Tù nhân của Việt Cộng (phần 4)

Vào buổi sáng ngày hôm sau, ông giới thiệu với chúng tôi hai người tháp tùng mới. Người già hơn là thiếu tá Tac, một người Bắc Việt trông hiền hậu như một người cha và là sĩ quan mặt trận, người được các cơ quan cách mạng ở Lộc Ninh cử đến với chúng tôi. Ít có thiện cảm hơn là trung úy Trung, người có lẽ thuộc mật vụ Bắc Việt, được gửi đến Cuba thông qua Liên bang Xô viết và hẳn là đã được đào tạo trong cái nghề đáng ngờ của Intelligence và Counter Intelligence ở trên hòn đảo của vùng Caribbean. Trong một trường đào tạo điệp viên của Fidel Castro, ông cũng đã dự một khóa học tiếng Mỹ cấp tốc. Tôi có một mối nghi ngờ không mấy dễ chịu, rằng trung úy Trung chắc hẳn đã phải có nhiều kinh nghiệm trong việc hỏi cung những người lính Mỹ bị bắt giữ, và thật không muốn anh là người chủ ngục của tôi. Thế nào đi chăng nữa thì anh ta cũng nói tiếng Mỹ bằng một giọng mũi như trong biếm họa, không chấm dứt một câu nói nào mà không có từ “O.K” đi kèm, và đối xử với chúng tôi giống như một người hướng dẫn du lịch không thể chịu đựng được của American Express. Khi anh ta quá nhanh nhẩu, chúng tôi lại yêu cầu anh nên giữ đúng khuôn khổ. Thế rồi anh ta lại miễn cưỡng xin lỗi. Chúng tôi khuyên anh nên nói một giọng Anh văn minh hơn.

Một ngôi làng nằm trong vùng giải phóng năm 1973. Hình: Rene Burri
Một ngôi làng nằm trong vùng giải phóng năm 1973. Hình: Rene Burri

Chúng tôi được mời đi tham quan và quay phim một dãy đất của “vùng giải phóng”. Trước lúc khởi hành còn có một người thợ may của quân đội xuất hiện để đo may cho chúng tôi. Ngay cả khi hết sức siêng năng giặt giũ, bộ quần áo duy nhất của chúng tôi luôn đầy mồ hôi và dơ bẩn. Chúng tôi được chở đi trên một chiếc xe tải Nga kiểu ZIL và một chiếc Jeep Trung Quốc. Chúng tôi chạy khoảng 30 ki-lô-mét theo hướng tây bắc về An Lộc. Các chiếc xe cực nhọc đi xuyên qua một vùng đất không người bị bom đạn tàn phá mà thiên nhiên vùng nghiệt đới đã lại trải một tấm áo choàng độ lượng màu xanh lên trên đó. Đích đến của chúng tôi là ngôi làng Minh Hoa, nơi mà ngày xưa các chủ đồn điền người Pháp cho những người cu li cao su của họ ở đó. Sau những ấn tượng quân sự đầu tiên mà chúng tôi có được từ quân đội giải phóng, những người hướng dẫn chúng tôi cũng muốn phô diễn khu vực dân sự. Chúng tôi đi về hướng biên giới Campuchia, vào trong một của những vùng hiếm hoi đó, nơi mà một cuộc sống hành chánh tương đối bình thường ở bên phía cộng sản đã đi vào hoạt động. Ở đây, đợt tấn công dịp Phục Sinh của người Bắc Việt trước đây một năm đã được tiến hành bất ngờ cho tới mức người dân thường bị tràn ngập. Vào thời điểm bắt giữ chúng tôi, người cộng sản đã kiểm soát nhiều vùng rộng lớn của Nam Việt Nam. Nhưng chỉ năm phần trăm dân số – khoảng một triệu người – là sống trong những “vùng giải phóng” ngoại vi và hoang vắng này. Hạ tầng cơ sở quân sự được nhanh chóng mở rộng, kể từ khi hiệp định ngừng bắn Paris trên thực tế là đã hợp pháp hóa sự hiện diện của ít nhất là 150.000 người lính chính quy Bắc Việt ở phía Nam của vĩ tuyến 17. Main Force thật sự của Việt Cộng miền Nam Việt Nam đã giảm xuống còn tròn 50.000 người vì bị hao mòn qua nhiều năm trời. Như các tùy viên quân sự Phương Tây ở Sài Gòn khẳng định với chúng tôi sau khi chúng tôi trở về, chúng tôi đã ở trong phân đoạn của Sư đoàn 7 hay Sư đoàn 9 Bắc Việt.

Trên đường đi, chúng tôi gặp những người dân thường đầu tiên. Họ phải chịu đựng thiếu thốn vì chiến tranh nhiều hơn là những người lính. Các cây cầu đã bị đánh bom và được thay thế bằng những cây cầu tạm bợ hay những chỗ cạn được đổ bê tông. Chúng tôi không nhìn thấy chiếc ô tô nào. Ngược lại, chúng tôi thường hay gặp quân nhân hay nông dân đẩy những chiếc xe đạp chất đầy đồ đi ở bên cạnh họ. Trong trận Điện Biên Phủ, các du kích quân Việt Minh đã chuyên chở có cho tới 500 kí-lô trên một chiếc xe đạp.

