Những bài hát từ góc không người

Ueckermünde nằm trong nắng thu khi tôi xuống tàu và cứ làm như thể ở đây vẫn còn thuộc Đức là một điều hết sức bình thường. Ngay cạnh cảng là “Rosi’s ốc đảo cá” với giá cả thân thiện và cái dấu phẩy nhỏ của sở hữu cách trong tiếng Anh không thể tránh khỏi. Một chiếc xe bán thức ăn, một cái lều ở trước đó. Ngọn gió lạnh từ phá giằng giật cạnh ốc đảo, làm cho mấy cái cột lều kêu ken két và những con mèo ăn cá mập mạp, lười biếng trốn càng sâu vào trong bộ lông của chúng.

Bãi biển Ueckermünde
Bãi biển Ueckermünde

            Người giáo viên dạy lái ô tô của thành phố nhỏ này bao giờ cũng sắp xếp để nghỉ giải lao ở chỗ Rosi. Tôi vừa mới đến thì ông ấy đã dẫn người nữ học viên vào trong lều, một cô gái tóc vàng ngượng ngùng 18 tuổi. Và khi một trong số các công nhân đang đứng trong lều cạnh tách cà phê có đường và sữa nói rằng con gái ngày càng xinh hơn, thì cô đỏ mặt và người giáo viên hãnh diện nhìn cô học trò của ông ấy.

            Ngày ở đây trôi qua giống như trong Penny Lane[1], trong cái thế giới nhỏ bé làm việc bình thản, chào nhau nhã nhặn và chọc ghẹo nhau này. Nó không có liên quan gì đến những tấm ảnh trong quyển album của tôi. Ueckermünde không đen tối và xa lạ. Nó là một dòng từ bài hát của Beatles, một thành phố tươi sáng cạnh phá với nhà trát vữa tươi sáng và một lâu đài tươi sáng và một điểm thu hút chân thật, Viện bảo tàng nấm ở cạnh nhà ga xe buýt. Đã qua mùa, khách không còn nữa. Bây giờ chỉ còn người ta với nhau và sửa chữa, xây tường, sơn phết, hoàn thành những gì bị gác lại từ mùa hè.

            Tôi đi bộ đến Eggesin, thành phố kế cận, gió thu thổi trên đại lộ. Tôi đến đó vào buổi trưa. Xe buýt chở học sinh ngừng lại và khởi hành. Và còn một chiếc xe buýt nổ máy đỗ ở đấy. Chiếc duy nhất đi về miền quê. Tôi bước lên.

            Người lái xe buýt là một người đàn ông Pommer trẻ tuổi lịch sự, anh ấy mang cà vạt, một cái áo công sở màu xanh, một cái kính mắt gọng nhỏ đang thịnh hành. Tôi nói nơi muốn đến.

            “Đến Glashütte.”

            Anh ấy ngạc nhiên ngửng lên nhìn.

            “Có thật không?”

            “Tại sao không?”

            “Chưa bao giờ có. Không ai muốn đến đấy cả.”

            Anh ấy gõ địa danh vào máy tính tiền – nó không nhận. Nó không biết đến cái tên đó. Anh ấy cố thử thêm một lần nữa.

            “Nó đình công rồi. Tôi không thể bán vé đến Glashütte cho ông.”

            Anh ấy đề nghị đến một nơi khác. Hintersee. Cái máy tính tiền biết Hintersee.

            “Hai đồng mốt.”

            Chúng tôi chạy vào rừng và chẳng bao lâu sao đó qua một ngôi làng trông giống như chưa bao giờ có một miền Đông nghèo. Tôi không thể giải thích được sự giàu sang thịnh vượng Tây Đức của nó. Nhà riêng cho gia đình đã được tân trang trong những ngôi vườn được chăm chút với lò nướng. Rồi lại rừng.

