“Cái chết đã bao vây chúng tôi”

Chính quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng nguy ngập

Andreas Kohlschütter

Phan Ba dịch từ báo Die Zeit (Thời Báo), số ra ngày 31 tháng Giêng năm 1975

Sài Gòn, trong tháng Giêng

Đó là Tây Ninh trong tháng Giêng 1972: một tỉnh lỵ bụi bặm, có mật độ dân cư quá cao với 40.000 người ở cạnh con đường dẫn sang Campuchia; một cái chợ ồn ào, đầy sức sống nguyên thủy, muôn màu sắc, mà người ta buôn bán và trả giá thật to bằng tiếng Việt ở trên đó; một căn cứ khổng lồ để hỗ trợ cho các chiến dịch tấn công lớn của quân đội Nam Việt Nam, tiến qua bên kia biên giới, trên đất Campuchia, hành quân tới những vùng địch thủ triển khai lực lượng; những đoàn xe tải đạn dài hàng ki-lô-mét, hàng bầy trực thăng, hàng chục cố vấn Mỹ, những người có thể yêu cầu máy bay ném bom B-52 của họ hỗ trợ vào bất cứ lúc nào.

Tây Ninh, 31 tháng Giêng năm 1973. Hình: Bettmann/CORBIS
Tây Ninh, 31 tháng Giêng năm 1973. Hình: Bettmann/CORBIS

Tây Ninh ngày nay là như thế này: một thành phố không người với cái chợ hoang vắng mà trên có còn không có cả chó chạy rông. Tây Ninh đã trở thành một thành phố tiền tuyến đang lo sợ, bị đẩy vào thế phòng thủ, người dân đã bỏ chạy, bộ chỉ huy sư đoàn đã dời về phía sau. Lính Nam Việt Nam ngồi ở phía sau những hàng dây kẽm gai đã rỉ sét và những chồng bao cát thủng lổ.

Những người lính đang chờ địch thủ – và những người này thì đang ở thật gần, cả vùng đất đi về hướng Campuchia đã thuộc về tay những người cộng sản. Họ thống trị nhiều phần rộng lớn của tỉnh Bình Long kế cận, bây giờ họ ngồi trên núi Bà Đen, nổi lên từ đồng bằng ở gần Tây Ninh giống như một ngọn núi lửa, và họ bắn tùy thích đạn pháo của họ vào cái thành phố đang nằm ở dưới chân và vào cái trại lính đã đào hầm cố thủ của nó.

Mất niềm tin

Hạ sĩ quan Nghiep thuộc vào trong số những người cuối cùng rời bỏ căn cứ ở trên núi vào đầu tháng Giêng. “Chúng tôi không còn đạn, không còn nước, không còn thức ăn  nữa.” Tại sao họ không được cung cấp bằng trực thăng? “Chúng tôi là những người lính tốt, nhưng chúng tôi đã nghèo đi.” Vợ Đại úy Minh vừa từ Sài Gòn tới thăm ông. Lặng thinh, cạnh bên nhau, hai người ngồi trên một cái thùng gỗ trước một chai rượu mạnh đã gần cạn. Ông nghĩ gì về lần thất thủ Phước Bình mới đây, tỉnh lỵ đầu tiên mà người cộng sản tiến vào kể từ lần “ngưng bắn”? Nhún vai không lời. Minh 34 tuổi, ở trong quân đội từ mười ba năm nay. Người Mỹ có quay trở lại không? “Họ phải trở lại.” Và với ánh mắt buồn bã nhìn ra con đường dẫn tới cánh đồng mà anh với đại đội của anh có nhiệm vụ phải giữ nó, anh nói: “War we no can do fini” – “Chúng tôi sẽ không bao giờ có thể chấm dứt cuộc chiến này.”

Cả cô bác sĩ người Sài Gòn mới tốt nghiệp đại học trước đây vài tháng cũng không có ảo tưởng: “Cái chết đã bao vây chúng tôi, và nó mạnh hơn chúng tôi. Cái chết xung quanh đã trở thành một sự tự nhiên đối với tôi. Nó làm cho tôi buồn, nhưng nó không còn lay động tôi được nữa. Tôi không chờ đợi điều gì khác, và tôi muốn phải chịu đau đớn càng ít càng tốt.” Cô gái 24 tuổi tập trung hoàn toàn vào công việc của cô và vào cuộc sống từ ngày này sang ngày khác, “làm đến đâu ăn đến đó” như cô nói. Cô hợp tác với chính quyền Thiệu vì cộng sản nắm quyền thì “còn tồi tệ hơn nhiều nữa”.

