Những ngày cuối cùng ở Sài Gòn

Winfried Scharlau, báo Die Zeit (Thời Báo), số 19 năm 1975

Phan Ba dịch

Sài Gòn, cuối tháng Tư 1975

Sau một vài ngày lo âu và hoảng hốt, Sài Gòn lại có hy vọng vào ngày thứ Ba, rằng màn cuối đẫm máu của cuộc chiến, nhát đâm kết liễu vào thủ đô, là có thể tránh khỏi được.

Dù sao thì phe cộng sản cũng cố gắng khích lệ những người cho rằng đàm phán hòa bình là cần thiết và có nhiều triển vọng. Chính phủ Cách mạng Lâm thời đưa ra hai điều kiện cho đàm phán: một chính phủ mới ở Sài Gòn, đã dọn sạch những phần còn lại của nhóm Thiệu, tách rời khỏi sự lệ thuộc vào nước Mỹ; ngoài ra là người Mỹ phải rút quân, chấm dứt mọi viện trợ và từ bỏ không can thiệp quân sự. Người cộng sản giúp cho lời đe dọa này bằng cách họ tấn công phi trường Sài Gòn bằng máy bay phản lực và pháo binh. Ngay lập tức, Tổng thống mới, Minh, trục xuất những người lính Mỹ cuối cùng ra khỏi nước và để cho Tổng thống Ford di tản những người cuối cùng của ông.

Tổng thống Dương Văn Minh trong ngày 30 tháng Tư 1975. Hình: Francoise De Mulder/Roger Viollet/Getty Images
Tổng thống Dương Văn Minh trong ngày 30 tháng Tư 1975. Hình: Francoise De Mulder/Roger Viollet/Getty Images

Ở người tổng thống mới tại Sài Gòn, Tướng “Big” Minh, một con người do dự và dân nghiệp dư chính trị, mà hình ảnh của ông khiến cho người ta nhớ tới tướng Hindenburg, thì nhiều người tin rằng đã nhận ra được người đàn ông có thể thành công trong việc trừ khử cuộc nội chiến, vì chính phủ cách mạng tin tưởng ông, và Hà Nội có thể quan tâm tới việc dàn dựng kịch bản của Hiệp định Paris với một chính quyền của Minh. Cuộc thủ tiêu nhà nước Nam Việt Nam rồi sẽ nhận được một tính hợp pháp và đẩy lùi trận tổng tấn công quân sự ra phía sau; sự thay đổi quyền lực sẽ diễn ra dần dần và tránh cho người Nam Việt và công chúng thế giới cú sốc của một cuộc xâm chiến quốc gia.

Rõ ràng là Hà Nội đang hướng tới một cuộc đầu hàng từng phần, nhưng vẫn nắm lấy sự lựa chọn quân sự cho trường hợp Sài Gòn phung phí thời gian và không nhanh chóng đáp ứng các điều kiện đã được đưa ra.

Đứng trước thảm họa đang đe dọa thì thật ngạc nhiên khi có thể quan sát thấy rằng hậu đội của tổ chức Thiệu vẫn còn khăng khăng duy trì tính hợp hiến của một sự thay đổi quyền lực và của việc đặt Big Minh vào vị trí kế thừa Thiệu. Ông phó tổng thống trước đây, người đã gần như mù lòa, Trần Văn Hương, mà Thiệu vừa mới đây đã giao nhiệm vụ quản lý di sản của mình cho ông ấy, trong sự yếu đuối và không có khả năng nhận rõ được hiện thực, đã tượng trưng cho tình trạng nội bộ của Sài Gòn. Sự khăng khăng giữ đúng tính hợp pháp của lần thay đổi quyền lực khiến cho người ta nhớ tới những ngày cuối cùng của nước Áo trước lần sáp nhập năm 1938, khi Tổng thống Miklas chống lại áp lực của Quốc Xã, bổ nhiệm tên tay sai của họ là Seyß-Inquart làm thủ tướng liên bang. Hương cũng không thể đảo ngược được số phận như Miklas, vì hiến pháp gắn liền với hiện thực của quyền lực.

Nam Việt Nam đã phá sản, và với nhà nước thì hiến pháp chống cộng sản năm 1967 cũng sụp đổ. Không được phép có những cuộc đàm phán mà trong đó Nam Việt Nam xuất hiện như là người thua cuộc, Hương giải thích vào ngày thứ bảy vừa qua trước các thượng nghị sĩ có mặt. Di sản của Thiệu tin rằng vẫn còn có thể chơi bài tố, nhưng ông không còn lá bài nào trong tay nữa. Ông buộc phải từ chức.