            Một thanh niên ngồi trước tôi. Trên cái áo khoác của anh ấy có chữ “Tấn công”, “Mặt trận”, “Chiến tuyến chính”. Một thương hiệu Anh ở bên cạnh. Nhạc từ tai nghe của anh ấy to đến mức người ta nghe được. Những bài ca nhanh, được gào lên, với những từ ngữ cũng có trên cái áo khoác của anh ta. Rồi trở nên yên lặng, chàng thanh niên xuống xe. Còn lại một mình tôi với bác tài.

            Không còn làng nữa, chỉ còn những xóm dân cư nhỏ và nhà riêng lẻ. Tôi nhìn thấy một con ngựa trắng gầy qua cửa kính. Nó hất mạnh đầu lên bầu trời trông giống như muốn cắn lấy nó.

            Chiếc xe buýt đi càng lúc càng sâu vào trong hẻo lánh. Con đường chúng tôi đang đi không còn là một con đường bình thường nữa, nó là một con đường rừng nhỏ, gập ghềnh, chúng tôi lắc lư. Hintersee xuất hiện, bác tài xe buýt người Pommer quan sát tôi trong kính: Liệu tôi có định xuống xe chưa. Nhưng Hintersee chỉ là một cái xóm nửa đã đổ nát, nửa bị bỏ rơi. Tôi ra hiệu cho anh ấy đừng dừng lại.

            Trời mưa phùn. Bắt đầu đoạn đường mà anh lái xe nói rằng ngoài ra thì anh ấy luôn đi một mình. Khi chúng tôi đi ngang qua tấm biển “Biên giới quốc gia 4 km”, cảm giác đi trong một xe buýt từ A đến B dần dần biến mất. Bây giờ có thể cứ mãi mãi như thế này.

            Chúng tôi đi qua nhà của người quản lý rừng. Người ta đã đi săn. Thợ săn đứng ở đấy, một con hươu đang bị treo lên và đong đưa, bị kéo lên cao bằng tời ở chân sau, ngược đầu xuống. Môi của nó gần chạm đất ẩm. Nó đang đong đưa nhẹ nhàng.

            Chúng tôi chạy ngang một đống ô tô phế thải, rồi lại rừng và đến gần một ngôi nhà híp pi được vẽ màu sặc sỡ mà rõ ràng đã bị bỏ hoang từ lâu rồi. Tôi đã nhìn thấy nhiều ngôi nhà như vậy ngay từ trong những xóm nhà vừa rồi. Tôi xuống xe ở đây. Bác tài gọi với theo bảo đây chưa phải là Glashütte. Tôi đứng trong mưa phùn và loay hoay với cái ba lô cho đến khi chắc chắn rằng người lái xe buýt không còn nhìn thấy tôi trong kính chiếu hậu nữa. Rồi tôi bước qua cửa nhà.

            Tôi lục lạo 2, 3 phòng và chỉ tìm thấy một vài bàn ghế cũ và rác. Tôi hơi thất vọng và đã muốn bỏ đi, lúc đấy tôi nhìn thấy một cái máy cassette phủ một lớp sáp nến dầy trên cầu thang. Nó trông giống như tác phẩm của một người bắt chước ông Beuys[2]. Dây điện chạy ngược lên cầu thang, nhưng căn nhà không có vẻ như ở đây vẫn còn có điện. Mặc dù vậy tôi vẫm bấm phím nghe – vào thời cái máy cassette còn sống, chủ nhân của nó đã cạo sạch nó kỹ lưỡng –, và quả thật là có một cái gì đó bắt đầu than van cục cựa và chuyển động dưới lớp sáp. Tôi ngồi xuống cầu thang và đưa cái vật sáp nến đó kê sát tai. Rồi tôi nghe, rất yếu ớt, rất rỉ sét, rất xa xôi, tiếng hát của Neil Young. Một giọng rên rỉ giống như từ ngoài xa, trong thế giới không còn người sống nữa, và ông ấy hát bài ca của ông ấy. Where the eagle glides ascending, there’s an ancient river bending[3]

