Tù nhân của Việt Cộng (hết)

Jean-Louis Arnaud mời tới dự một buổi tiệc cocktail để mừng lần chúng tôi cùng nhau trở về Sài Gòn. Căn hộ thuê của anh trên đường Tự Do nằm đúng trên căn hộ mà năm 1951 tôi đã gặp lại “Pascha” Ponchardier ở trong đó. Jean-Louis được hai chị em người Việt đã già chăm sóc, hai người phụ nữ bình thường từ tầng lớp bình dân, những người có thể nấu ăn rất ngon và có phong cách đối xử rất thanh lịch. Lần nào tôi đến thăm người đồng nghiệp Pháp và anh ấy từ văn phòng vẫn còn chưa về, thì một trong hai chị em ngồi xuống với tôi và tiếp chuyện. Mãi sau khi Sài Gòn bị chiếm đóng bởi người Bắc Việt, Jean-Louis mới biết rằng chồng của một người phục vụ cho ông sống ở Hà Nội từ 1954 và thậm chí còn có một chức vụ quan trọng trong hệ thống của Đảng nữa.

Quán rượu trên đường Tự Do, 1969
Quán rượu trên đường Tự Do, 1969

Đến dự buổi tiệc cocktail này của người thông tín viên AFP có nhà báo, sĩ quan Mỹ chuyên về public relations, nhà ngoại giao và thành viên của Ủy ban Quốc tế Kiểm soát. Cả nhiều hóa thạch không thể thiếu được của thời thuộc địa Pháp cũng đến đó nữa. Jean-Louis đã chia sẻ một vài ngày đầy lo lắng với chúng tôi. Sau chuyến phiêu lưu trong “vùng giải phóng”, chúng tôi bị người Nam Việt tình nghi là đồng lõa với Việt Cộng, bị giữ và hỏi cung bốn giờ liền trong Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn. Thế như sự hăm dọa của phản gián Sài Gòn đã không mang lại kết quả gì. Khi nhân viên an ninh cho mang rượu vang đỏ và sandwiches đến cho chúng tôi, giống như trong một quyển tiểu thuyết của Simenon, thì chúng tôi biết rằng chúng tôi đã thắng trò chơi này. Đại sứ quán Đức và Pháp đã vận động cho chúng tôi ngay lập tức. Khi một loạt đồng nghiệp báo chí ganh tỵ tiếp tục trình bày chuyến đi thăm phi tự nguyện vùng giải phóng của chúng tôi như là một trò chơi đã được sắp xếp trước, thì cả điều đó cũng không làm gì hại được tới chúng tôi. Ngược lại, điều khiến cho chúng tôi lo lắng là số phận hai người tài xế và thông dịch viên Thanh của chúng tôi, người mà chúng tôi đã gửi về Lai Khê vào ngày đầu tiên bị bắt giữ. Họ đã biến mất và bị nhét vào trong một phòng giam ở đâu đó của thủ đô. Còn phải cần thêm một vài ngày nữa, trước khi họ bất thình lình lại được trả tự do sau vô số lần can thiệp ngoại giao tại các cơ quan Nam Việt Nam, sau sự can thiệp của các đại sứ quán cũng như của CIA, và lại ngoác miệng cười tiếp tục công việc của họ, cứ như là chẳng có gì xảy ra cả.

Trời mưa trên Sài Gòn. Các cô gái bán dâm được những người anh em hay những tên ma cô chở xe gắn máy thả xuống trước các quán rượu của đường Tự Do, vì giờ của tội lỗi đang nhích đến gần. Họ kéo những chiếc váy cực ngắn lên đến tận rốn, tìm cách bảo vệ lớp son phấn dầy trên mặt và lông mi giả trước hơi ẩm bằng những cái túi nhựa. Tôi say sưa nhìn sự nhộn nhịp của khu trung tâm mua sắm và giải trí của Sài Gòn. Tôi vẫn còn có cảm giác mình như một người khách từ một hành tinh khác. Thật khó mà có thể tưởng tượng được rằng có một đạo quân của những con người khắc khổ, không khoan nhượng đang đứng chờ đến thời điểm của nó ở trong rừng rậm, cách cái thành phố lớn nhẹ dạ, phung phí, dường như là vô tư này và ba triệu người dân của nó chưa đầy 70 ki-lô-mét, có thể nói là đã sẵn sàng để chấm dứt sự hào nhoáng giả tạo này của tội lỗi và tiêu thụ.

