Karl nhỏ

Tôi thức dậy trong một căn phòng trống rỗng và trên một cái giường đơn sơ đến mức tò mò muốn tìm hiểu cái thành phố tôi phiêu bạt đến. Tôi vén màn lên.

Những gì nhìn thấy từ Schwedt có thể làm cho người ta nghĩ rằng thành phố duy nhất chỉ là một trạm nghỉ chân khổng lồ ở cạnh đường cao tốc. Bây giờ tôi mới nhớ lại. Tối hôm qua, từ Gartz còn một chuyến buýt đến Schwedt, và người phụ nữ lái xe buýt hỏi tôi muốn xuống ở đâu. Ở trung tâm, tôi nói – đó là ở đâu? Ngưng một lúc bà ấy nói tôi nên ngồi lại trên xe. Rồi bà ấy lại chạy xe ra khỏi nơi mà tôi cho rằng đó là một thành phố, đến khu vực này của những xa lộ và trung tâm mua sắm bằng phẳng và bãi đỗ xe lớn có đèn cao chiếu sáng rực. “Trung tâm Schwedt”, bà ấy nói khi đỗ lại. Tôi nên xuống xe ở đây và tìm nơi qua đêm. Tôi đã làm điều đó.

Schwedt 2015
Schwedt 2015

Tôi vội vã thay đồ và bước xuống, ngang qua phòng ăn sáng, ra khỏi trung tâm vào thành phố mang nét Mỹ nhiều nhất trong chuyến đi của tôi. Con đường mua sắm với những cửa hàng giảm giá của nó. Những người chỉ đi lại bằng ô tô. Cái mà hôm qua trong bóng tối tôi cho là trung tâm thành phố thì chỉ là một phần nhỏ còn sót lại của khu phố cổ, một heritage walk[1] ngắn.

Tôi hỏi thăm đường ra sông và được chỉ qua một khu dân cư mới. Nhà riêng cho gia đình, vừa được xây xong. Gạch ngói óng ánh như lớp gelatin trên bánh trái cây, được mua trong cửa hàng lớn từ trên những tấm kim loại lớn. Xanh nước biển, đỏ, xanh lá cây. Việt quất xanh, mâm xôi đỏ, kiwi.

 

Dân cư tương lai của khu phố xúc đất vừa được chở đến, đổ lên những luống đất tương lai, cuốc và bóp vụn nó ra và nhét cây vào trong đó. Tôi đã vì tôi một thời gian dài và bất chợt nghĩ rằng sẽ như thế nào, khi bước đến một ngôi nhà như thế vào một chiều cuối thu, cặp hồ sơ và chìa khóa ô tô trong tay – đến những cửa sổ sáng ánh đèn của nó, phủi sạch tuyết đầu mùa ra khỏi những tấm gạch terracotta Tây Ban Nha trên tường cạnh cửa ra vào, ra khỏi số nhà được khắc trên đó bằng nét chữ uốn lượn trang trí. Tôi bước nhanh đi.

Còn một cây cầu gỗ cuối cùng nữa. Nhiều vòng cổ bằng giọt sương treo trên những mạng nhện của nó; rồi tôi đứng ở trên đê. Từ ở trên này tất cả đều không thể nhìn thấy được, không thể nhìn thấy được như chính tôi, và nó cứ như vậy. Tôi đi trong sương mù nhiều giờ liền, không nhìn được tôi đang ở đâu. Nó phủ dầy như bông trên dòng sông và trên đất, con đê là cái gờ giữa các vũ trụ. Cái của con người nằm bên phải, đôi lúc có một ô tô ở xa xa, thỉnh thoảng có chó sủa. Từ bên trái chỉ nghe được tiếng thú vật. Âm dài dẫn lời phàn nàn của bò. Tiếng thét khàn khàn của ngỗng trời.

Sương mù tan vào buổi trưa. Mặt trời làm cho nó tan chảy chậm chạp, bây giờ tôi nhìn thấy mình đang ở đâu. Bên phải là hình dạng của một ngôi làng. Một đại lộ dẫn đến đấy, chắc chắn là ở đó có những trang viên và vườn hoa nhà thờ thơ mộng, và cũng có công viên nào đó của Schinkel[2], nhưng tôi chỉ còn biết nhìn vũ trụ ở bên trái.