Hai năm sau khi Hiệp định Ngưng bắn Paris được ký kết, hiệp định mà mới nó hòa bình cần phải được tái thiết lập tại Việt Nam, thống trị ở Sài Gòn vẫn là tình trạng vô vọng, bất lực và không lối thoát như từ trước tới giờ. Tất cả mọi ước ao hòa bình đều bị sự bất lực trước thực tế cuộc chiến bóp cho chết ngạt. Cuộc chiến, cái mà từ ngày 28 tháng Giêng năm 1973 không còn nữa trên chính thức, vẫn tiếp tục diễn ra một cách ác liệt không suy giảm, thậm chí còn tăng lên thêm nữa. Việt Nam đứng trước năm chiến tranh thứ 29. Vào ngày 19 tháng Mười Hai năm 1946, những người theo Hồ Chí Minh đã cho nổ tung nhà máy điện Hà Nội; cuộc nổi dậy chống chính quyền thuộc địa Pháp bắt đầu. Năm 1956, những người Pháp cuối cùng rút lui, năm 1973 những lực lượng quân đội cuối cùng của Mỹ rút lui. Giữa đó luôn có hòa bình được ký kết. Nhưng bây giờ thì cuộc Chiến tranh Việt Nam lấn thứ nhì đã chuyển liền mạch sang cuộc Chiến tranh Việt Nam lần thứ ba, sang cuộc “chiến tranh ngưng bắn” chết người, đã bị lãng quên hầu như hoàn toàn, cuộc chiến mà trong đó không có người da trắng, chỉ có người da vàng chết, chỉ còn có người Việt bắn nhau với người Việt.

Các thống kê, dù chúng có không chính xác cho tới đâu, để cho người ta nhận ra được quy mô đáng sợ của cuộc chiến tranh huynh đệ này: theo số liệu chính thức của chính phủ Sài Gòn, kể từ khi tuyên bố ngừng bắn đã có trên 250.000 người chết, bị thương hay được báo là mất tích. Trong đó chỉ riêng ở phía Nam Việt Nam là 28.000 người chết, 113.000 người bị thương và 15.000 người lính mất tích; thêm vào đó là 5600 người dân thường bị giết chết và 16.000 người dân thường bị tàn phế. Từ tháng Giêng 1973, con số được Bộ Thương binh giúp đỡ đã tăng lên gấp đôi. Con số góa phụ và con mồ côi vì chiến tranh đã tăng lên thêm 25%. Cứ tám phút thì có một người lính Nam Việt Nam tử trận hay bị thương. Cứ hai phút thì có một người Nam Việt Nam mất nhà cửa. Con số người tỵ nạn bị đuổi ra khỏi các thành phố, làng mạc và thôn ấp bởi chiến sự của cuộc chiến tranh ngưng bắn được ước lượng là 700.000 người.

Hiệp định Paris cho Việt Nam, ngoại trừ việc Mỹ chấm dứt ném bom, phá mìn các cảng biển Bắc Việt và rút quân, đã không có tác động gì. Tính toán hòa bình đáng giá Giải Nobel của Henry Kissinger xuất phát từ hai giả định mà cho tới nay đều không xảy ra. Thứ nhất: cuộc xung đột vũ trang để cho người ta lái vào những kênh chính trị và sẽ dẫn tới một cuộc tranh chấp chính trị trong lúc các hoạt động chiến đấu giảm xuống nhanh chóng; thứ nhì; cho tới khi giai đoạn chính trị này bắt đầu, quân đội Nam Việt Nam, vào giờ chót còn được nhét đầy trang thiết bị Mỹ, sẽ có khả năng ngăn chận thành công một cuộc xâm lấn quân sự tiếp tục của những người cộng sản.

Tây Ninh, ngày 10 tháng Giêng năm 1975
Tây Ninh, ngày 10 tháng Giêng năm 1975

Thế nhưng người ta hoàn toàn không hề cảm nhận được một chút gì từ tính sẵn sàng thương lượng, từ ý muốn gửi quân đội trở về doanh trại và gửi nhà ngoại giao ra đấu trường ở cả hai bên. Tất cả các phương cách để cùng nhau đổ bê tông cho cuộc ngưng bắn và để bắt đầu một cuộc đối thoại chính trị giữa chính phủ Sài Gòn và Việt Cộng, “Chính phủ Cách mạng Lâm thời”, đều không dẫn tới đâu.

