã mới 17 tuổi, nhưng đã đánh nhau trên 150 trận trên đường phố, và chỉ có một vài điều khiến cho gã sợ – đánh nhau không thuộc trong số đó.

Tay võ sĩ quyền Anh lực lưỡng, cao hơn một cái đầu và vạm vỡ hơn hẳn Samir.  Và tay ấy đang cười nhe răng trông rất ngu. Người ta đứng tạo thành một vòng tròn quanh hai người, và trong khi tay võ sĩ còn đang cởi chiếc áo khoác ra thì Samir đã dùng mũi giày đá vào hòn dái của hắn. Giày có lót một lớp thép ở mũi, tay võ sĩ quyền Anh phát ra những tiếng kêu ồng ộc và muốn co quắp người lại vì đau. Samir nắm tóc giật đầu hắn xuống và đồng thời thúc đầu gối phải vào mặt. Mặc dầu trên đường phố tương đối ồn ào, người ta vẫn có thể nghe được tiếng xương hàm của tay võ sĩ quyền Anh kêu răn rắc. Tay này nằm chảy máu đầm đìa trên nhựa đường, một tay che bụng dưới một tay che mặt. Samir lấy đà hai bước; cú đá làm gãy hai xương sườn của tay võ sĩ quyền Anh.

Samir thấy mình đã đối xử công bằng. Gã đã không đá vào mặt, và trước hết là: Gã đã không dùng dao. Thật là đơn giản, gã hầu như không phải thở mạnh vì dùng sức nữa. Gã bực mình, vì cô gái tóc vàng đó đã không bỏ đi với gã, mà lại gào khóc và lo lắng cho tên đàn ông đang nằm ở trên mặt đất. “Con đĩ rạc”, gã nói và rồi đi về nhà.

Ông thẩm quán tòa án vị thành niên xử phạt Samir hai tuần trong trại giáo dưỡng và phải tham gia những khóa học kìm chế không dùng bạo lực. Samir tức điên. Gã cố giải thích cho các nhân viên công tác xã hội trong trại giáo dưỡng, rằng phán xét này là sai. Tay võ sĩ quyền Anh đó đã khởi sự trước, gã chỉ nhanh hơn thôi. Những việc như vậy không phải là một trò chơi, người ta có thể chơi đá bóng, nhưng không ai chơi trò đánh quyền Anh hết. Viên thẩm phán không hiểu luật chơi.

Özcan đến đón Samir ở trại giáo dưỡng sau hai tuần. Özcan là bạn thân nhất của Samir. Hắn 18 tuổi, là một anh chàng cao lớn và chậm chạp với một gương mặt chảy xệ. Hắn đã có một cô bạn gái khi còn 12 tuổi và dùng điện thoại di động để quay những cảnh hoạt động với cô ta. Điều đó đã mang lại cho hắn một vị trí nhất định mãi mãi. Özcan có một dương vật lớn đến mức kỳ quặc, và lúc tiểu tiện, hắn đều cố tình đứng sao cho những người khác có thể nhìn thấy. Hắn nhất định muốn sang New York. Hắn chưa từng ở đó, hắn không nói được tiếng Anh, nhưng hắn bị thành phố đó mê hoặc. Không bao giờ mà người ta nhìn thấy hắn không đội chiếc mũ màu xanh dương đậm với hàng chữ “N.Y.” ở trên đó. Hắn muốn điều hành một hộp đêm với nhà hàng và vũ nữ ở Manhattan. Hay một cái gì đó tương tự như vậy. Hắn không thể giải thích được tại sao lại phải là New York, nhưng hắn cũng không suy nghĩ về điều này. Cha hắn suốt đời làm việc trong một nhà máy sản xuất bóng đèn, ông ấy đã nhập cư từ Thổ Nhĩ Kỳ sang chỉ với một cái va ly đồ đạc. Người con trai của ông là niềm hy vọng của ông. Ông không hiểu được việc đó với New York.

Özcan nói với Samir, hắn quen với một người nào đó có một kế hoạch. Gã này tên là Manólis, kế hoạch thì thật tốt, nhưng mà Manólis “hơi tưng tưng”.

