“Cái chết đã bao vây chúng tôi” (tiếp theo và hết)

Xói mòn thành công

Năm 1973, Thiệu không tận dụng được thời gian của ông, “lần tạm nghỉ đúng phép tắc” mà Washington đã thương lượng được cho ông.  Bây giờ thì thời gian hoạt động chống lại ông. Vì vào thời gian này, tương quan lực lượng đã dịch chuyển về hướng có lợi cho Hà Nội, ngay cả khi Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn vẫn còn chưa muốn chấp nhận điều đó. Tổng thống Thiệu lâm vào tình cảnh nguy ngập trên ba mặt trận, trước hết là về quân sự, nhưng cũng cả về kinh tế và đối nội.

Về quân sự, tuy là cho tới nay người cộng sản vẫn còn chưa xâm nhập thành công mang tầm chiến lược vào những vùng đông dân cư cạnh bờ biển hay vào đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng họ đã chiếm được thêm đất và dân, họ thống trị tròn 45 phần trăm lãnh thổ và 7 tới 12 phần trăm dân cư Nam Việt Nam; bàn đạp của họ đã to lớn hơn. Họ có thể đưa ra những điều kiện mới và khe khắt hơn về chính trị, nếu như lại bắt đầu đàm phán trở lại. Cuộc thâm nhập và xói mòn Nam Việt Nam đã được tiến hành một cách có hệ thống và với thành công.

Sài Gòn năm 1974 với chiếc La Dalat của Việt Nam
Sài Gòn năm 1974 với chiếc La Dalat của Việt Nam

Theo số liệu của CIA, người cộng sản có 300.000 lính, trong đó có 235.000 người Bắc Việt – nhiều hơn lúc ngưng bắn 90.000 người. Mặc dù vậy, thời gian này vẫn không có ai dự tính với một cuộc tổng tấn công có quy mô lớn và một trận tấn công mang tầm quyết định cuộc chiến vào Sài Gòn. Lực lượng và dự trữ của miền Bắc vẫn còn chưa đủ cho việc này. Ngoài ra, cũng không được phép khiêu khích người Mỹ có những hành động phản ứng mới, và cũng không được phá rồi giới chính trị toàn cầu của Liên bang Xô viết, nhà cung cấp vũ khí không thể thay thế được của Hà Nội. Nhưng đồng thời, chuyên gia quân sự Phương Tây cũng loại bỏ khả năng đánh trả có hiệu quả của quân đội chính phủ để bù đắp cho những phần lãnh thổ đã bị mất.

Trong diễn tiến của chiến dịch mới nhất, toàn bộ tỉnh Phước Long đã bị mất. Qua đó, phía bên kia bây giờ có được một hành lang rộng hơn và được bảo vệ tốt hơn, dẫn từ Bắc Việt Nam dọc theo biên giới Lào và Campuchia cho tới rìa của vùng đồng bằng. Ở đó, phi trường, căn cứ tiếp liệu và đường ống dẫn dầu mới được xây dựng, đường sá được đẩy mạnh về hướng Nam. Không còn bị cuộc ném bom nào của Mỹ gây trở ngại, trang thiết bị hạng nặng được kéo tới liên tục qua con đường trong rừng rậm này: trên 600 xe tăng, tròn 400 đại bác hạng nặng và nhiều lượng lớn vũ khí phòng không, những cái mà ngay từ bây giờ đã gây nhiều khó khăn cho không quân Nam Việt Nam.

Về kinh tế, chính phủ Sài Gòn đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất và nguy hiểm nhất của họ. Nền kinh tế, bị chiến tranh làm đảo lộn, hoàn toàn phụ thuộc vào việc Quốc Hội Mỹ có sẵn sàng ưng thuận chi hàng trăm triệu trong những năm tới đây để viện trợ về kinh tế và quân sự cho đất nước này hay không. Đó là nền tảng hoạt động cho thỏa thuận Việt Nam hóa đã được Thiệu và Nixon ký kết vào thời đó. Nhưng Nixon không còn tại chức nữa, và Quốc Hội thì dường như là không còn có kiên nhẫn với đồng minh tốn kém và không hiệu quả này.

Trong khi tiền viện trợ của Trung Quốc và Liên bang Xô viết cho Hà Nội theo ước lượng của tình báo Phương Tây đã tăng từ 715 triệu trong năm 1973 lên đến một tỉ rưỡi dollar cho năm 1974 thì viện trợ Mỹ cho Sài Gòn một phần đã bị cắt mạnh rất mạnh: xuống còn 450 triệu cho kinh tế và 700 triệu dollar cho quân đội. Lính Mỹ, những người đã từng bơm 400 đến 500 triệu dollar vào thị trường, thì đã rút đi. Dự án của Nixon về một kế hoạch Marshall cho Đông Dương đã không thành công, làn sóng được hy vọng của những đầu tư từ tư nhân nước ngoài đã không đến vì rủi ro chiến tranh vẫn còn tiếp tục.

