Đông Dương: Chúng ta đã không dự tính trước với điều này (hết)

Hàng tỉ dollar, ngay cả sau khi rút quân

Người Mỹ đã ném 7,1 triệu tấn bom xuống Việt Nam, gấp 3,5 lần lượng bom rơi từ trên trời xuống trong Đệ nhị Thế chiến. Một triệu người Việt chết, sáu triệu người mất quê hương và phải chạy trốn trước các chiến tuyến, hơn một phần tư rừng nhiệt đới bị bom và đạn pháo xé nát và bị phá hủy nhiều năm trời bởi những chất độc làm rụng lá cây.

Ngay cả ở Nam Việt Nam, đất nước mà người Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh trong rừng rậm vì nó, những cuộc ném bom trên diện rộng của máy bay Mỹ đã phá hủy 12 phần trăm diện tích canh tác; ở miền Bắc thù địch, gần một nửa làng mạc đã cháy tiêu.

Ngày 30-4-1972 Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công mùa xuân vượt qua vùng phi quân sự và sông Bến Hải. Sau 5 tháng giao tranh ác liệt, quân BV đã chiếm được vùng phía bắc sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị. Giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam Bắc từ đây không còn là sông Bến Hải, mà là con sông Thạch Hãn này. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, nhiều tù binh của phía BV đã được Nam Việt trao trả qua con sông này.
Ngày 30-4-1972 Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công mùa xuân vượt qua vùng phi quân sự và sông Bến Hải. Sau 5 tháng giao tranh ác liệt, quân BV đã chiếm được vùng phía bắc sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị. Giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam Bắc từ đây không còn là sông Bến Hải, mà là con sông Thạch Hãn này. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, nhiều tù binh của phía BV đã được Nam Việt trao trả qua con sông này.

Câu hỏi về ý nghĩa của cuộc chiến tranh đã thất bại này, hỏi về người có lỗi cho cuộc Thập Tự Chinh ý thức hệ này, mà theo đó người ta cho rằng tự do của thế giới được bảo vệ ở Mekong, bị chết ngạt trong tiếng reo hò chào mừng các tù binh Mỹ trở về quê hương – và trước những câu khẩu hiệu vẫn còn đầy khí phách về tổ quốc thì mối quan tâm đó cũng biến mất, rằng liệu đó có thật sự là kết cuộc của chuyến phiêu lưu Đông Dương hay không.

Vì người đóng thuế ở Mỹ vẫn còn phải trả tiền cho cái được cho là cuộc chiến tranh đã được Việt Nam hóa: trong những năm 1973-1974, chỉ riêng Nam Việt Nam đã nhận được 3,9 tỉ dollar viện trợ quân sự và kinh tế (Bắc Việt Nam trong cùng thời gian đó nhận được từ Moscow và Bắc Kinh 1,5 tỉ dollar).

Và 9000 cố vấn Mỹ vẫn còn tổ chức ở Việt Nam cỗ máy chiến tranh của Nam Việt Nam, những người mà vì các điều kiện của lần ngưng bắn nên thời gian sau này phải cải trang thành dân thường: như là phi công, kỹ thuật viên và  chuyên gia tiếp vận. “Lầu Năm Góc Đông”, như lính Mỹ đã đặt tên cho bộ tổng chỉ huy ở Sài Gòn, vẫn tiếp tục tồn tại, thay cho các tướng lãnh là 100 “tùy viên”, cố vấn Mỹ chỉ huy cảnh sát Sài Gòn, bay thay cho Air Force là các công ty tư nhân như “Air America” do CIA thành lập.

Cả ở Campuchia cũng có trên 200 “cố vấn” dân sự ngồi trong Đại sứ quán Mỹ với nhiệm vụ hướng dẫn qua vô tuyến những đoàn máy bay B-52 chống Khmer Đỏ. Đổi lại, nước Mỹ phải trả tiền lương cho quân đội được cho là gồm 300.000 người của Lon Nol – hơn một phần tư của quân đội này chỉ có trên giấy.