Manólis xuất thân từ một gia đình người Hy Lạp điều hành một loạt nhà hàng và quán cà phê Internet ở trong các khu phố Kreuzberg và Neukölln. Gã tốt nghiệp phổ thông, bắt đầu học đại học môn Lịch Sử, và song song với đó thì đi bán ma túy. Trước đây vài năm đã hỏng chuyện một lần. Trong cái va ly chỉ có giấy và cát thay vì cocain. Người mua dùng súng bắn Minólis, khi gã cố bỏ chạy trên chiếc xe cùng với số tiền. Người mua không phải là một tay súng giỏi, trong số chín viên chỉ có một viên đạn trúng đích. Nó đi vào đầu của Manólis và vướng lại ở trong đó. Cái đầu đạn vẫn còn ở trong đầu của Manólis khi hắn đâm vào một chiếc xe cảnh sát. Mãi trong bệnh viện các bác sĩ mới phát hiện ra nó, và kể từ đó Manólis có một vấn đề. Sau khi được phẩu thuật, hắn tuyên bố với gia đình hắn rằng kể từ bây giờ hắn là người Phần Lan, hàng năm ăn mừng ngày 6 tháng Mười Hai là ngày Quốc Khánh của Phần Lan và cố gắng học ngôn ngữ đó nhưng không thành công. Ngoài ra, hắn luôn lên cơn, và có lẽ vì vậy mà kế hoạch của hắn không thật sự là một kế hoạch hoàn chỉnh.

Nhưng Samir thấy rằng ít nhất đó cũng giống như là một kế hoạch rồi: Em gái của Manólis có một cô bạn gái đi lau chùi quét dọn trong một ngôi biệt thự ở khu phố Dahlem. Ả ấy đang rất cần tiền, thế là ả đề nghị với Manólis hãy vào lẻn đó ăn trộm, nhưng phải chia phần cho ả. Ả biết mã của hệ thống báo động và mã của ổ khóa điện tử, ả biết nơi để chiếc két sắt và đặc biệt biết rằng ông chủ nhà chẳng bao lâu nữa sẽ đi khỏi Berlin bốn ngày. Samir và Özcan đồng ý ngay lập tức.

Samir ngủ không yên giấc trong đêm trước khi phạm tội, gã nằm mơ về Manólis và Phần Lan. Khi gã thức giấc thì đã là hai giờ trưa. Gã nói “thẩm phán khốn kiếp” và đuổi cô bạn gái gã ra khỏi giường. Vào lúc bốn giờ gã phải có mặt trong buổi học kìm chế không dùng  bạo lực.

Vào khoảng hai giờ khuya, Özcan đến đón những người kia. Manólis ngủ gật, Samir và Özcan phải chờ hai mươi phút trước cửa nhà. Trời lạnh, các cửa kính đọng hơi nước, họ chạy lạc đường và quát tháo lẫn nhau. Lúc gần ba giờ, họ đến Dahlem. Họ đeo những cái mặt đen bằng len trong ô tô, chúng quá lớn, không vừa và gây ngứa, họ đổ mồ hôi ở dưới đó. Özcan có một ít len ở trong miệng, gã phun nó ra bảng điều khiển xe. Họ đeo găng tay cao su vào và chạy qua con đường rải sỏi đến cửa vào ngôi biệt thự.

Manólis bấm mã vào bàn phím của ổ khóa. Cửa mở ra với một tiếng cách. Máy báo động nằm ở lối vào. Sau khi Manólis cũng bấm tổ hợp số ở đó, cái đèn nhỏ chuyển màu của nó từ đỏ sang xanh. Özcan phải bật cười. “Oceans Eleven”, gã nói to, gã rất thích phim chiếu bóng. Sự căng thẳng giảm xuống. Chưa từng bao giờ dễ dàng như thế. Cánh cửa vào nhà đóng lại, họ đứng trong bóng tối.

 Họ không tìm thấy công tắc đèn. Samir va vào một bậc thang và đập mày trái vào một cái giá treo áo. Özcan vấp vào chân của Samir và ngã xuống lưng của hắn. Samir bật tiếng rên dưới trọng lượng của gã. Manólis vẫn còn đứng, hắn quên mang theo đèn pin.

Mắt họ quen với bóng tối. Samir lau máu ra khỏi mặt. Cuối cùng, Manólis tìm thấy công tắc đèn. Ngôi nhà được trang bị đồ đạc theo kiểu Nhật – Samir và Özcan tin chắc rằng không ai có thể sống như thế này được. Họ chỉ cần vài phút để tìm thấy cái két sắt, họ được miêu tả trước thật tốt. Họ dùng xà beng để nậy nó ra khỏi tường và khiêng nó vào ô tô. Manólis muốn vào nhà thêm lần nữa, gã đã phát hiện ra gian bếp, và gã đói bụng. Họ thảo luận lâu về việc này, cho tới khi Samir quyết định, rằng điều đó là nguy hiểm, trên đường về thì người ta cũng có thể tạt vào một cửa hàng bán thức ăn nhanh. Manólis càu nhàu.

