Cái quán cá ở tận cùng của thế giới

Tôi biết một làng trong Pommern, ở cực đông của đảo Usedom, một làng đánh cá ở cạnh Vịnh nước lợ Stettin với tên Kamminke, và tôi muốn gặp lại nó, chỉ vì cái tên thôi cũng đã đủ lý do[i]. Kamminke ở cạnh Vịnh nước lợ Stettin. Trước đây nhiều năm tôi đã đến đó. Tôi không thể nhớ là đã từng nhìn thấy một nơi hoang vắng hơn, xa vắng con người hơn như thế.

Xe buýt chạy qua làng mạc trong mưa, qua những con đường mà cứ ba đường thì có một đường tên là đường Hòa bình, qua những ngôi nhà thờ bằng đá và đài tưởng niệm Xô viết mà bây giờ người ta chỉ gọi đơn giản là “đài tưởng niệm”. Rồi nó dừng lại cạnh vịnh. Gió pha vào trong mưa và thổi nó lên thành bão. Một vài thuyền đánh cá đang giằng giật giây buộc, những người đàn ông càu nhàu trong bộ quần áo màu xanh, những người mà đã ra khơi từ sáng sớm và bây giờ đang đứng quanh mẻ lưới đã được phân loại của họ. Xô cá vược. Xô cá pecca. Lươn uốn lượn trong một cái chậu nước. Một người đàn ông tách ra khỏi nhóm, dạng chân đi đến bến tàu, loay hoay dưới cái tạp dề rồi tiểu một cách khó khăn xuống bến cảng. Tôi hỏi thăm một chuyến tàu qua vịnh, về đất liền. Có lẽ ngày mai. Có lẽ là hôm qua, chuyến cuối cùng. Có lẽ không còn chuyến nào trong năm nay.

Đảo Usedom
Đảo Usedom

Ở bên cạnh nhà của những người đánh cá là cái quán cá của Kamminke. Bão thổi mưa vào dưới những mái nhà bằng sậy che chở cho bàn ghế. Tôi là người khách duy nhất và người chủ quán chỉ cho tôi một góc ngồi còn tương đối khô ráo. Tôi ngồi vừa vặn vào trong đó với cái ba lô của tôi, cà phê nóng của tôi và con cá bơn lưỡi ngựa hun khói của tôi. Cái đèn treo ở phía trên lung lay, cờ hiệu của hãng bia kêu răn rắc, loa hát những bản nhạc được ưa chuộng của thập niên 60. Tôi lại đi đến chỗ những người đánh cá.

Chúng tôi nói chuyện về thời tiết, rồi tôi mới biết rằng đúng ra chỉ còn có một người đánh cá thật sự, và ai đó nói về tận thế. Nó đã thật sự xảy ra, rất gần đây. Một người đàn bà sống trong làng đã có mặt trong lúc đó. Bà chỉ mới 10 tuổi khi thành phố Swinemünde bị hủy diệt vào ngày 12 tháng 3 năm 1945. “Đối với tôi cái ngày đó giống như ngày hôm qua”, bà nói, khi tôi đứng trước cửa, và mời tôi vào nhà.

Bà sống với bố mẹ trong Kamminke, chỉ đến thăm ông bà ở Swinemünde. Khi có báo động bà không kịp xuống hầm tránh bom. Điều đó đã cứu sống bà. Những người ở dưới hầm đã bị chôn vùi.

Bà là một đứa bé, bà không thể làm như người lớn, những người phải giúp cứu hộ ngay sau đó và nhờ vậy mà được lôi kéo vào việc khác. Bà không phải làm gì ngoài việc đứng nhìn. Đôi mắt bà ghi nhận, trí nhớ bà ghi nhận tất cả mọi việc như một cái máy ảnh. Những xác chết ở trên cây và những mảnh xác ngựa cũng bị hất văng lên trên đó. Bà mẹ của ông hàng thịt ở cạnh bên nằm trước cửa sổ. Chỉ còn nhìn thấy phần thân trên của bà ấy. Trong hành lang của nhà láng giềng, bụng và ngực bị xé nát. Xác chết, xác chết, trên đường phố. “Được đặt nằm như cá trích”, bà nói. Người tỵ nạn, người tỵ nạn. Đầy trên tàu hỏa, đầy trên tàu thủy[ii].

Cháu trai của người đàn bà láng giềng – áo nâu[iii], băng chữ thập ngoặc – mang quan tài và lao công nước ngoài đến và lôi xác bà của ông ta ra khỏi đống đổ nát.

Đến một lúc nào đó bố của bà đứng trước cửa và hét to: “Có ai còn sống không?” 2 người lính hỏi họ có thể giúp đỡ được gì không, rồi họ phát hiện ra cái bánh bông lan và lao vào nó. Cứu thương đến. Họ nhìn thấy người đàn ông chết trong hành lang, cuộn ông vào trong màn cửa sổ và mang đi. Ông của bà còn sống, nhưng đầy mảnh bom, họ cũng mang ông đi. Sau đó bà cùng bố và bà của bà đi tìm ông, cho đến khi có người nói: “Ông bà không biết sao, ông ấy đã nằm trên Golm từ lâu rồi.”

Golm là một ngọn đồi, phía dưới có một dòng sông, một điểm du ngoạn được người Swinemünde yêu thích. Trong thế kỷ 19, ở đó có một ngôi nhà mang hình dạng một đền thờ Hy Lạp nhỏ; sau đó, vào thời phóng khoáng hơn, có một cái quán, nó có tên là “Chòi của cậu Tom”. Điều dễ hiểu, lái những xe tải chở xác chết lên đồi, đào những mồ chôn lớn ở trên đó và đổ thành phố Swinemünde vào trong đó, cái phần đã chết của nó.