Và cuối cùng, khi Quốc Hội cấm Lầu Năm Góc không được tiếp tục ném bom ở Campuchia nữa, thì Henry Kissinger là người đã tìm ra cách để ít nhất là tiếp tục cung cấp vũ khí cho Phnom Penh: Dựa trên sáng kiến của ông, người ta thuê ba công ty hàng không tư nhân, “Bird Air”, “Airlift International” và “World Airways”, để bảo đảm chiếc cầu hàng không cho thành phố Phnom Penh đang bị đe dọa.

Ellsworth Bunker, 80 tuổi, cho tới mùa xuân 1973 là đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, nói cho bất cứ ai muốn nghe, ông cho rằng lần rút quân của người Mỹ là một “trò bẩn thỉu khốn nạn”, và hãnh diện vì đã giữ được một “mối tiếp xúc tốt và hữu ích” giữa các tướng lãnh Nam Việt Nam và Lầu Năm Góc.

Vì vậy mà hầu như không có gì là ngạc nhiên, khi Hà Nội và Việt Cộng bắt đầu hoài nghi, liệu Kissinger có thể thành công trong việc thực thi ở Sài Gòn giải pháp chính trị do ông phác thảo ra hay không – chắn chắn là bước đầu của cuộc tái thống nhất trong im lặng nước Việt Nam dưới quyền của người cộng sản.

Được vuốt ve bởi sự nổi tiếng của Hiệp định Paris, Kissinger rõ ràng là nhất quyết muốn thu hoạch thành quả chính sách toàn cầu của ông. Trong tháng Hai 1973, ông bay tới Bắc Kinh và Hà Nội, và tuyên bố lúc trở về rằng, “một sự phát triển hòa bình giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt là cũng có thể có” như giữa Washington và Bắc Kinh. Washington đưa ra triển vọng mười tỉ dollar giúp xây dựng cho Đông Dương, nước Mỹ muốn chi 2,5 tỉ về cho Hà Nội – như là dấu hiệu của sự hòa giải.

Tất cả dường như đều diễn ra theo kế hoạch của Kissinger, số phận của Nam Việt Nam dường như không còn là một vấn đề nghiêm trọng nữa. Trong một cuộc phỏng vấn truyền hình sau chuyến đi thăm Hà Nội, Kissinger giải thích rằng người ta phải tính đến khả năng, rằng Việt Nam sẽ được “tái thống nhất dưới sự bảo hộ của cộng sản.”

Trong tháng Năm 1973, nhà cố vấn an ninh lại có mặt ở Paris, để bàn với người đối tác Thọ về Đông Dương, đặc biệt là về việc hai bên đổ lỗi cho nhau là luôn phá hủy và vi phạm Hiệp định.  Bây giờ, lần đầu tiên Kissinger nói một cách bi quan về một nền hòa bình đáng ngờ – Quốc Hội Mỹ đã lấy cây gậy dùng trong ngoại giao cứng rắn của Kissinger ra khỏi tay tổng thống: ông không còn được phép ném bom Campuchia nữa. Giữa tháng Mười, Kissinger, bây giờ là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, cùng với đối tác Lê Đức Thọ nhận Giải thưởng Nobel Hòa bình.

Kissinger, trong tư thế hoàn toàn là chính khách, nhận giải – Lê Đức Thọ từ chối. Ông ta cũng biết rõ như Kissinger, rằng kể từ Hiệp định Hòa bình Paris đã lại có thêm hàng chục ngàn người hy sinh tại các mặt trận ở Đông Dương và cuộc chiến đã phá hủy làng mạc và nhà cửa của hàng trăm ngàn người.

Tướng Thiệu, chưa từng bao giờ được Kissinger công khai thông báo về các mục đích của Hiệp định Paris, đã từ chối đóng vai trò của một người quản lý di sản chính trị mà người ta muốn giao cho ông.