            Rồi bài hát bị cắt ngang, và một giọng khác, gần hơn, nói. “Khi anh nghe được những điều này thì em đã … Xin lỗi anh, nhưng … yêu anh, nhưng em không như anh, và … Không, không có gì sai cả, … tốt hơn là như thế, tin em đi … rất xa … một thế giới khác … đi ngay bây giờ…”

            Sáp nến đã mài vụn câu nói. Tất cả đều có thể: Một phụ nữ rời bỏ một người đàn ông ở trong rừng Pommer và quay trở về với thế giới quen thuộc, nơi người ta kiếm tiền, xây nhà, lập gia đình. Cô biết: Anh ấy là một người lập dị – anh ấy không thể sống ở nơi cô đi đến. Và nếu đó chỉ là một nhóm kịch diễn tập một vở chưa ai biết qua cả một mùa hè dưới ánh nến? Khi nến cháy hết thì mùa hè cũng đã qua, và họ lại đi tiếp. Họ bỏ lại chiếc máy thu âm vở kịch, trước sau gì thì cũng chẳng đi đến đâu với nó.

            Tôi quyết định chọn phiên bản này. Tôi đặt chiếc máy thu âm vào chỗ của nó, đi xuống cầu thang, lại đóng cửa đã đi vào và rời căn nhà của các giọng nói.

            Không nấn ná, tôi đi trong rừng tranh tối tranh sáng, ngang qua nhiều nơi, bỏ hoang và có người ở, đi dọc theo một hàng rào quân sự một lúc lâu. Trời về đêm khi tôi đến đường tàu hỏa, cái nhà ga bé tí trên tấm bản đồ của tôi. Còn một chuyến tàu đi đến Stettin.

            Vào buổi sáng ngày hôm sau, có một con tàu màu xanh với ghế da giả màu đỏ ở trên ga Stettin. Nó chạy theo hướng ngược dòng sông Oder về phía nam. Bóng dáng thành phố xuất hiện trong chốc lát – các cái tháp, cảng, lâu đài của các công tước Pommer. Nhân viên soát vé người Ba Lan[4] đi vào và yêu cầu trình vé một cách lịch sự đến nỗi tất cả mọi người trong toa đều cảm thấy mình quý phái trong giây lát. “Quý ông quý bà”, ông ấy gọi và ý muốn nói mấy người già mệt mõi với những bao và túi nhiều màu của họ và các thiếu niên đang ngủ gật hay hôn nhau với cái đầu cạo trọc và áo có mũ trùm đầu giống như ở mọi nơi khác. Họ ngồi thẳng người lên, như được kéo lên bằng một sợi dây. Khi ông rời toa, họ lại sụp xuống.

            Đường sắt màu xanh chấm dứt ở Greifenhagen. Ở đây, ở đầu cầu phía đông của sông Oder, tôi đi cắt tóc. Vì không ai hiểu tiếng nói của người kia nên tiệm yên lặng dễ chịu, chỉ có tiếng tách tách của kéo trong không khí.

            Rồi tôi đi qua sông Oder. 6 con thiên nga tự sắp thành hàng trên mặt nước và nhìn tôi chằm chằm, cho đến khi tôi biến mất ở phía sau sậy. Trên đường ra biển, sông Oder chia làm 2 nhánh lớn gần như nhau, bao bọc lấy một vùng đất trũng rộng lớn. Tức là tôi đã vượt sông Oder đông và sau một giờ đi bộ sẽ đến sông Oder tây.

            Một dây điện thoại cổ lổ đong đưa qua vùng đất trũng, một đường dây điện võng xuống từ cột gỗ mảnh khảnh thô sơ này sang cột khác. Tôi đi theo nó qua sậy cao ở hai bên đường. Đầy tiếng nói, thỉnh thoảng chúng lại ngưng ít lâu, rồi chỉ còn gió trong sậy và rì rào về những điều mà tôi không hiểu được.