Trong một gian hầm ở Neukölln, họ cố mở cái két sắt ra. Họ đã có kinh nghiệm với két sắt, nhưng cái này thì không mở được. Özcan phải mượn cái khoan có công suất cực cao của anh rể hắn. Khi cái két sắt được mở ra bốn giờ sau đó, họ biết rằng đã bõ công. Họ tìm thấy 120.000 euro tiền mặt và sáu cái đồng hồ trong một cái hộp. Và rồi còn có một cái hộp gỗ sơn mài nhỏ màu đen. Samir mở nó ra. Nó được bọc bằng một lớp lụa đỏ, ở trong đó có một cái chén cũ. Özcan thấy nó xấu xí và muốn quẳng nó đi, Samir muốn tặng nó cho em gái gã, còn Manólis thì mặc kệ, hắn vẫn còn đói bụng. Cuối cùng, họ thống nhất với nhau là bán cái chén đó cho Mike, Mike có một cửa hàng nhỏ với một tấm bảng hiệu to, ông ta tự gọi mình là người mua bán đồ cổ, nhưng thật ra thì ông ta chỉ có một chiếc xe tải nhỏ và mua lại đồ vật trong nhà lúc người ta giải tỏa những căn hộ ở, hay mua lại những thứ cũ kỹ không còn được dùng đến nữa. Ông ta trả họ 30 euro cho cái chén.

Khi họ rời căn hầm, Samir vỗ vai Özcan, nhắc lại: “Oceans Eleven”, và tất cả cười to. Em gái của Manólis sẽ nhận 3000 euro cho cô bạn gái. Mỗi người trong số họ có gần 40.000 euro trong túi, Samir sẽ bán những chiếc đồng hồ đó cho một tên chuyên mua bán đồ ăn trộm. Đó là một vụ vào nhà ăm trộm đơn giản và tốt đẹp, sẽ không có vấn đề gì.

Họ lầm.

Hiroshi Tanata đứng trong phòng ngủ của ông và nhìn cái lỗ trong tường. Ông 76 tuổi, gia đình của ông đã có nhiều ảnh hưởng trong nước Nhật từ nhiều trăm năm nay, họ hoạt động trong ngành bảo hiểm, ngân hàng và công nghiệp nặng. Tanata không quát tháo, ông không khoa tay múa chân, ông chỉ nhìn trừng trừng vào cái lỗ. Nhưng người thư ký của ông, người phục vụ cho ông ba mươi năm nay, nói với vợ của mình vào tối đó, ông chưa bao giờ nhìn thấy Tanata tức giận tới như vậy.

Người thư ký phải làm rất nhiều việc trong ngày hôm đó. Cảnh sát tới nhà và đưa ra nhiều câu hỏi. Họ nghi ngờ những người làm việc trong nhà – ít nhất thì hệ thống báo động đã bị tắt và cửa bị mở ra mà không cần phải dùng bạo lực –, nhưng sự nghi ngờ này không thể được cụ thể hóa. Tanata bảo vệ người của ông. Người ta cũng không đạt được tiến bộ nào với công việc điều tra tại hiện trường, các kỹ thuật viên của Sở Cảnh sát Hình sự Tiểu bang không tìm thấy dấu tay nào, và cũng không thể nghĩ đến dấu vết ADN nào – cô giúp việc đã lau chùi sạch sẽ trước khi cảnh sát được gọi tới. Viên thư ký hiểu rõ người sếp của ông nên chỉ trả lời lấp lửng và ậm ừ cho các câu hỏi của nhân viên nhà nước.

Quan trọng hơn là việc thông tin cho báo chí và những người sưu tập nổi tiếng: Nếu như có ai đó chào bán cái chén pha trà của Tanata thì gia đình ông, đã sở hữu nó từ hơn 400 năm nay, sẽ mua lại với giá cao nhất. Trong trường hợp này, chỉ cần báo cho Tanata biết tên của người bán.

***

Tiệm hớt tóc ở trên đường Yorck có tên như người chủ của nó: “Pocol”. Sau tấm kính quảng cáo có treo hai tấm áp phích quảng cáo đã bạc màu của công ty Wella từ những năm tám mươi: một cô gái đẹp tóc vàng với áo len sọc ngang và quá nhiều tóc, và một người đàn ông với cái cằm dài và bộ râu mép. Pocol thừa hưởng cửa hàng từ cha hắn. Thời trẻ, Pocol còn tự tay cắt tóc, hắn tự học nghề này tại gia. Bây giờ thì hắn điều hành một vài nơi chơi cờ bạc hợp pháp và nhiều nơi chơi cờ bạc bất hợp pháp. Hắn giữ lại cửa hàng, ngồi cả ngày trên một của hai cái ghế hớt tóc dễ chịu đó, uống trà và tiến hành các hoạt động kinh doanh của hắn. Với thời gian, hắn đã trở nên béo mập, hắn thích đồ ngọt Thổ. Em rể của hắn có một cửa hàng làm bánh ngọt cách đó ba căn nhà và làm món ‘balli almalar’ ngon nhất thành phố, những miếng táo với mật ong, được chiên trong dầu nóng.