“Sẽ không có bầu cử, nhất là với phe trung lập và cộng sản” cho tới chừng nào còn “một người lính Bắc Việt duy nhất ở Nam Việt Nam”, Hoàng Đức Nhã, cố vấn trưởng có nhiều ảnh hưởng và là cháu của Thiệu, nói năm ngày sau Hiệp định Ngưng bắn.

Cay đắng vì trò chơi chính trị của người Mỹ, cảm thấy cá nhân bị xúc phạm bởi thái độ của Kissinger to lớn, Thiệu còn để cho quân đội của ông tiến hành dọn sạch cái “da báo” đó, cái đánh dấu sự cùng hiện diện của những người cộng sản và chống cộng sản ở Nam Việt Nam trên bản đồ. “Bây giờ thì tấm da báo bảo vệ Việt Cộng sẽ bị sờn”, một sĩ quan tham mưu Nam Việt Nam hân hoan nói trong mùa Xuân 1973.

Lúc đầu, quân đội của Hà Nội và Việt Cộng bằng lòng với những phản đối qua lời nói và rõ ràng là tránh va chạm lớn với kẻ địch. “Lúc đó, trong mùa xuân sau Paris, chúng tôi thật sự là thơ ngây cho tới mức đã tin rằng nước Mỹ sẽ ép buộc Thiệu giữ đúng hiệp định. Sự thơ ngây này đã cướp đi nhiều cán bộ tốt nhất của chúng tôi”, theo đại tá Việt Cộng Võ Đông Giang, đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, nói với SPIEGEL.

Nước Mỹ mất nhiều hơn là một vài tỉ tiền thuế

Một năm sau khi các “chiến dịch bình định” này bắt đầu, quân đội của Thiệu đã kiểm soát thêm 15% lãnh thổ so với thời điểm của Hiệp định Hòa bình Paris. Nước Mỹ ngạc nhiên nhìn nhận các thành công quân sự bất ngờ của quân đội Nam Việt Nam, trong Nhà Trắng, quan điểm đó lại thắng thế thêm một lần nữa, rằng “Việt Nam hóa” cuộc chiến rõ ràng là có thể.

Trong tháng Tư 1974, Sài Gòn hủy các cuộc đàm phán với chính phủ Việt Cộng về tương lai chính trị của đất nước, hai tháng sau đó là cả việc cộng tác trong ủy ban quân sự chung đã được ấn định trong Hiệp định.

Biểu tình lên án CS tấn công và chiếm tỉnh Phước Long ngày 6.1.1975, vi phạm hiệp định hòa bình Paris 1973.
Biểu tình lên án CS tấn công và chiếm tỉnh Phước Long ngày 6.1.1975, vi phạm hiệp định hòa bình Paris 1973.

Mãi bây giờ thì miền Bắc bắt đầu chuyển sang thế tấn công – ban đầu vẫn còn là trên bình diện chính trị. Sự chống đối ngày càng tăng của người dân đối với chế độ tham nhũng của Thiệu, ngày càng cứng rắn hơn trong việc cấm đảng phái và kiểm duyệt báo chí, đã khuyến khích Chính phủ Lâm thời kêu gọi “lật đổ bè nhóm Thiệu”. Vào ngày 8 tháng Mười, Việt Cộng thêm một lần nữa đề nghị, gửi tới trước hết là Washington: điều kiện cho “đàm phán nhanh chóng”, để thực hiện các điều kiện của Hiệp định Hòa bình Paris, là lật đổ Thiệu.

Thế nhưng Lầu Năm Góc đã đánh cược vào thành công quân sự từ lâu, và Henry, người bận rộn với nhiều việc, đối diện với các cuộc khủng hoảng ở Cyprus và ở Cận Đông, không có thời gian để suy nghĩ về hậu quả của cuộc chiến tranh lại leo thang. Được hỏi về việc này, ông trả lời, lại hoàn toàn theo kiểu ngoại giao cứng rắn: “Ngay cả khi người ta thất bại với danh dự thì người ta vẫn là thất bại.”