Hậu quả của sự phát triển này hết sức trầm trọng: đóng cửa nhà máy sản xuất vì thiếu ngoại tệ cho nguyên liệu, thu nhập từ xuất khẩu giảm xuống, một đạo quân người thất nghiệp, thu nhập bình quân trên đầu người giảm mười phần trăm mỗi năm, tỷ lệ lạm phát trên 50 phần trăm rất nhiều, một cán cân thanh toán ảm đạm với thu nhập từ xuất khẩu là 75 triệu so với 887 triệu dollar chi tiêu cho nhập khẩu, một ngân sách nhà nước hầu như không còn lại gì cho đầu tư xây dựng và hai phần ba tài chánh được đổ vào cho quỹ chiến tranh – để nuôi một quân đội một triệu người, cảnh sát và người tỵ nạn.

Một quân đội mà cuối cùng thì không còn có xăng dầu, đạn dược hạng nặng và phụ tùng thay thế xuống cho tới tận ắc quy vô tuyến. Từ nửa đầu 1974 họ không còn có thể mua sắm máy bay hay trực thăng mới nữa, mặc dù họ mất mỗi tháng ít nhất là mười hai chiếc. Trước đây, đối phó lại với mỗi một quả đạn pháo cộng sản, người ta có thể ném trả tám quả đạn pháo, ngày nay chỉ còn là hai. “Người lính thường ở ngoài kia trong bụi rậm có thể nghe thấy bằng chính tai mình rằng thời thế đã thay đổi”, một tùy viên quân sự Phương Tây nói.

Về chính trị, việc tiến hành cuộc chiến mà không có sự lựa chọn khác của Thiệu, và đi liền với đó là suy giảm kinh tế và nghèo hóa người dân, đang gặp phải sự chống đối ngày một tăng trong nội bộ. Sáng kiến xuất phát lại xuất phát chính từ người Công giáo, những người phần đông đã chạy trốn khỏi miền Bắc và cho tới nay thuộc phần cốt lõi trung thành của tổng thống. Trong tháng Chín 1974, linh mục Công giáo và chính trị gia tụ hợp lại trong “Phong trào Nhân dân chống tham nhũng để cứu quốc gia và tái thiết lập hòa bình”. Dưới sự lãnh đạo của cha Trần Hữu Thanh dòng Chúa Cứu Thế, Thiệu, gia đình ông và các thành viên dẫn đầu của chính phủ bị lên án là đã có liên quan tới sáu xì-căng-đan tham nhũng và đã “phản bội quốc gia”. Tất nhiên là những người công giáo không muốn làm suy yếu công cuộc bào vệ. “Chúng tôi sẵn sàng ngưng chiến với người cộng sản, với điều kiện là xã hội của chúng tôi trở nên lành mạnh và có khả năng chế ngự được họ.”

Can đảm hơn

Rồi giữa tháng Chín 1974, người Phật giáo đã ngần ngừ một thời gian dài cũng bắt đầu làm theo; họ thành lập “Lực lượng Hòa giải Quốc gia”. Nhân vật lãnh đạo của họ là Thích Trí Quang, lãnh tụ của nhóm chức sắc cực đoan trong chùa Ấn Quang, trung tâm tinh thần của Phật giáo ở Nam Việt Nam.

Ở đây, người ta đặt ra những ưu tiên khác: hòa bình bằng mọi giá, kề cả cái giá của một chính phủ liên minh với người cộng sản. “Chiến tranh là gốc rễ của mọi sự xấu xa, sau khi chấm dứt nó thì cũng có thể xóa bỏ tham nhũng là làm sạch xã hội”, phát ngôn viên chùa Ấn Quang, Thich Quang Do tự tin nói. Phong trào Phật giáo tự hiểu mình là lực lượng thứ ba, trung lập, đứng giữa, giữa hữu và tả. Khác với người Công giáo, người ta đánh trống chống Mỹ thật to trong chùa: “Họ can thiệp khắp nơi và chỉ tin vào sức mạnh từ đồng dollar và bom đạn của họ.”

Biểu tình chống chính quyền, Sài Gòn, 1974
Biểu tình chống chính quyền, Sài Gòn, 1974

Cả hai nhóm tôn giáo đối lập đều châm chích Thiệu, nhưng thật sự đâm vào thì còn chưa có nhóm nào dám. Ngoải ra, một sự cộng tác có khả năng hoạt động giữa các nhóm đối lập khác nhau phải đương đầu với một sự nghi ngờ lẫn nhau thật sâu xa. Cho tới nay, không có gì thành hình nhiều hơn là các liên hệ lỏng lẻo.