Tổng thống Trần Văn Hương (giữa) ngày 27-4-1975 - một ngày trước khi trao quyền cho ông Dương Văn Minh
Tổng thống Trần Văn Hương (giữa) ngày 27-4-1975 – một ngày trước khi trao quyền cho ông Dương Văn Minh

Tướng Minh chỉ có thể tránh được cho Sài Gòn số phận của Phmom Penh, khi ông công nhận chiến bại, chấp nhận các điều kiện của đối thủ và xóa bỏ những phần còn lại của chính quyền Thiệu, kể cả các cơ quan và tổ chức. Ông phải thực hiện ý muốn của phía bên kia, phải đóng một vai trò như Pétain, để ngăn ngừa những điều tồi tệ hơn, vì lợi ích của đất nước. Nhưng Minh có thể hoàn thành nhiệm vụ đó trong danh dự, vì ông đầu hàng trước những người đồng hương với ông. Ông tránh được sự nhục nhã, nhưng chiến bại thì không.

Liệu Sài Gòn có sử dụng cơ hội đầu hàng về chính trị trước khi nó bị xâm chiếm bằng quân sự hay không, điều này thì vẫn còn chưa có thể nhận ra được vào ngày thứ ba. Vào cuối tuần trước đây, tiếp theo cuộc tranh luận dường như vô tận trong Thượng Việt là một cuộc tấn công bằng hỏa tiển vào nội thành, cái đã tăng tốc đáng kể cho quá trình nhận thức hiện thực. Và cũng không cần phải có nhiều trí tưởng tượng cho lắm để tiên đoán, rằng sẽ còn nhiều cuộc tấn công khủng bố tiếp theo đó nữa, nếu như cuộc tự thủ tiêu của nhà nước Nam Việt Nam còn kéo dài.

Theo ý của đa số người dân Sài Gòn thì trận chiến đấu cuối cùng vì Sài Gòn cần phải được ngăn chận. Vì thành phố sợ chiến tranh còn nhiều hơn là sợ chủ nghĩa cộng sản. Mặc dù vậy, số phận sắp tới, nhận được một chính quyền xã hội chủ nghĩa nghiêm khắc, chính quyền mà sớm muộn gì thì cũng sẽ phán xét về mối quan hệ của người dân với nhà nước trước đó và với người Mỹ, và sẽ có lần thanh toán đẫm máu, số phận đó đã mang người dân lại gần với sự hoảng loạn. Người ta quan sát thấy cử chỉ cắt ngang cổ ngày một nhiều hơn, khi người dân bàn về tương lai sắp tới đây.

Cha Than, một linh mục Công giáo được nhiều người biết, người rất am hiểu tâm trạng của người dân trong nước, kể từ lúc đó đã cố gắng tác động chống lại những tin đồn nhảm về các cuộc hành quyết ngắn gọn ở Huế và Đà Nẵng, bác bỏ chúng như là tuyên truyền vô căn cứ của CIA. Ông cố gắng mang lại hy vọng cho những người lắng nghe ông, rằng một chính quyền cộng sản ở miền Nam sẽ hành động tự do hơn và khoan dung hơn là chính quyền đó ở Bắc Việt Nam sau khi chiến thắng nước Pháp trong năm 1954. Cha Than muốn làm cho chính bản thân mình và cho những người theo ông tin rằng Nam Việt sẽ không trở thành đỏ mà chỉ là hồng. Qua đó, ông muốn có tác động trấn an tâm lý, cái giúp được cho tất cả mọi người, ngay cả khi sau này lộ ra rằng ông, cũng như nhiều lần trước đó, làm biến dạng hiện thực với những mong muốn ngoan đạo.

Cuộc di tản và trốn chạy có tổ chức của những nhóm người nhất định đã góp phần đáng kể vào sự bất mãn, bất an và cay đắng của người dân. Ai nhận được một thị thực từ người Mỹ, người đó có cảm giác như mình được cứu thoát, ai ở lại thì có cảm giác như mình bị kết án và phó mặc, trong bất cứ trường hợp nào cũng đều là bị thiệt thòi và bỏ lại. Vì hầu như tất cả mọi người đều nhìn thấy mình trong một mối nguy hiểm chủ quan và vì vậy mà không muốn chấp nhận những điều kiện khách quan, nên cảm giác bị Hoa Kỳ phản bội và bán đứng đã tăng lên. Trong bài diễn văn từ chức của mình, Thiệu đã biểu lộ thật mạnh mẽ cảm xúc này và qua đó, trong con mắt của nhiều người Việt đã tạo cho ông một kết thúc đáng kính nể.

