Đông Dương: Chúng ta đã không dự tính trước với điều này (II)

“Một tấn bi kịch to lớn của con người”

Nhưng lần này là khác. Vì lần này thì nước Mỹ không có mặt bằng xương bằng thịt ở đó, không có lính Mỹ nằm dưới đạn pháo của cộng sản, người dân Mỹ có thể nói là ngồi ghế hàng đầu trong nhà hát – tuy xấu hổ, đầy lòng thương hại nhưng mà cũng không quan tâm tới.

Dù điều đó là đúng và bất di bất dịch cho tới đâu, rằng Washington thậm chí còn không cân nhắc một lần tham chiến mới ở Đông Á, thì thái độ đó vẫn thật là tai hại, thái độ mà Hoa Kỳ bộc lộ ra trong màn cuối cuộc chiến của họ. Chính phủ thì ẩn nấp nhiều ngày nay, rồi chi mười triệu dollar cho một cầu di tản đường hàng không và gửi Tham mưu trưởng Lục quân Weyand sang Việt Nam, vì ông – theo phát ngôn viên của Ford – có “quan hệ tốt” với Tổng thống Thiệu của Nam Việt Nam.

23 Tháng Giêng 1973, Paris, Pháp --- Đại sứ William H. Sullivan (dưới bên phải) và Xuân Thủy (trên bên phải) xem Tiến sĩ Henry Kissinger (ở giữa thấp hơn) và Lê Đức Thọ (thứ hai từ trên bên phải) ký kết Hiệp định Hòa bình Paris. Hình: Bettmann / Corbis
23 Tháng Giêng 1973, Paris, Pháp — Đại sứ William H. Sullivan (dưới bên phải) và Xuân Thủy (trên bên phải) xem Tiến sĩ Henry Kissinger (ở giữa thấp hơn) và Lê Đức Thọ (thứ hai từ trên bên phải) ký kết Hiệp định Hòa bình Paris. Hình: Bettmann / Corbis

Rồi Tổng thống của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ để cho tuyên bố rằng việc Đà Nẵng thất thủ là “một tấn bi kịch khổng lồ của con người, gây bất an sâu sắc cho toàn thể nhân loại văn minh” – lời nói của người chống cộng sản Ford, cái mà lại có quy mô quá lớn lao. Ngoài ra thì ông tổng thống chơi golf ở California và cười to chạy trốn các phóng viên muốn ông phát biểu về tình hình ở Đông Dương: “Không, không, điều đó thì không.”

Trong lúc đó, một trong những người tài giỏi nhất và là lãnh tụ có nhiều ảnh hưởng nhất của phe đối lập trung lập, Giáo sư xã hội học Ton That Thien, tổng kết cho người Mỹ hay cho một người Mỹ: “Bây giờ thì chúng tôi phải hứng chịu hậu quả của những gì mà Kissinger đã gây ra cho chúng tôi ở Paris.” Và: “Đó là kết quả của cái được gọi là hòa bình danh dự.”

Trong khi đó thì với Hiệp định Paris cho Việt Nam, Henry Kissinger chỉ nắm lấy một cơ hội muộn màng cho nước Mỹ để rời bỏ lần tham chiến phi lý của nó ở Đông Á, chắc chắn không phải như là người chiến thắng và không phải là không mất thể diện, nhưng mà vẫn còn có thể đừng để cho hàng triệu người Mỹ ở quê hương và thế giới còn lại kết tội chính phủ ở Washington là đào ngũ.

Các tính toán thống kê cho một cấu trúc táo bạo của một mặt tiền – mặc cho tất cả – đầy ấn tượng dường như thật sự là đã thành công: Moscow, Bắc Kinh, Hà Nội, Phương Đông cũng như Phương Tây và Thế giới Thứ Ba, phản động cũng như tiến bộ, bạn bè của nước Mỹ cũng như những kẻ thù ác liệt nhất của nó cũng đều nhìn thấy một “cơ hội của hòa bình” sau lần ký kết hiệp định ngưng bắn ở Paris vào ngày 27 tháng Giêng 1973. Việt Nam cho người Việt Nam và qua đó phó mặc đất nước đầy vết bom đạn đó lại cho chính nó – và đấy dường như là cốt lõi của hiệp định bốn bên này – là lối thoát tốt nhất cho thế giới đã mệt mỏi vì Việt Nam.