Pocol nóng tính và tàn bạo, và hắn biết rằng đó chính là vốn làm ăn của hắn. Ai cũng đã từng nghe được câu chuyện của người chủ quán đã nói với Pocol rằng hắn cần phải trả tiền cho những gì hắn ăn. Chuyện này cách đây đã mười lăm năm rồi. Pocol không quen biết người chủ quán, và người chủ quán không quen biết Pocol. Pocol ném vào tường những thứ đã gọi ra, đi tới cái cốp xe của hắn và quay trở lại với một cây gậy đánh bóng chày. Ông chủ quán mất thị lực ở con mắt phải, mất lá lách và quả thận trái, và phải ngồi trên xe lăn suốt phần còn lại của cuộc đời. Pocol bị tuyên xử tám năm tù giam vì tội cố đánh chết người. Vào ngày tuyên án, ông chủ quán trên chiếc xe lăn ngã cầu thang đi xuống tàu điện ngầm. Ông gãy cổ, và sau khi Pocol ra tù thì hắn không bao giờ còn phải trả tiền cho thức ăn nữa.

Pocol đọc trên báo về vụ đột nhập vào nhà ăn trộm. Sau một chục cú điện thoại cho họ hàng, bạn bè, những người chuyên bán đồ ăn trộm và các đối tác buôn bán khác, hắn biết ai đã vào trộm nhà Tanata. Hắn phái Torpedo đi, một thằng bé đang vươn lên, làm mọi việc cho hắn. Torpedo nhắn tin cho Samir và Özcan, Pocol muốn gặp họ. Ngay lập tức.

Ngay sau đó, hai người này đi đến tiệm cắt tóc, người ta không để cho Pocol phải chờ lâu. Có trà và đồ ngọt, người ta đang vui vẻ. Bất thình lình, Pocol bắt đầu la hét, nắm tóc Samir, lôi gã đi ngang qua tiệm hớt tóc rồi đá túi bụi vào người gã ở một góc nhà. Samir không chống cự lại, và đưa ra lời đề nghị ba mươi phần trăm ở giữa hai cú đá. Pocol gầm gừ gật đầu, quay lưng lại với Samir và lấy một tấm ván đánh vào trán Özcan, cái tấm ván mà hắn để ở trong cửa tiệm để dùng cho những vụ như thế này. Sau đó, hắn bình tĩnh lại, ngồi xuống chiếc ghế hớt tóc và gọi người yêu của hắn ta từ phòng ở bên cạnh.

Người yêu của Pocol trước đây vài tháng còn là người mẫu và đã lên được trang bìa của tờ Playboy số tháng Chín. Ả mơ đi trình diễn thời trang hay một con đường sự nghiệp ở một đài truyền hình chuyên phát nhạc, cho tới khi Pocol phát hiện ra ả, đập cho anh bạn trai một trận và trở thành manager của ả. Hắn gọi đó là “hái hoa”. Hắn để cho ả đi độn ngực và bơm môi. Vào lúc đầu, ả tin vào những kế hoạch của hắn, và Pocol cũng thật sự đã cố đưa ả vào trong một văn phòng môi giới. Khi việc này trở nên quá cực nhọc cho hắn, hắn để cho ả trình diễn trong các vũ trường, sau đó là vũ thoát y, và rồi cuối cùng là những phim khiêu dâm mà người ta không thể mua hợp pháp ở Đức. Đến một lúc nào đó, Pocol chích cho ả một mũi bạch phiến, bây giờ thì ả phụ thuộc vào hắn và yêu hắn. Pocol không còn ngủ với ả nữa, từ khi những người bạn của hắn đã dùng ả như là nơi tiểu tiện trong một cuốn phim. Ả chỉ còn có mặt ở đó, do hắn muốn bán ả sang Beirut – mua bán người cũng hoạt động theo chiều này –, vì cuối cùng thì còn phải lấy lại số tiền đã chi ra cho các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ.

Ả người yêu băng vết thương đầu lại cho Ozeans, rồi Pocol nói đùa, rằng bây giờ hắn giống như một người da đỏ, “hiểu không, như da đỏ”. Lại có trà mới và đồ ngọt, ả người yêu bị xua đi và cuộc thương lượng có thể được tiếp tục. Người ta thống nhất ở năm mươi phần trăm, mấy chiếc đồng hồ và cái chén pha trà thuộc về Pocol. Samir và Özcan nhận lỗi của họ, Pocol nhấn mạnh, đó không phải là vì gã ghét cá nhân hai người, và lúc từ biệt gã đã ôm hôn Samir hết sức thân mật.