Tôi bị lôi ra khỏi dòng suy nghĩ của mình bởi một tiếng nói quen thuộc mang giọng Đông Âu. “Tôi đã hy vọng là có thể gặp được anh ở đây”, Laszlo nói, và chúng tôi vui mừng vì đã tái ngộ. Tôi biết người Hungary này từ Paris, nơi mà trong những năm trước đây ông thỉnh thoảng đã chào mời chúng tôi những cuốn phim tài liệu từ vùng do cộng sản thống trị của Lào. Các nhà báo khối Đông Âu có thể đi lại tự nhiên ở phía bên kia với nhiều sự dễ dãi. “Anh làm phóng viên cho đài truyền hình Hungary ở đây à?” tôi hỏi. Nhưng anh ấy phủ nhận với một động tác hoa mỹ. “Tôi là thành viên của Ủy ban Quốc tế và được hưởng đặc quyền ngoại giao”, anh cười to, “anh biết đấy, người Ba Lan với người Hungary đại diện cho nhóm quốc gia xã hội chủ nghĩa trong cơ quan này. Nè”, anh ấy thêm vào sau khi nhìn quanh một vòng, “tôi phải nói chuyện riêng với anh một chút.”

Chúng tôi đi đến gần cửa sổ. Trên lề đường ở phía dưới chúng tôi, hai phiên bản hết sức đặc biệt của cuộc sống Sài Gòn về đêm đang diễu bước qua. “Các đại diện chính thức của thế giới xã hội chủ nghĩa giữ gìn đạo đức cho tới đâu ở Sài Gòn?”, tôi hỏi anh chàng người Hungary. Laszlo không phải là một người chống lại các thú vui. “Chúng tôi có một đại tá kiểu như một người cha già, rất biết điều. Sau khi tới Nam Việt Nam, ông ấy đã triệu tập chúng tôi lại và nói rằng: ‘Các đồng chí, tôi biết là ở đây người ta không cưỡng lại được sự cám dỗ, và tôi cũng hoàn toàn không chờ đợi điều đó. Nhưng các anh phải luôn luôn nghĩ rằng, khi các anh ăn nằm với một trong số những người con gái Việt Nam xinh đẹp này thì các anh đang góp phần nuôi dưỡng gia đình của cô ấy, rằng về cơ bản thì cô ta là một người rất đáng kính trọng.'” Trên lĩnh vực đạo đức xã hội chủ nghĩa, Chủ nghĩa Cộng sản thực dụng từ Budapest dường như nổi bật lên bởi một đặc tính rất người.

“Anh chờ một gói hàng phải không?” Laszlo hỏi khi chúng tôi đứng đó một mình. Anh ấy biết về những thỏa thuận của tôi với Việt Cộng, và biết rằng tôi rất nóng lòng muốn nhận nhận được số phim đó. “Chúng tôi sẽ lo sao cho anh nhận được phim của anh.” Ở sân bay Tân Sơn Nhứt của Sài Gòn, “Mặt trận Giải phóng” có một khu lãnh thổ riêng từ khi hiệp định ngưng bắn ở Paris được ký kết, được gọi một cách nhiều ý nghĩa là Camp David, nơi ban liên lạc của họ hưởng tính miễn trừ và đặc quyền ngoại giao đối với chính phủ Nam Việt Nam. Ở đó, các sứ giả của Việt Cộng thường xuyên tổ chức họp báo cho các thông tín viên Phương Tây. “Cứ đi đến lần họp báo kế tiếp của Mặt trận Giải phóng trong Camp David”, Laszlo khuyên tôi. “Phát ngôn viên báo chí, Thiếu tá Phuong Nam đang chờ anh, nhưng ông ấy sẽ không đưa gì cho anh đâu. Đó là chỉ để đánh lừa mật vụ Nam Việt Nam thôi. Tôi sẽ đích thân giao phim cho anh ngay khi chúng được gửi đi từ Lộc Ninh.”