Tâm trạng này đúng là cái mà Henry Kissinger đã phỏng đoán trước, không gì nhiều hơn nữa. Ông muốn tạo cho nước Mỹ, bị chia rẽ thật sâu vì Việt Nam, một cuộc rút lui danh dự, một “peace with honor” – nhìn về chính trị thì hẳn là cái tối thiểu mà một cường quốc thế giới có thể đòi hỏi. Không màn kịch nào khác trong nội các, một phần táo bạo, một phần tầm thường, luôn được lập nên trong bí mật và được bố trí như là một màn biểu diễn chính trị, mà Super-Henry lại thành công được như vậy – và vẫn thất bại hoàn toàn.

Kissinger đưa ra cho Tổng thống Nixon, người trong lúc tranh cử đã hứa hẹn sẽ mang người Mỹ “trở về nhà càng nhanh càng tốt”, một sự lựa chọn khác của lập luận kiên nhẫn từ Lầu Năm Góc: Sau khi Hoa Kỳ đã tham gia vào cuộc Chiến tranh Việt Nam nhiều tới như vậy thì chỉ có thể ép buộc đi đến kết thúc bằng nhiều quân đội hơn nữa.

Đề nghị của Kissinger: các cuộc đàm phán hòa bình mà cho tới lúc đó hoàn toàn không có thành công nào giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt ở Paris cần phải được mở rộng ra. Nước Mỹ và Bắc Việt Nam, cả hai trên thực tế là chỉ là đồng minh chiến đấu, cần phải thương lượng về việc kết thúc cuộc chiến, chính phủ Sài Gòn và chính phủ lâm thời của Việt Cộng về một giải pháp chính trị sau khi ngừng bắn. Qua đó, trách nhiệm bây giờ thuộc về chính phủ Thiệu và chính phủ Việt Cộng, các chính phủ mà cho tới nay xem như đối phương không tồn tại.

Nhưng điều quan trọng cho Hoa Kỳ ở Paris là: Từ lúc ngưng bắn, rút quân cho tới lần thử nghiệm các thỏa thuận chính trị – tạo một “Hội đồng Hòa giải Quốc gia” dưới sự tham gia của người cộng sản và trung lập, bầu cử tự do và cuối cùng là bổ nhiệm một chính phủ mới ở Sài Gòn – dường như là một khoảng thời gian dài mà nước Mỹ cần nó như là một “thời hạn khoan hồng” cho cuộc rút quân của mình.

Việc giải pháp phức tạp này, chỉ được bảo đảm duy nhất qua thiện chí, cũng có thể thất bại, việc này thì nhà tư tưởng Harvard cũng đã dự tính đến ngay từ đầu. Ngay từ năm 1970, Kissinger đã nói với SPIEGEL: Đó chỉ còn là việc kéo dài thời gian giữa lần rút quân của Mỹ và lần sụp đổ của Nam Việt Nam để Washington không phải gánh chịu lần sụp đổ đó.

Điều này nghe có vẻ cay độc, nhưng chỉ chứng tỏ sự thừa nhận tính không thể tránh khỏi của sự phát triển: rằng Nam Việt sẽ trở thành cộng sản và thống nhất với miền Bắc, đó là điều mà các nhà lập kế hoạch ở trong Nhà Trắng cũng biết rõ. Nhưng Kissinger, sau này cả Nixon, đã nghĩ tới một cái gì đó giống như Giải pháp Praha 1948 nhiều hơn: nghĩ tới một mặt trận nhân dân mà trong đó cuối cùng – kéo dài càng lâu càng tốt – thì người cộng sản cũng sẽ chiến thắng và nhờ một cuộc đảo chính mà giành lấy quyền lực, thế nào đi nữa thì cũng không đổ máu và được xem là “việc nội bộ” – tuy Hoa Kỳ rất lấy làm đáng tiếc, nhưng không ngăn chận lẫn ủng hộ. Và một cơ hội như vậy thật sự là đã tồn tại: rằng Nam Việt Nam, không cần có thêm hàng trăm ngàn người chết và tàn phế, không có thêm hàng triệu người tỵ nạn mới và cũng không có một thảm bại cho chính sách đối ngoại của Mỹ, có thể tìm thấy một trật tự chính trị có thể chịu đựng được.