            Tôi không thể tưởng tượng được một con đường nào bí mật hơn nữa để đi đến nước Đức. Tôi đến từ một góc đã bị lãng quên, tôi đến từ lau sậy. Tôi nghĩ đến sông Rhein: Nó khác biệt như thế đó. Nó bơm tất cả qua thung lũng chật hẹp của nó, hoàng đế, đạo quân, tàu thuyền, xe lửa, ý tưởng. Sông Rhein là trái tim và mạch máu. Sông Oder hoàn toàn không có gì như thế cả. Nó không lôi kéo con người và mơ mộng vào trong thung lũng bằng phẳng của nó. Nó hướng tầm nhìn qua bên kia, đi đến nơi xa xôi và luôn xa hơn nữa. Ở bờ sông của nó người ta mơ đến những đất nước chưa nhìn thấy, những chuyến phiêu lưu về phía đông.

Khi mặt trời lặn, có 2 người đàn ông đứng ở bờ sông gần Gartz, một người già và một người trẻ có bộ râu đen. Họ quay lưng lại với thành phố của họ. Gartz đã từng là một thành phố nhỏ ở tỉnh lẻ, có nhà dân giàu có, một cái kho, một cây cầu bắc qua sông, nhưng hai người này không có ký ức về việc đó. Họ đứng ở chân cây cầu bị giật sập ngay trước khi chiến tranh chấm dứt và không bao giờ được xây lại. Và vì không còn ai sống trong những ngôi nhà cạnh dòng sông nên cửa sổ của chúng vẫn còn mù. Không ai nhìn thấy màu đỏ thẫm của dòng sông đang chuyển sang màu bạc, trong yên lặng uy nghi. Vẻ đẹp toàn hảo của những ngọn đồi thoai thoải ở bờ sông bên kia trong ánh sáng cuối cùng. Trăng lưỡi liềm xuất hiện, được xử lý tuyệt đẹp, treo dưới bầu trời gần như thể với tới được, nhưng 2 người đàn ông ở cạnh bờ sông không buồn nhìn ngắm.

            Người già: “Có xem bóng đá không?”

            Râu đen: “Chuyện vớ vẫn.”

            Người già: “Có xem phim sex không?”

            Râu đen: “Vớ vẫn đến thế!”

            Người già: “Ừ, có bạn gái thì tự làm phim sex được đấy.”

            Râu đen: “Cứ toàn nói chuyện tầm phào.”

            Người già: “Phải nói cái gì chứ, còn biết làm gì bây giờ.”

            Rồi cả hai bước đến những lối vào tối tăm của những ngôi nhà tối tăm mà họ biến mất trong đó không hề ngoảnh lại. Cũng không có ánh đèn sau khoảng thời gian người ta cần để bước lên cầu thang và mở cửa và mò mẫm tìm công tắc.

            Thành phố nhỏ bé mù lòa với những căn phòng tối tăm của nó nằm ở đấy như đã chết. Tức chẳng có gì đặc biệt, lúc nào cũng cùng cái bài ca cũ kỹ, ngu ngốc. Chúc ngủ ngon, thành phố nhỏ cạnh sông, buona sera, kiss me goodnight[5].

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

————————————————————————————————————————

[1] Tên một đường phố trong Liverpool, tựa của một bài hát của ban The Beatles.

[2] Joseph Beuys (1921-1986) là một nghệ nhân người Đức, ông cũng là một nhà điêu khắc, lý thuyết gia về nghệ thuật và sư phạm học.

[3] Nơi chim đại bàng lướt lên cao, có một dòng sông cổ xưa uốn cong…

[4] Sau năm 1945 thành phố Stettin (Szczecin) thuộc Ba Lan.

[5] Buona sera (tiếng Ý): chào buổi tối, kiss me goodnight (tiếng Anh): hôn tôi, chúc ngủ ngon

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s