Màn kéo lên cho một đồng cỏ xavan Đức, một Serengeti[3] của miền Đông, được lưu lại trong một bức tranh phong cảnh của thế kỷ 19. Đồng cỏ và bụi rậm. Một vài cây đứng lẻ loi. Tất nhiên là cây sồi. Một đàn bò, đang đi dạo trong đội hình thưa thớt. Cừu, xúm xít xung quanh một gốc cây tần bì. Chúng đã qua đêm dưới tàn cây rộng lớn. Tôi bất chợt có cảm tình sinh vật với nơi qua đêm ở ngoài trời này.

Bây giờ tôi nhìn thấy ngỗng trời. Nhiều hơn là tôi nghĩ. Đen nghịt cả mấy  cánh đồng cỏ cạnh sông. Nhiều bầy khác bay đến liên tục, bay vòng qua nhau, kêu ồn ào, đáp xuống, bay lên. Tôi nằm trong nắng ở bờ sông và nhìn ngắm chúng.

Rồi tôi đứng lên và tiếp tục đi theo dòng sông về hướng nam. Khi khát hay đói, tôi sẽ đi ra đại lộ gần nhất, ở đấy chắc sẽ tìm được một quán, một vườn, một bàn, một ghế. Bao giờ cũng tìm thấy chúng trong cái ngày hạnh phúc này.

 

Tôi đến Bad Freienwalde cao hơn vùng Oderbruch, và trong cái quán mà tôi đang chờ bữa tối còn có một người khách nữa. Ông ấy đổ ly rượu mạnh vào ly bia đầy, ngồi một lúc trước cái ly mà không hề chạm đến nó, rồi cuối cùng ông ấy đẩy nó ra xa. Người phụ nữ trẻ tuổi sau quầy rượu, đầu trong đôi bàn tay, nhìn ông.

“Không nổi nữa phải không, Karlchen?”

Ông ấy càu nhàu và đứng lên một cách khó nhọc. Bây giờ tôi mới thấy ông ấy dùng nạng để đi lại. Ông ấy gầy, trên 70, áo gió màu đen và giày da mũi nhọn màu đen. Dây thun quần thể thao màu đen của ông ấy trượt lên trên một tí hé lộ 2 vạch tất trắng. Ông khập khiễng đi ra.

“Karlchen là ai vậy?”

Cô phục vụ nói cho tôi biết một cách vô tư như thể cô đã chờ đợi câu hỏi này, và điều tôi nghe được đã khiến tôi làm một việc mà tôi căm ghét. Tôi đi theo ông ấy. Cả hai chúng tôi không cần phải đi xa. Ông ấy hướng đến quán kế tiếp. Tôi nhìn thấy ông ấy ngay khi tôi bước ra đường, ông không đi nhanh bằng nạng được.

Tôi chờ cho đến khi ông chào hỏi xong bà chủ quán và những người khách quen và tìm được một bàn cho ông, rồi tôi bước đến và hỏi ông có đồng ý cho tôi ngồi xuống không.

Ông đưa tay mời. Tôi gọi 2 ly bia.

“Ông là trọng tài?”

Ông ấy nhìn tôi sửng sốt. Rồi ông thẳng người lên và nói bằng tiếng Đức chuẩn trong sáng:

“Tôi là người trọng tài Đức được tặng thưởng cao nhất. Một huyền thoại, nổi tiếng ai cũng biết.”

Ông nhìn xuống người ông. Gương mặt mang nét đau buồn.

“Chỉ xui xẻo đến mức tôi phải đi bằng nạng. Ừ, tôi không may bị xe đụng, tôi ngã xuống, đập đầu xuống.”