“Người thầy nghiêm khắc trong ngoại giao và cứng rắn”

Vì vào lúc ban đầu, dường như các toan tính của Kissinger đã bị từ bỏ trong một “decent interval”: Bắc Việt Nam, sau khi đợt tấn công dịp Phục Sinh 1972 thất bại, lại thêm kiệt quệ vì những cuộc ném bom liên tục của Không quân Mỹ, đang hết sức cần tới một lần ngưng bắn.

Những nhà cung cấp vũ khí của miền Bắc, Liên bang Xô viết và Trung Quốc, thế nào đi nữa thì cũng nằm trong xung đột đầy nghi kỵ vì giành giật ảnh hưởng tới Hà Nội và phần Đông Dương còn lại, dường như cảm thấy triển vọng bình thường hóa quan hệ của họ với cường quốc Hoa Kỳ là hấp dẫn.

Kissinger (thứ ba từ trái sang) gặp  thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng (thứ hai từ phải sang) trong chuyến đi đến Hà Nội tháng Hai 1973. Hình: Bettmann / Corbis
Kissinger (thứ ba từ trái sang) gặp thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng (thứ hai từ phải sang) trong chuyến đi đến Hà Nội tháng Hai 1973. Hình: Bettmann / Corbis

Chỉ như thế mới có thể hiểu được, rằng chiến lược của Kissinger, một ông thầy nghiêm khắc trong “ngoại giao và cứng rắn” đã lành lặn vượt qua được các chuẩn bị cho Paris: Tổng thống Hoa Kỳ có thể để cho quân đội Mỹ hành quân sang Campuchia và cuối 1972 lại cho ném bom miền Bắc Việt Nam mười hai ngày mà Hà Nội không hủy bỏ các cuộc đàm phán, và Moscow và Bắc Kinh không gây khó khăn đáng kể.

Để có hòa bình nhanh hơn, người tổng thống đã cho tiến hành chiến tranh nhiều hơn – lúc đó, không ai trong Nhà Trắng chống lại lô-gíc này của Kissinger. Sáu tuần sau khi tái ném bom Bắc Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Rogers và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bắc Việt Nguyễn Duy Trinh ký một hiệp định tương ứng với văn bản đã được đàm phán xong trong tháng Mười 1972, cái mà Bắc Việt Nam đã chấp thuận.

Thật sự thì nhà đàm phán Kissinger cần lần gián đoạn ồn ào này, vì ông đã tính toán sai lầm tại một điểm trong cấu trúc hòa bình của ông: Thiệu, người đứng đầu quốc gia Nam Việt Nam, mãi trong giờ cuối cùng trước lần ngưng bắn đã được chuẩn bị trước cho ngày 17 tháng Mười mới được Kissinger thông tin, không chơi cùng.

Không có khả năng đối phó được với những chống đối bất ngờ của chiến thuật gia khôn ngoan Thiệu, nhưng hẳn cũng là biết mình có lỗi, vì Thiệu đã chứng minh cho ông thấy những điều không chính xác nào đó trong phần văn kiện ràng buộc đối với Nam Việt Nam,  người sau này nhận giải thưởng hòa bình chỉ còn nghĩ tới bom đạn, để tạo không gian cần thiết cho những cuộc đàm phán bổ sung.

Khi đối tác đàm phán của Kissinger, thành viên Bộ Chính trị Lê Đức Thọ, đáp giữa chặn xuống Moscow trên đường trở về, sếp Đảng Brezhnev đã khen ngợi hòa bình của Kissinger: “Ví dụ này cho thấy rằng người ta cũng có thể tìm thấy một giải pháp hòa bình và công bằng cho những tình huống xung đột khác – nhất là ở Cận Đông.” Cả Bắc Kinh cũng nhìn thấy “một đóng góp to lớn để làm giảm bớt căng thẳng”.

(Còn tiếp)

Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel, số 15 năm 1975: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-41533839.html

Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on “Đông Dương: Chúng ta đã không dự tính trước với điều này (II)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s