Ngay sau khi hai người này rời cửa tiệm, Pocol gọi điện cho Wagner. Wagner là một tên lừa đảo và bịp bợm. Hắn cao 1m60, do thường xuyên đi nhà tắm nắng nhiều năm trời nên da hắn đã vàng đi, tóc hắn nhuộm nâu, và đoạn ở chân tóc thì để cho chúng mọc bạc dài vài xăngtimét. Căn hộ ở của Wagner chính là hình ảnh của những năm tám mươi. Nó có hai tầng, phòng ngủ với những cái tủ có gương, thảm Flokati và một cái giường thật to nằm ở tầng trên. Gian phòng khách ở dưới là cả một khung cảnh của những cái ghế xô pha bọc da trắng, sàn lót cẩm thạch trắng, tường sơn trắng và bàn có hình viên kim cương. Wagner yêu thích tất cả những gì óng ánh, ngay cả chiếc điện thoại di động của gã cũng được nạm đầy những viên thủy tinh.

Trước đây một vài năm, hắn tuyên bố phá sản cá nhân, phân tán sở hữu của hắn ra cho họ hàng, và vì tư pháp lề mề trong những việc như vậy nên hắn vẫn còn có thể tiếp tục vay nợ. Thật sự thì Wagner hoàn toàn không sở hữu gì cả, căn hộ thuộc người vợ đã li dị của hắn, từ nhiều tháng nay hắn đã không thể trả tiền cho bảo hiểm y tế của hắn, và hóa đơn của thẩm mỹ viện cho lớp trang điểm cố định của cô bạn gái hắn vẫn còn chưa được thanh toán. Hắn tiêu xài số tiền mà trước đây hắn dễ dàng kiếm được cho ô tô và những buổi tiệc sâm banh cộng bạch phiến trên đảo Ibiza. Bây giờ thì các nhân viên ngân hàng đầu tư mà hắn từng tiệc tùng cùng với họ đã biến mất, và hắn không có tiền để mua lốp xe mới cho chiếc Ferrari mười năm tuổi. Lâu nay, Wagner chờ một cơ hội lớn, cái làm đảo ngược tất cả mọi thứ về hướng tốt đẹp. Trong quán cà phê, hắn gọi “một phê sữa” ở các cô bồi bàn và lần nào cũng rống lên cười về những câu chuyện tếu lâm. Cả đời hắn, Wagner đã ghét sự tầm thường của chính bản thân hắn.

Trong khi tên lừa đảo trung bình chỉ bịp bợm thôi thì Wagner khéo léo hơn. Hắn tự xưng hắn là “chàng trai Berlin cứng rắn từ tầng lớp dưới cùng” mà “đã thành công”. Con người từ những tầng lớp khá giả hơn tin hắn. Họ tin rằng, hắn tuy thô lỗ, to tiếng và khó chịu, nhưng chính vì vậy mà không đóng kịch và thành thật. Wager không cứng rắn lẫn thành thật. Hắn không “thành công” – ngay cả theo thước đo của hắn. Hắn chỉ thông minh theo một cách xảo quyệt, vì chính hắn là một con người yếu đuối nên hắn nhận ra những chỗ yếu của người khác. Hắn lợi dụng chúng ngay cả khi hắn không được lợi gì từ đó.

Thỉnh thoảng, Pocol dụng đến Wagner. Gã đánh đập Wagner khi hắn trở nên hỗn láo, khi lần cuối mà gã đánh hắn đã quá lâu rồi hay đơn giản là gã thích làm thế. Ngoài ra thì gã cho hắn là thứ cặn bã. Nhưng cho công việc này thì gã thấy Wagner là người phù hợp. Pocol đã có trải nghiệm, rằng ngoài giới của gã thì gã không được coi trọng vì xuất thân và ngôn ngữ của gã.

Wagner nhận nhiệm vụ đi đến Tanata và mời ông ấy mua lại cái chén và mấy cái đồng hồ, chi tiết thì còn phải để ngỏ. Wagner đồng ý. Hắn tìm ra số điện thoại của Tanata và nói chuyện hai mươi phút với người thơ ký. Wagner được bảo đảm là người ta không thông báo cho cảnh sát. Sau khi đặt máy xuống, hắn vui mừng và vuốt ve hai con chó Chihuahua mà hắn đã đặt tên cho chúng là Dolce và Gabbana, và suy nghĩ xem hắn làm sao có thể lừa đảo được Poco một chút.

Dây siết cổ là một sợi dây mỏng bằng thép, ở hai đầu có hai cái cán gỗ nhỏ. Nó phát triển từ một công cụ tra tấn và công cụ đao phủ từ thời Trung cổ – cho tới 1973 người ta vẫn còn dùng nó để tiến hành những bản án tử hình ở Tây Ban Nha – và cho tới ngày nay nó vẫn còn là một công cụ giết người được ưa chuộng. Có thể mua các thành phần của nó trong mỗi một siêu thị bán vật liệu xây dựng, nó rẻ tiền, dễ mang đi và có hiệu quả tốt: Từ ở phía sau, sợi dây được choàng qua cổ của nạn nhân và siết mạnh lại, nạn nhân không thể la hét và chết nhanh chóng.