Chúng tôi nâng ly, và trong khi ông uống một ngụm dài và cẩn thận đặt ly xuống, tôi có cơ hội để quan sát gương mặt của ông. Ông chải tóc bạc ra phía sau, theo lối của những người đàn ông quanh Sepp Herberger[4], mang lại cho ông một nét sắc sảo, nghiêm khắc. Nét mặt trọng tài: cái mũi khoằm nhỏ, miệng là một đường thẳng nằm ngang, khóe môi là 2 đường rãnh thẳng đứng. Như những nét vạch trên tấm bìa lót ly bia của tôi, bà chủ quán vừa dùng bút bi cho nó thêm 2 vạch mới nữa[5].

“Chúc sức khỏe.”

“Cũng chúc sức khỏe.”

Ông luôn luôn mang gương mặt đó, cái mặt nạ 90 phút của uy thế về cơ bản là hoài nghi. Chỉ khi ông nói mới có chuyển động trên nét mặt. Thế nhưng ông nói không nhiều.

“49 năm trên sân! 4684 trận! Không có một ai khác trong toàn nước Đức.”

Ông nói ngắn gọn như một phóng viên thể thao, một phóng viên trong sân vận động của cuộc đời riêng của ông. Tên họ. Trận đấu. Bàn thắng. “Motor Pankow! Motor Babelsberg! Dynamo Hohenschönhausen!”

Ông nâng cái ly đã gần cạn lên và chăm chú nhìn nó, như thể nó đáng được thẻ vàng.

“Tôi đã thổi còi tất cả. Cuối tuần nào cũng đi, ngoại trừ Phục Sinh với Giáng Sinh.”

Bà chủ quán ân cần mang đến cho chúng tôi 2 ly bia mới.

“Thứ bảy giải bóng đá hạng ba, chủ nhật bóng đá hạng nhì. Năm 1988 danh hiệu Meister des Sports[6] trước 67 000 khán giả” – ông chuyển sang tiếng Đức chuẩn tinh khiết –, “đó là cái cao quý nhất.”

Chúng tôi cụng ly. “Không hơn được thế. Chúc sức khỏe!”

“Còn gia đình?”

“Không bao giờ có thời gian. Không vợ, không con.”

Câu trả lời nhanh nhẹn giống như ông đã phải tự trả lời câu hỏi này nhiều lần rồi.

“Tôi đã có nhiều cô bạn gái rất đẹp. Có lần tôi đã định đến thăm Dinh Friedrich với một cô. Đã đứng trong xe buýt rồi. Em trai tôi chạy tới nói: ‘Anh còn phải thổi còi cho Motor Eberswalde nữa!’ Thế là chấm dứt tình yêu.” Ông chuyển sang tiếng Đức chuẩn. “Bóng đá đã làm cho tôi ra như thế đó.”

“Còn Bern[7]?”

“Bern. Chúng tôi nghe radio trong quán của chúng tôi. Tiếp theo sau đó đã diễu hành trên đường phố.”

“Còn thống nhất?”

“Không. Trước kia thì tốt hơn.”

“Còn bây giờ?”

“Câu lạc bộ cổ động viên Bayern München Bad Freienwalde, tôi ở trong đó. Khi Bayern thua trận thì tôi thật muốn khóc òa lên.”

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

————————————————————————————————————————

 

[1] Chuyến đi bộ qua di sản.

[2] Karl Friedrich Schinkel (1781-1841) kiến trúc sư, nhà xây dựng, quy hoạch đô thị và họa sĩ người Phổ (Đức).

[3] Công viên quốc gia Serengeti (Tanzania) ở châu Phi.

[4] Sepp Herberger (1897-1977) huấn luyện viên đội tuyển bóng đá quốc gia Đức.

[5] Trong quán nhậu ở Đức thường người khách gọi/uống bao nhiêu ly thì người phục vụ sẽ lần lượt vạch từng ấy vạch lên tấm bìa lót ly bia.

[6] Meister des Sports (“Bậc thầy thể thao”) là danh hiệu do chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Đức trao tặng cho các cá nhân có nhiều công lao hay thành tích trong thể thao.

[7] Điều kỳ diệu ở Bern: Đội tuyển bóng đá Đức thắng Hungary trong trận chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới năm 1954.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s