Trong tháng Tư 1974, những cuộc gặp gỡ song phương ở St. Cloud gần Paris đã bị hủy bỏ, những cuộc gặp gỡ mà trong đó người ta bàn về việc hiện thực những điều khoản chính trị của hiệp định, về thiết lập một hội đồng hòa giải quốc gia và chuẩn bị bầu cử. Rồi trong tháng Sáu 1974, hai phe của cuộc chiến cũng hủy bỏ tất cả các cuộc tiếp xúc trong ủy ban quân sự chung, ủy ban mà đã được giao cho nhiệm vụ giữ vững việc ngưng bắn trên thực tế, đặc biệt là đường phân giới của những vùng được cả hai bên kiểm soát, của cái “da báo”. Qua đó, Ủy ban Kiểm tra và Giám sát Quốc tế (ICCS)  bị tê liệt hoàn toàn. Lần xâm chiếm toàn bộ tỉnh biên giới Phước Long, kết thúc vào ngày 7 tháng Giêng, không hề được mang ra bàn thảo trong hội đồng ICCS. Lời bình luận của một thành viên ủy ban người Iran: “Khi đến đây, tôi đọc Hiệp định Paris như một quyển Kinh Thánh. Bây giờ thì đã qua rồi. Tôi đã đánh mất niềm tin của tôi.”

Tổng thống Thiệu đã đánh mất thế chủ động trong hiệp định ngưng bắn, thế chủ động mà ông đã giật lấy về cho mình. Năm 1973, ông đã sử dụng toàn bộ quân đội và quyền lực nhà nước của ông để chống lại Hiệp định Paris, cái đã mang lại cho ông 145.000 người lính xâm lược của Bắc Việt và tròng quanh cổ ông sợi dây xích của sự cộng tác với “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”.  Cái phôi thai của một sự hiện diện chính thức của người cộng sản trong thân thể của miền Nam Việt Nam, do Kissinger và Lê Đức Thọ tạo nên, cần phải bị tiêu diệt bằng vũ lực càng sớm càng tốt.

Thiệu có bỏ lỡ cơ hội duy nhất để cho Nam Việt Nam sống còn như là một quốc gia phi cộng sản hay không? Có thể thuyết phục Hà Nội đẩy kế hoạch thống nhất bằng vũ lực vào trong ngăn kéo và cho phép có hai quốc gia Việt Nam – nhưng với điều kiện là Việt Cộng được chấp nhận như là một thế lực được đưa vào trong kết cấu chính trị của nhà nước Sài Gòn?

Rõ ràng là người Cộng sản chưa bao giờ từ bỏ hy vọng phất lá cờ của họ trên Sài Gòn và hoàn thành cuộc tái thống nhất theo di chúc của Hồ Chí Minh. Nhưng điểm nhấn trong hành động của họ kể từ ngày 28 tháng Giêng năm 1973 đã bị dịch chuyển đi thấy rõ:

Trong nửa đầu của năm 1973, Hiệp định Paris còn được chào mừng như là “chiến thắng to lớn”. Hà Nội và Việt Cộng chuẩn bị cho một thời kỳ đấu tranh chính trị kéo dài. Các khả năng hợp pháp của Hiệp định – hội đồng hòa giải, các quyền tự do, bầu cử – cần phải được tận dụng, niềm hân hoan hòa bình cần phải trở thành động cơ cho một “phòng trào rộng khắp”, “trên đường phố, trong nhà dân, ở trạm xe buýt, ở chợ, trong quán ăn, nhà máy, lớp học, trên đồng ruộng” – như được viết trong một chỉ thị từ Hà Hội. Một “giai đoạn mới”, với “vũ khí mới” và dưới “những điều kiện mới” đã bắt đầu. Câu khẩu hiệu là không trở về với “cuộc chiến của quá khứ”.

Đường lối thay đổi vào cuối năm 1973 đầu 1974. Kế hoạch hoạt động chính trị và thao túng Hiệp định Paris bị gạt bỏ. Quân đội lại nhận được mệnh lệnh “nắm lấy quyền chủ động”, vì “cách mạng chỉ có thể chiến thắng ở miền Nam bằng cách dùng bạo lực vũ trang”.

Trong mùa thu 1974 – điều này thể hiện rõ trong các văn kiện tịch thu được – những người cộng sản vứt bỏ hẳn các ràng buộc cuối cùng vào hiệp định ngưng bắn, như nó nằm trên giấy. Bây giờ thì phải đánh “khắp mọi nơi” và “tấn công liên tục với các đơn vị chính để giải phóng từng vùng đất một khỏi tay kẻ địch”, và qua đó “tạo nền tảng cho chiến thắng toàn vẹn”. Đó là lời tuyên bố chiến tranh mới. Vào ngày 8 tháng Mười, cột trụ cuối cùng mà Kissinger lúc trước đã cố công dựng lên cũng sụp đổ: Chính phủ Cách mạng Lâm thời tuyên bố rằng họ chỉ tiếp tục thương lượng với Sài Gòn sau khi “Thiệu và bè lũ của hắn” bị lật đổ.

(Còn tiếp)

Phan Ba dịch từ: http://www.zeit.de/1975/06/der-tod-hat-uns-eingekreist/komplettansicht

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s