Bốn giờ đồng hồ sau cú gọi điện thoại tới Tanata, có người bấm chuông ở cửa nhà Wagner. Wagner mở hé cửa. Khẩu súng ngắn mà hắn nhét ở lưng quần đã không cứu được hắn. Cú đánh đầu tiên vào thanh quản đã làm cho hắn ngạt thở, và khi sợi dây siết cổ chấm dứt mạng sống của hắn bốn mươi lăm phút sau đó, hắn đã cảm ơn vì được phép chết.

Vào sáng ngày hôm sau, bà giúp việc của Wagner mang những thứ mua ở siêu thị vào gian bếp và nhìn thấy hai ngón tay bị cắt rời ra dính trong bồn rửa chén. Bà gọi điện thoại cho cảnh sát. Wagner nằm trên giường của hắn, đùi hắn bị một cái mỏ kẹp ép lại, trong gối trái có hai, trong gối phải là ba cây đinh của thợ mộc. Một sợi dây siết cổ nằm quanh cổ hắn, lưỡi lè ra khỏi miệng. Wagner đã tiểu trong quần trước khi chết, và các nhân viên điều tra không biết hắn đã đưa ra những thông tin nào cho phạm nhân.

Hai con chó nằm trong phòng khách, giữa sàn cẩm thạch và bức tường ngăn phòng; tiếng sủa của chúng chắc hẳn là đã gây phiền nhiễu cho người đến thăm, người này đã đạp cho chúng chết. Đội bảo vệ dấu vết cố lấy dấu giày từ các xác chết, mãi trong phòng pháp y mới có thể lấy được một mẫu nhựa từ xác của một trong hai con chó. Kẻ phạm tội rõ ràng là đã bọc túi nylon ra ngoài giày của hắn.

Trong cùng đêm đó, đêm mà Wagner chết, vào lúc năm giờ sáng, Pocol mang tiền chứa trong hai cái xô nhựa từ những nơi đặt máy chơi cờ bạc của hắn về tiệm hớt tóc. Hắn mệt mỏi, và khi hắn cúi người ra trước để mở cửa thì hắn nghe được một tiếng động vù vù có âm cao. Hắn biết âm thanh đó. Bộ não của hắn không thể xếp loại nó cho đủ nhanh, nhưng một phần trăm giây trước khi viên bi ở đầu của cây dùi cui kéo ra được đập vào sau đầu của hắn, hắn biết được đó là cái gì.

Ả người yêu của hắn tìm thấy hắn trong cửa tiệm khi ả muốn xin hắn bạch phiến. Hắn nằm sấp, mặt úp xuống một trong hai chiếc ghế hớt tóc, hắn để tay quanh chiếc ghế, trông giống như hắn muốn ôm choàng lấy nó. Hai bàn tay hắn bị trói ở phía lòng bàn tay bằng dây buộc  cáp, thân hình đồ sộ bị kẹp giữa hai tay ghế. Pocol trần truồng, một cái cán chổi bị gãy nhô ra từ hậu môn của hắn. Viên bác sĩ pháp y ghi nhận lúc khám nghiệm tử thi, rằng độ lực dập mà người ta dùng để đẩy khúc gỗ đó vào cũng đã làm thủng bàng quang. Thân hình Pocol có tổng cộng 117 vết thương ở lưng và đầu, viên bi thép của cây dùi cui đã đánh gãy mười bốn cái xương. Không thể khẳng định chắc chắn rằng cú đánh nào cuối cùng rồi thì đã giết chết hắn. Két sắt của Pocol không bị phá, hai xô tiền với số tiền từ những cái máy chơi bạc tự động vẫn còn được để không hề bị động chạm tới ở lối vào. Pocol ngậm một đồng tiền trong miệng khi hắn chết, và người ta tìm thấy một đồng tiền nữa trong cuống họng của hắn.

Công cuộc điều tra không mang lại kết quả nào. Các dấu tay trong cửa tiệm của Pocol có thể quy về cho đủ loại phạm nhân trong khu Neukölln và Kreuzberg. Hình thức tra tấn với cái cán chổi là một chỉ dấu cho phạm nhân người Ả Rập, nó được cho là một hình thức làm nhục đặc biệt. Có một vài vụ bắt giam và hỏi cung trong giới quanh đó, cảnh sát tin là vì tranh chấp khu vực làm ăn, nhưng họ không có gì trong tay cả. Pocol và Wagner chưa từng bao giờ cùng xuất hiện trong bất cứ vụ việc nào ở cảnh sát, ban điều tra án mạng không thể tạo lập được mối liên quan nào giữa hai tội phạm. Và rồi vào lúc cuối thì chỉ còn lại nhiều giả thuyết mà thôi.

