Chuyến bay

Biển lặng và trời xanh vào buổi sáng ngày hôm sau. Chiếc thuyền mang tôi ra cồn cát, đến phi trường, tôi bước tránh qua vài vũng nước đến chiếc máy bay cánh quạt nhỏ. Rồi tôi ngồi ngạc nhiên nhìn hòn đảo đơn độc và dễ tổn thương nằm ở phía dưới. Mỗi lúc một xa hơn trong biển màu xanh xám.

            Nó dường như lúc nào cũng có một tác động đặc biệt lên những người đã đến đây. Trong những mô tả lâu đời nhất, nó đứng sừng sững như một hòn núi kỳ điệu, như một cánh rừng thần thánh ở giữa biển. Tacitus[1] đã gọi nó như vậy, ông đã nhìn  hòn đảo như vậy.

Đảo Helgoland
Đảo Helgoland

            Đêm qua, trong ánh trăng tôi đã nhìn thấy một tấm bảng kín đáo tưởng niệm Werner Heisenberg[2]. Ngày xưa ông đã từ làm một việc trên Helgoland mà các linh mục thời Tacitus chắc hẳn cũng đã làm, khi ánh sáng trẻ trung dùng những ngón tay hồng xua đuổi bóng tối của màn đêm đi: “Vào một đêm nào đó tôi đã sẵn sàng, đã gần 3 giờ sáng. Phương trình năng lượng được chứng minh là đúng, và vì thế tôi không thể nào còn hoài nghi tính đúng đắn của cơ học lượng tử được dẫn ra từ đó được nữa. Tôi đi đến mũi đất ở phía nam của Oberland. Tôi leo lên được tảng đá đứng đơn độc nhô ra biển và tôi chờ mặt trời mọc ở mõm đá của nó.”

            Tảng đá đó không còn nữa. Tôi tự hỏi không hiểu trong số nhiều nghìn phi công lái máy bay ném bom đã mở khoang chứa bom một cách kiên định suốt 7 năm trời liệu có được vài người phải tự cấm mình những khoảng khắc Tacitus như thế hay không. Tôi chắc chắn rằng đã có vài người, những người nhìn được cái đó – hòn đảo chứ không phải mục tiêu. Bao giờ cũng có vài người.

            Ngoài tôi ra chỉ còn một đôi vợ chồng khoảng độ 50 trên máy bay. Sau chuyến ra đảo dữ dội, người vợ phải nhập viện vào ngày hôm qua vì đã ngất xỉu và không còn có thể thuyết phục bà ấy đặt chân lên tàu thủy thêm một lần nữa. Người chồng ôm chặt lấy vợ, nói trấn an, và chỉ cho vợ ngắm biển trong lúc máy bay đang ở cao độ thấp, làn da màu xám, lốm đốm, được trang điểm bằng nhiều dấu hiệu hàng hải, được vẽ nhiều vết tàu thủy màu trắng lên trên. Nó giúp cho bà vượt qua được.

            Lúc máy bay lượn để đáp xuống Bremerhaven tôi chưa từng nhìn thấy đất nước như thế bao giờ. Nhìn nó mở rộng và dòng sông Weser giăng các bờ sông ra. Tôi ao ước được bay tiếp. Nhưng chúng tôi hạ độ cao và rồi chúng tôi đáp xuống.

            Tôi đi tàu hỏa về Bremen. Ở đó, trong cửa hàng mà tôi thích nhất – một cửa hiệu bán hàng hóa từ những nước thuộc địa ngày xưa, chuyên về đồ may dệt, mà quần và bộ com lê được treo có trật tự theo màu sắc – tôi mua một chiếc áo khoác màu cát có thể mang đi du lịch được, bằng một loại vải bền có nhiều túi nổi mà có thể bỏ vừa quyển sổ ghi chép của tôi và cây bút bạc của tôi. Rồi tôi mua khuy măng sét bạc có nạm đá mang màu của quả mọng hoàng liên gai Ba Tư. Người ta có thể tìm thấy những vật như thế trong cửa hàng này, chuỗi đeo cổ, đá quý, những vật bằng vàng và gỗ mun, chúng nằm giống như tình cờ giữa những bộ áo váy, được mang về từ một chuyến đi không bao giờ chấm dứt. Một cửa hàng như vậy chỉ có thể có trong một thành phố ở cạnh biển, trong một thành phố cảng. Tôi nhét mấy chiếc khuy măng sét vào trong túi áo khoác và thỉnh thoảng lại sờ đến chúng.

Bremen
Bremen

            Tôi mang chiếc áo khoác đi xuyên qua Bremen, qua khu nội thành dường như rất nhộn nhịp đối với tôi, giống như hôm nay là một ngày đặc biệt – nhưng thật ra chỉ vì tôi vừa đến từ đảo, từ rìa. Cái mua sắm và đi loanh quanh này với ngày càng nhiều túi xách hơn, cái ăn-một-tí-vào-lúc-nghỉ-trưa, cái sau-khi-tan-học-đi-thành-nhóm-đầy-sức-sống-ồn-ào-vào-quán-kem, đoàn người dài và anh hùng của cả nhiều thế hệ đi qua những thành phố như thế với những khu phố cũ bị chiếm cứ và được kiên trì bảo vệ, với những rạp chiếu phim, chợ và quan hệ rắc rối của nó – tôi bơi ở trong đó như trong một bể nước nóng. Hiện tại nóng ấm thuần khiết.

            An tâm là có nó, tôi rời Bremen.

Phan Ba trích dịch từ “Deutschland, eine Reise”

Đọc những bài khác ở trang Nước Đức

————————————————————————————————————————

[1] Tacitus (khoảng 56-khoảng 116): sử gia La Mã.

[2] Werner Heisenberg (1901-1976): nhà vật lý học về cơ học lượng tử người Đức, nhận Giải Nobel.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s