Golm, tôi đã biết nó. Tên, tên, tên, như trên những tảng đá của Seelow lần trước[iv]. Alberti. Arndt. Bloch. Blitz. Brecht. Brendel. Bröhan. Burckhardt. Busch. Louis Deslandes. Marino Delle Donne. Dutschke. Engels. Hesse. Krupp. Voldemars Lapskalus. Marx. Messerschmidt. Pape. Roth. Sütterlin. Thoma. Weber. Zorn[v].

 

Lúc từ giã, bà nói một câu mà trước nay tôi lúc nào cũng nghĩ nó là tuyên truyền, bà nói: “Không bao giờ chiến tranh nữa.” Và như sợ tôi có thể phớt lờ không nghe, bà nhắc lại: “Tôi thường hay nói, chẳng thà nghèo như chuột trong nhà thờ, nhưng không bao giờ chiến tranh nữa.”

Cuộc đời của bà ở trong một câu nói, nó không phải là tuyên truyền, không phải là nói theo. Bà đã nói về một ngày kinh hoàng mà so với nó, tất cả những ngày khác trong cuộc đời của bà chỉ là những ngày hết sức bình thường.

Bà ngồi cạnh chồng trong phòng khách, lưng thẳng, đặt tay trước bụng, với mái tóc ngắn của một người phụ nữ đã có tuổi ở thôn quê. Chắc là bà hay ngồi trên ghế như thế và nhìn ra cửa sổ hay xem truyền hình, giống như sau một ngày làm việc dài. Và chắc chắn cuộc đời bà là một ngày làm việc dài. Có một bộ ghế xa lông, đã từng là một lần mua sắm quan trọng, bộ sưu tập ly uống bia trong cái tủ kính ở phòng khách. Ngôi nhà của hai người là một ngôi nhà thấp vùng Pommern, cạnh con đường làng với một mảnh vườn hẹp ở phía sau, một nhà kho, một băng ghế cho những mùa hè nóng bức ngắn ngủi ở vùng trên đó.

Tôi nghĩ ông bà đang sống ấm cúng trong những ngày tháng còn lại – cái câu đa cảm này bất chợt xuất hiện trong đầu tôi. Tôi nhìn những cái khăn trải bàn nhỏ và cái tủ, những tấm ảnh đáng yêu, bé trai dễ thương tặng hoa cho bé gái dễ thương, sự im lặng đang kêu tích tắc trong phòng khách, niềm mơ ước hòa bình sâu đậm, và dường như trong khoảng khắc này tôi đã hiểu được tâm hồn Đức mới.

Cái sau đó. Sau cú va đập của thiên thạch. Cái thơ mộng vững chắc của những phòng khách và mảnh vườn, con hoẵng và người lùn và những thằng hề đang khóc của người này[vi]. Và những ký hiệu hòa bình và những quyển sách cũ của Erich Fromm[vii] và những tấm áp phích với đồng hồ Dalí sắp lỗi thời của người kia. Vì những khác biệt của hai người này rất nhỏ. Tất cả họ đều có ý muốn nói như nhau. Tất cả, tất cả, miễn đừng có chiến tranh nữa.

Nước Đức của cuộc đời tôi thay đổi rất nhiều từ thập niên này sang thập niên khác, nhưng điều này luôn luôn không thay đổi. Tất cả suy nghĩ, tất cả cảm nhận từ thời điểm thiên thạch. Đó là điều mà tôi tin rằng đã hiểu được từ Kamminke, rằng có sự hủy diệt mạnh đến mức nó làm tê dại cả một cuộc đời, cả một đất nước. Vâng, bụi vẫn còn đang lắng xuống. Tê dại vẫn còn đang từ từ giảm đi.

 

Cái quán cá vẫn còn mở cửa khi tôi trở về. Trời đã hết mưa. Ở đó có 3 người Pommern đang đứng, một người trong bọn họ với cái mũ kiểu Hoàng tử Heinrich. Bao giờ cũng có một người đội nó – dường như cho tất cả những người khác. Tôi gọi một ly rượu khoai tây, nhưng ông chủ quán lắc đầu và khuyên nên uống rượu vang đỏ vùng Baden. Tôi thật sự không thể đoán trước được là sẽ đứng cạnh đê chắn sóng của Kamminke trong một đêm thu, ly rượu vang Dornfelder trong tay, gió trong tai và sự im lặng Pommern.

Sáng ngày hôm sau tôi đi chuyến phà cuối cùng của mùa hè này qua Vịnh Stettin hướng về phía nam.

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

————————————————————————————————————————

[i] Kamminke bắt nguồn từ tiếng Xlavơ có nghĩa là hòn đá.

[ii] Vào cuối Đệ nhị thế chiến, trong thành phố Swinemünde có rất nhiều người tỵ nạn đang dừng chân tạm thời, chờ được tiếp tục chuyển đi tiếp. Con số người chết trong lần ném bom ngày 12 tháng 3 năm 1945 dao động từ 4.000 đến 20.000 người.

[iii] Màu của Đảng Quốc Xã Đức.

[iv] Trận đánh ở dãy đồi Seelow trước cửa ngõ Berlin trong tháng 4 năm 1945 là một trong những trận đánh lớn trong Đệ nhị thế chiến, hằng chục nghìn người của 2 bên đã tử thương. Ngày nay có một đài tưởng niệm ở đấy với nhiều bia đá.

[v] Zorn: (Sự) tức giận, cũng là một họ (tương đối hiếm) của người Đức.

[vi] …con hoẵng và người lùn và những thằng hề đang khóc: Người Đức hay dùng chúng để làm vật trang trí trong vườn.

[vii] Erich Fromm (1900-1980) nhà triết học, xã hội tâm lý học Đức-Mỹ.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s