Tiệm của Pocol và phần lề đường trước đó bị ngăn lại bằng một dãy băng trắng đỏ, đèn pha chiếu sáng căn phòng. Những ai muốn biết thì đã biết Pocol chết như thế nào ngay từ lúc cảnh sát còn đang bảo vệ hiện trường. Và bây giờ thì Samir, Özcan và Manólis thật sự sợ. Họ đứng đó trong đám đông vào lúc 11 giờ với số tiền, mấy cái đồng hồ và cái chén pha trà trước cửa tiệm của Pocol. Mike, người mua bán đồ cổ mà họ đã bán cái chén cho hắn, tiếp tục chườm lạnh con mắt phải của hắn ở cách đó bốn con đường. Hắn đã trả lại cái chén và phải trả giá để đền bù cho các chi phí và công sức. Con mắt bầm tím thuộc vào trong đó, luật là như vậy.

Manólis nói ra điều mà tất cả đều nghĩ thầm: Pocol đã bị tra tấn, và nếu như đó là vì họ thì tất nhiên là hắn đã phản bội họ rồi. Nếu như có ai đó dám giết chết Pocol thì rất ít có hy vọng cho cuộc sống của họ. Samir nói rằng vụ cái chén pha trà cần phải được giải quyết nhanh chóng. Hai người kia đồng ý, và cuối cùng thì Özcan có ý nghĩ đi tìm một luật sư.

Ba người đàn ông trẻ tuổi thuật lại cho tôi nghe câu chuyện; tức là Manólis nói, gã thường xuyên triết lý lạc đề và có khó khăn trong lúc muốn tập trung. Toàn bộ câu chuyện kéo dài tương đối lâu. Rồi họ nói họ không chắc chắn, liệu Tanata có biết là ai đã vào nhà ăn trộm không. Họ đặt tiền, đồng hồ và cái hộp sơn mài nhỏ với cái chén pha trà lên trên bàn và xin tôi trao lại những vật đó cho người chủ. Tôi ghi chép lại chính xác như có thể được, tôi không nhận số tiền đó, nếu nhận thì đó là rửa tiền rồi. Tôi gọi điện thoại cho viên thơ ký của Tanata và thống nhất với ông ấy một cái hẹn vào buổi chiều.

Nhà của Tanata nằm trên một con đường yên tịnh trong khu phố Dahlem. Không có chuông, một bộ cảm ứng quang điện phát ra một tín hiệu, một tiếng gong trầm, giống như trong một thiền viện. Viên thơ ký dùng hai tay cẩn trọng cầm tấm danh thiếp đưa cho tôi, điều trông có hơi vô nghĩa một chút, vì tôi đã đến tận nhà rồi. Rồi tôi mới sực nhớ ra, rằng trao đổi danh thiếp ở Nhật là một nghi thức, và tôi cũng làm y như vậy. Viên thơ ký thân thiện và nghiêm trang. Ông đưa tôi vào một gian phòng có tường mang màu đất và sàn bằng gỗ đen. Chúng tôi ngồi xuống cạnh một cái bàn trên những cái ghế thật cứng, ngoài ra thì gian phòng trống không, chỉ một chậu hoa nghệ thuật Ikebana màu xanh thẫm ở trong một hốc tường. Gian phòng được chiếu sáng gián tiếp một cách ấm áp và mờ ảo.

Tôi mở chiếc cặp đựng hồ sơ của tôi và lấy những vật đó ra đặt lên bàn. Viên thơ ký đặt mấy cái đồng hồ lên một cái khay bọc da đã được đặt sẵn ở đó, ông không động tới cái hộp nhỏ được đóng kín với cái chén trà ở trong đó. Tôi xin ông ký tên vào tờ biên nhận đã được chuẩn bị trước. Ông ta cáo lỗi và biến mất ở sau một cánh cửa trượt.

Yên lặng hoàn toàn.

Rồi ông quay trở lại, ký tên vào tờ biên nhận cho mấy cái đồng hồ và cái chén trà, mang chiếc khay đi và lại để tôi ở lại một mình. Cái hộp nhỏ vẫn còn chưa được mở ra.

Tanata nhỏ người và trông giống như khô héo như thế nào đó. Ông chào tôi theo cách thức Phương Tây, rõ ràng là đang vui vẻ và kể cho tôi nghe về gia đình của ông ở Nhật.