Cuộc chạy trốn có tổ chức của những người giàu có, của giới trung lưu và thượng lưu, còn tạo ra thêm nhiều chất nổ, cái mà có thể phát nổ vào bất cứ lúc nào. Người nghèo phải ở lại, có lẽ là phải trải qua trận đánh vì Sài Gòn và phải thích ứng với người cộng sản; người giàu, những người đã hưởng lợi từ chính quyền Thiệu, có đủ khả năng để tự mang họ tới nơi an toàn và tự giải cứu mình ra khỏi trách nhiệm quốc gia. “Người giàu, phần lớn trong số đó là người Hoa”, Saigon Post bình luận như vậy, “với những cái hộ chiếu được mua thật đắt giá, đã rời bỏ đất nước qua đường hàng không hay đã lén lên những con tàu thả neo ở Vũng Tàu, Rạch Giá hay những nơi cạnh bờ biển khác.”

Nhà báo nước ngoài cuối cùng đang rời Sài Gòn trên đường Hai Bà Trưng ngày 29 tháng Tư 1975. Hình: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.
Những nhà báo nước ngoài cuối cùng đang rời Sài Gòn trên đường Hai Bà Trưng ngày 29 tháng Tư 1975. Hình: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.

Bộ trưởng Bộ Kinh tế Nguyen Van Hao cũng đã công khai ta thán việc mất mát bí quyết và tư bản thật to lớn, cái giống như “chảy máu” và phó mặc một Nam Việt Nam đã bị cướp mất nền tảng tri thức của nó cho một tương lai không chắc chắn. Mặc dù vậy, chính phủ vẫn không quyết định tiến hành những hành động quyết liệt. Vì cả bộ trưởng Hao, người ta cũng được phép phỏng đoán như vậy mà không hề có ý nói xấu, cũng sẽ rời con tàu đang chìm xuống, ngay khi ông nhận thấy tình hình khuyên ông nên làm việc đó.

Truyền thông tin tức chỉ còn để cập thoáng qua những vấn đề cốt lõi của đất nước, để gây hoảng loạn. Ở Sài Gòn, hầu như ai cũng đã có trải nghiệm sốc, rằng bạn bè, người quen hay láng giềng biến mất qua đêm. Báo chí chỉ có thể tự giới hạn họ ở các phỏng đoán. Cực đoan nhất là đài phát thanh Mỹ, hầu như không còn nhắc tới Nam Việt Nam trong phần tin tức được phát đi hàng giờ của nó. Cuộc di tản thậm chí còn chưa diễn ra trong các tin tức đó; lần thay thế trong Dinh Tổng thống đã bị phớt lờ, thay vào đó là một câu chuyện đồn đãi từ miền quê nước Mỹ. Mặc dù vậy, đài phát thanh vẫn giữ được thính giả của nó. Vì có thể là vào phần cuối của phần tin tức, tín hiệu bí mật cho cuộc di tản khẩn cấp sẽ được phát ra. Không ai muốn bỏ lỡ nó.

Cho tới ngày thứ hai, khoảng 220 nhà báo đã cưỡng lại được sự cám dỗ, bay ra khỏi nước sớm hơn. Thế nhưng công việc của họ ngày một cực nhọc hơn vì những thiếu sót kỹ thuật tại các trạm radio và telex. Thậm chí những gói hàng vận tải nhanh bằng máy bay như phim cũng bị trì hoãn đáng kể, từ khi phần lớn các hãng hàng không không còn bay tới Sài Gòn nữa và giới báo chí hầu như chỉ còn có thể dựa vào dịch vụ của Air Vietnam.

Tất nhiên là nhiều người vẫn cho rằng câu chuyện còn chưa chấm dứt, nhiệm vụ báo chí vẫn chưa hoàn thành, khi Đại sứ quán Mỹ kêu gọi di tản. Ý nghĩ đó rất cám dỗ, rằng các sĩ quan Bắc Việt Nam sẽ đối xử với nhà báo nước ngoài khác với Khmer Đỏ – cám dỗ, nhưng không chứng minh được.

Phan Ba dịch từ: http://www.zeit.de/1975/19/lauter-letzte-tage-in-saigon/komplettansicht

Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s