Trong tháng Mười Hai 1974, Hà Nội rõ ràng là đã ra lệnh phản công: chạm trán trên tất cả các mặt trận, tăng dần cường độ, thay đổi địa điểm, từ đồng bằng sông Cửu Long cho tới cố đô Huế. Mãi tới bây giờ, vào lúc chuyển sang năm mới, Hà Nội cũng tăng cường hoạt động: 19 sư đoàn, một phần được bổ sung, vượt vĩ tuyến 17 vào miền Nam. So sánh lực lượng quân đội và vũ khí vẫn còn nghiên về cho quân đội Nam Việt Nam: 1,2 triệu lính của Thiệu đứng đối diện với tròn 220.000 người từ Hà Nội.

Khi rồi thảm bại của Huế và Đà Nẵng ập vào quân đội Thiệu thì người ta mới biết rõ rằng nước Mỹ, do bỏ lỡ cơ hội sử dụng Hiệp định Hòa bình Paris một cách nhất quán về mặt chính trị, đã mất nhiều hơn là một vài tỉ tiền thuế, rằng cái “decent interval” đó, mặc dù nó đã kéo dài hai năm, vẫn không đủ để miễn cho Washington trách nhiệm về lần sụp đổ của người đồng minh. Trong cuộc trốn chạy của những người lính Việt Nam nhỏ bé của Thiệu tham nhũng, được người Mỹ bảo trợ, một phần tính đáng tin cậy của Hoa Kỳ to lớn cũng đã mất đi. Ở Sài Gòn, Giáo sư Ton That Thien, tuy không phải là bạn của Hoa Kỳ, nhưng thế nào đi nữa thì cũng không phải là người cộng sản, tiên đoán: “Không ai còn tin người Mỹ nữa. Israel cũng sẽ giống hệt như thế này thôi, mặc dù người Israel có thể là mạnh hơn và thông minh hơn chúng tôi.”

Việc mà Thuyết Domino, do người Mỹ nghĩ ra, có thể quật trở lại uy tín của Mỹ một cách rõ ràng như vậy thì tất nhiên là khó có thể. Nhưng ít ra thì Tổng thống Ford phải bảo đảm công khai vào thứ năm vừa rồi, rằng không người bạn nào của Hoa Kỳ là phải lo sợ cả, “rằng chúng ta không làm tròn nhiệm vụ của chúng ta”. Vậy thì Việt Nam đúng không phải là một “chú thích của lịch sử thế giới”?

Ngoài ra, những gì còn được phát biểu ở Washington trong tuần vừa rồi, khi việc Phnom Penh thất thủ chỉ còn là câu hỏi của từng giờ, của Sài Gòn có lẽ là câu hỏi của vài ngày, cho thấy rằng những người đứng đầu nhà nước Hoa Kỳ hoàn toàn không ở trên một độ cao thích ứng với khoảnh khắc lịch sử, với lần sụp đổ của chính sách đối ngoại của Mỹ ở Đông Á:

Tổng thống Ford đẩy trách nhiệm về mệnh lệnh rút lui quá hấp tấp sang cho Thiệu, một nhân viên cao cấp khác của Mỹ đẩy sang cho cơ quan tình báo, đã không biết chính xác về các kế hoạch của Thiệu và sức chiến đấu của quân đội ông ấy. Khách thăm Sài Gòn Tướng Weyand nói, Nam Việt Nam có thể giữ được mặc cho mọi điều đó, trong khi sếp của ông, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Schlesinger ít ra thì cũng nói về “thảm bại một phần”. Và nhân vật chính, Henry Kissinger, thì hoàn toàn không nói gì hết.

Được hỏi, ông nuốn nói gì về những sự kiện ở Đông Dương, kiến trúc sư của chính sách về Đông Dương của Mỹ trong bảy năm vừa qua trả lời với một câu hỏi: “Thế tôi cần phải nói gì?”

Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel, số 15 năm 1975: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-41533839.html

Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s