Cổng trại David, 1973
Cổng trại David, 1973

Tuy Thiếu tá Phuong Nam chào mừng tôi đặc biệt nồng nhiệt trước căn nhà của ông ở phi trường, nơi báo chí quốc tế được đưa tới trong một chiếc xe buýt sơn xám, nhưng ông không nói từ nào về ý muốn của tôi. Cộng tác viên của chúng tôi, Tin, người đã can đảm đấu tranh để Thanh cháu của ông được trả tự do, cũng cùng đến Camp David. Sau khi đọc bản thông cáo, ông hỏi người sĩ quan báo chí của Mặt trận Giải phóng, rằng điều gì sẽ xảy ra với ông, một cộng sự rõ rệt của chính quyền Thiệu, một khi người cộng sản nắm quyền ở Sài Gòn. “Chúng tôi sẽ đưa cho ông sách tốt để đọc và hy vọng ông thay đổi quan điểm”, viên thiếu tá niềm nở nói.

Cuối cùng, ba ngày sau đó, Laszlo phát đi tín hiệu đã thỏa thuận trước trong nhà hàng “Atabea”. “Gói hàng đã về đến rồi”, anh nói. “Tôi sẽ đến Đại sứ quán Đức trên đường Võ Tánh vào ngày mai vào lúc mười một giờ. Anh hãy có mặt ở đó trước hai giờ đồng hồ, để những người giám sát anh bớt chú ý. Tất cả những điều khác là việc của anh.” Đại sứ Đức lúc đó ở Sài Gòn là một con người lịch sự của trường phái cũ và có tiếng mà một người siêu bảo thủ. Nhân bài diễn văn chào mừng năm mới, ông đã long trọng bày tỏ với tổng thống Thiệu ở Sài Gòn niềm hy vọng vào chiến thắng của miền Nam. Khi tôi nhờ ông cho chuyển số phim từ vùng Việt Cộng qua con đường ngoại giao về Bonn, ông không ngần ngừ tới một giây và đồng ý ngay lập tức. Đúng mười một giờ, một chiếc limousine màu đen long trọng với lá cờ xanh nước biển của Ủy ban Kiểm soát rẽ vào sân của Đại sứ quán Đức. Tôi đã báo trước cho người gác cổng Arno Knöchel, từng là lính lê dương, là phải mở cổng ngay lập tức để không bị chậm trễ. Laszlo bước ra khỏi ô tô và được mời vào trong văn phòng của đại sứ, nơi mà tôi cũng đang ngồi uống trà. Người Hungary đó mang theo một cái túi lớn màu đen mà ông dường như vô tư đặt xuống một góc phòng. Ông đại sứ Đức mở đầu cuộc trao đổi với những điều chung chung, kể về những quan hệ họ hàng riêng ông với đất nước của những người Hungary.

Laszlo cũng nói chuyện phiếm ở hạng cao cấp. Cuộc trao đổi những điều lịch sự đó kéo dài khoảng mười lăm phút. Rồi cuộc diện kiến chấm dứt, Laszlo từ giã và được tiễn ra cửa. Chiếc limousine chạy đi mất. Cái túi nhựa còn lại ở trong góc của văn phòng đại sứ. Nó chứa đầy những cuộc phim và băng ghi âm của chúng tôi. Người chuyển thư kế đến đã mang lô hàng đó về đến Bonn mà không gặp phải sự cố nào.

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s