Sau một lúc, ông đi tới bàn, mở cái hộp và nhấc cái chén pha trà ra ngoài. Ông cầm nó bằng một tay ở đáy và dùng tay kia xoay chậm chậm nó trước mắt ông. Đó là một cái chén pha trà Matcha mà bột trà xanh biếc được đánh lên bằng một cái chổi tre nhỏ ở trong đó. Cái chén có màu đen, được tráng men lên trên gốm.

Những cái chén như vậy không được sản xuất ở trên bàn xoay, mà được tạo hình bằng tay, không cái nào giống cái nào. Những lò gốm lâu đời nhất ghi chữ Raku lên trên đồ gốm. Một người bạn có lần đã nói với tôi rằng nước Nhật xưa cũ sống trong những cái chén này.

Tanata cẩn thận đặt nó vào lại trong cái hộp và nói: “Cái chén này là do Chojiro làm cho gia đình chúng tôi năm 1581.” Chojiro là người thành lập truyền thống Raku. Cái chén nhìn trừng trừng ra từ lớp lụa đỏ như một con mắt đen. “Ông biết không, có lần đã xảy ra chiến tranh vì cái chén này. Điều đó cách đây đã lâu lắm rồi, cuộc chiến kéo dài năm năm. Tôi mừng là lần này đã diễn ra nhanh hơn.” Ông để cho cái nắp hộp dập xuống. Nó có tiếng vang.

Tôi nói là cả số tiền cũng được trả lại, ông lắc đầu. “Tiền nào?” ông hỏi.

“Tiền từ trong két sắt của ông.”

“Trong đó không có tiền.”

Tôi không hiểu ông ngay lập tức.

“Thân chủ của tôi nói …”

“Nếu như có tiền ở trong đó”, ông ngắt lời tôi, “thì có thể đó là tiền chưa đóng thuế.”

“Thế à?”

“Và vì ông phải trình một tờ biên nhận cho cảnh sát nên người ta sẽ đặt câu hỏi. Cả lúc báo cảnh sát thì tôi cũng không nói là bị mất tiền.”

Cuối cùng, chúng tôi thống nhất với nhau, rằng tôi sẽ thông báo cho cảnh sát biết là đã trả lại cái chén pha trà và mấy cái đồng hồ. Tanata tất nhiên không hỏi tôi ai là thủ phạm, và tôi cũng không hỏi về Pocol và Wagner. Chỉ có cảnh sát là đưa ra nhiều câu hỏi; để bảo vệ cho thân chủ của tôi, tôi đã có thể dựa trên nhiệm vụ bảo mật của luật sư.

Samir, Özcan và Manólis thoát chết.

Samir nhận được một cú điện thoại và được mời cùng với những người bạn của hắn tới một quán cà phê ở trên đường Kürfürstendamm. Người đàn ông tiếp đón họ rất lịch sự. Ông cho họ xem trên màn hình của một cái máy điện thoại di động những phút cuối cùng của Pocol và Wagner, xin lỗi vì chất lượng của đoạn phim quay và mời ba người ăn bánh ngọt. Họ không động tới bánh ngọt, nhưng vào ngày hôm sau thì họ trả lại số tiền 120.000 euro. Họ biết phép tắc nên trả thêm 28.000 euro nữa “cho các chi phí”, họ không thể kiếm ra được nhiều hơn thế. Người đàn ông thân thiện đó nói rằng thật có phải làm như vậy không, và rồi nhét tiền vào túi.

Manólis rút lui, tiếp nhận một nhà hàng của gia đình hắn, kết hôn và trở nên trầm tĩnh hơn. Trong nhà hàng của hắn có treo những bức ảnh của vịnh nước và tàu ngư dân, có rượu vốt-ka Phần Lan, và hắn có kế hoạch cùng với gia đình di dân sang Phần Lan.

Özcan và Samir quay sang bán ma túy; họ không bao giờ trộm những gì mà họ không thể xếp loại chúng nữa.

Cô giúp việc nhà của Tanata, người đã mách nước cho vụ trộm, đi nghỉ mát ở Antalya hai năm sau đó; cô đã quên vụ này lâu rồi. Cô đi bơi. Và mặc dù biển rất lặng trong ngày hôm đó, cô bị đập đầu vào một tảng đá và chết đuối.

Tôi gặp Tanata thêm một lần nữa trong nhà hòa nhạc ở Berlin, ông ngồi sau tôi bốn hàng ghế. Khi tôi quay lại, ông chào tôi thân thiện và lặng lẽ. Ông qua đời nửa năm sau đó. Thi thể ông được mang về Nhật, ngôi nhà ở Dahlem được bán đi, và cả người thơ ký cũng trở về quê hương của ông.

Ngày nay, cái chén đó là tâm điểm của một nhà bảo tàng thuộc Quỹ Tanata ở Tokyo.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s