Thiệu khôn ngoan và nhanh nhẹn về phần mình cũng đã hoạt động để lấy gió ra khỏi cánh buồm của giới đối lập đang thành hình. Ông nắm chặt lực lượng cảnh sát, đáp ứng lại sự thịnh nộ của người dân và đích thân chống lại những người tham nhũng cao cấp: bốn bộ trưởng bị sa thải, trong số đó có Nha cháu của ông, sếp thông tin và kiểm duyệt bị căm ghét, ba chỉ huy quân đoàn bị sa thải, chín tỉnh trưởng bị thay thế, hàng trăm thiếu tá, trung tá và đại tá phải ra đi. Thao tác chính trị, tất nhiên rồi, nhưng khéo léo và được trình diễn có hiệu quả. Thêm vào đó, lần cộng sản chiếm Phước Bình cũng khiến cho quan chức không muốn hòa giải nhiều nhất cũng phải toát mồ hôi trán.

Tuy vậy: phạm vi của Thiệu cũng đã bị thu hẹp trong ngôi nhà của chính ông, vị trí của ông và tính chính danh rõ ràng là đã bị phong trào chống đối làm cho suy yếu đi. Phe đối lập chia rẻ, phân tán, mơ hồ trong các chương trình của họ, phi thực tế trong các tuyên bố của họ, tất nhiên rồi. Thế nhưng đã bắt đầu có chuyển động trong các mặt trận nội địa cứng nhắc, có những điều mà người Nam Việt chỉ dám thì thào trong những năm vừa qua thì bây giờ đã được nói công khai. Tran Van Tuyen, một lãnh tụ đối lập quốc gia già chịu ảnh hưởng dân chủ xã hội, đúc kết: “Chúng tôi đã can đảm hơn.”

Chiến tranh vẫn tiếp tục

Thiệu suy yếu, nhưng vẫn còn mạnh cho tới mức không thể bị lật đổ. Trong lúc đó, những người cộng sản, hiện giờ hoàn toàn không sẵn sàng cho bất cứ một thỏa hiệp chính trị nào và đang tấn công về mặt quân sự, lại giúp cho ông. Cũng trợ giúp cho ông là khả năng chịu đựng và tính khoan dung hầu như không thể hiểu được của dân tộc này, một dân tộc luôn phải chịu đựng chiến tranh và những hy sinh mất mát từ nó như thế nào đó – như phải chịu đựng một mùa buồn thảm trong năm mà không thể đảo ngược được.

Ở Tây Ninh, những người phụ nữ nhà nông với cái nón lá sáng óng ánh của họ khom người xuống mặt đất, trong khi đạn pháo hú bay qua đầu họ. Ở cạnh đường số 4, con đường lúa gạo giữa Sài Gòn và vùng đồng bằng, có một đứa bé ngồi cười trên một con trâu và thả chiếc diều của nó bay lên, chính xác ở nơi mà ngày hôm qua đã có người bị bắn chết.

Cạnh Quốc lộ 1 giữa Huế và Quảng Trị ở phương bắc, con đường của kinh hoàng và chết chóc năm 1972, những người dân làng trở về xây thùng chứa nước và bếp nấu từ những vỏ đạn đại bác nằm xung quanh và xây giường ghế từ những thùng chứa đạn bị quẳng đi.

Lúa mới xanh tươi mọc cho tới tận rìa của vô số những cái mô đất nhỏ, mà xác người của trận đánh được chôn ở dưới đó. Chẳng bao lâu nữa nó cũng mọc vượt qua đó. Vì cuộc chiếc này, dù nó có tạo ra những vết thương nặng cho tới đâu, không đạt tới mức độ của sự tàn phá và hủy diệt toàn bộ, tới mức độ làm ngưng tất cả mọi thứ. Nó vẫn luôn là chiến tranh và hòa bình, vẫn là cuộc chiến xảy ra bên cạnh cuộc sống hàng ngày. Vì vậy mà nó kéo dài tới như vậy. Vì vậy mà người đứng đầu chính phủ Bắc Việt Phạm Văn Đồng thời đó có thể hỏi nhạo báng đáp trả một phóng viên của tờ New York Times: “Người Mỹ muốn chiến đấu lâu cho tới chừng nào? Một năm, hai, ba, năm, mười, hai mươi năm? Đó sẽ là một niềm vui cho chúng tôi.”

Nơi mà người Mỹ không có kiên nhẫn đã rút đi bây giờ chỉ còn người Việt ở lại với cuộc chiến riêng của họ. Không có chung lịch sử, không có sự phân đôi đơn giản về mặt địa lý như ở bán đảo Triều Tiên và không có tính khoan dung của Lào giúp họ. Cuộc chiến vẫn tiếp tục. Còn bao lâu nữa? Không ai biết.

Phan Ba dịch từ báo Die Zeit (Thời báo), số 6 năm 1975: http://www.zeit.de/1975/06/der-tod-hat-uns-eingekreist/komplettansicht

  Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on ““Cái chết đã bao vây chúng tôi” (tiếp theo và hết)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s