Đối với tròn 800 người dân của ngôi làng Minh Hoa thì lần tới thăm của chúng tôi là một sự kiện gây náo động. Kể từ khi quân đội cách mạng tiến vào, họ không còn nhìn thấy người da trắng nào nữa. Các công nhân đồn điền cao sư trước đây trông tiều tụy và tả tơi. Giới quân đội mặc quân phục xanh từ miền Bắc có tiếng nói quyết định, và những bài hát đấu tranh với những câu khẩu hiệu anh hùng vang ầm ra từ những cái loa qua con đường chính trống vắng. Trước một ngôi nhà tre, được dựng lên đặc biệt cho chúng tôi, chúng tôi được các cán bộ Đảng và quân đội chính thức chào mừng. Chúng tôi cười thân thiện và giới thiệu lẫn nhau. Thiếu tá Quoc là người chịu trách nhiệm cho tuyên truyền, thiếu tá Hoang là chỉ huy của tiểu đoàn đóng ở Minh Hoa. Nụ cười thoát ra khỏi hàm răng của ông cực nhọc nhất khi ông nghe rằng chúng tôi đến từ Tây Đức. Đại úy Thien là phóng viên của báo quân đội. Giữa người quay phim, trung úy Diet, và đội của chúng tôi đã thành hình thiện cảm đồng nghiệp ngay lập tức. Người tháp tùng đặc biệt của chúng tôi, Trung với khóa đào tạo ở Cuba, trong giọng nói tiếng Anh thật cứng của anh ta, giới thiệu chúng tôi với các thành viên dân sự của bộ máy hành chánh cách mạng. Trong số đó, chúng tôi chú ý tới Madame Nam, một nữ đồng chí đầy nghị lực và toát ra một vẻ uy quyền không khoan nhượng. “Chúng tôi muốn chào mừng các anh như là những người bạn từ nước ngoài, từ châu Âu”, thiếu tá Quoc chấm dứt bài phát biểu ngắn của ông, và chúng tôi vỗ tay. Tôi cũng nói một vài câu ngắn bằng tiếng Anh, được thu lại trên băng ghi âm và – như sau này tôi biết được – được đài phát thanh của Mặt trận Giải phóng phát đi ngay trong tối hôm đó. Tôi nói về việc Phương Tây khâm phục tính dũng cảm của những người du kích quân và những nhà cách mạng Việt Nam, và chúc đất nước bị chiến tranh tàn phá này mau chóng có được hòa bình và tái thiết. Là người Đức và là người dân của một quốc gia bị bắt buộc phải chia cắt, chúng tôi thông hiểu sâu sắc yêu cầu tái thống nhất của người Việt. Tất cả chúng tôi lại vỗ tay và nhìn nhau mỉm cười. Nhưng câu nói về việc tái thống nhất đã bị cắt ra khỏi chương trình phát thanh chiều tối, chắc hẳn là vì phải lưu tâm đến những người bạn và người bảo hộ từ Đông Đức.

Vào buổi chiều, người thợ may mang y phục mới đến cho chúng tôi. Tấm khăn choàng màu xanh nước biển và màu xanh lá cây khiến cho người ta nhớ tới đồng phục mùa hè của cảnh sát Bulgaria. Khi mặc áo khoác và quần vào, chúng tôi cười rung rinh cả người. Hoặc là lưng quần chật tới mức chúng tôi không cài nó lại được, hoặc là nó mở rộng ra thành một quả bóng. Không thể xỏ vào tay áo mà không làm rách tung đường may ở lưng, và ống quần làm cho chúng tôi không thể cử động được. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn cảm động vì được quan tâm tới và quyết định choàng những bộ quần áo lố bịch đó vào người như là quần áo ngủ, trước khi leo lên võng vào ban đêm.

Vào buổi sáng ngày hôm sau, chúng tôi tham dự một buổi mít tinh chính trị ở Minh Hoa. Mỗi một gia đình cử đến ít nhất là một thành viên. Người sếp chính quyền cách mạng là một người chiến đấu bí mật lâu năm với một gương mặt to béo. Ông kêu gọi nâng cao sản xuất nông nghiệp và “tự lực” xây dựng, điều mà người thông ngôn của chúng tôi dịch là self reliance. Cả việc chuẩn bị cho ngày Quốc Khánh sắp đến, ngày 2 tháng Chín, ngày Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập, cũng được bàn đến. Bầu không khí của buổi mít tinh này nặng nề và gượng gạo. Những câu khẩu hiệu muôn năm được hô lên với nét mặt đông cứng. Một người đàn ông già, tóc bạc, tuyên bố như một người máy rằng cả làng sẽ sẵn sàng tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không một dấu vết nào của sự hân hoan cách mạng.

Nông Dân Trong  Vùng Giải Phóng 1973. Hình: Rene Burri
Nông Dân Trong Vùng Giải Phóng 1973. Hình: Rene Burri

Chúng tôi nghe được tiếng cười đầu tiên ở rìa của đồn điền cao su. Những người đàn bà và các cô gái rạch cây cao su và kiểm soát những cái chén gỗ và mủ màu sữa đục chậm chạm tụ lại ở trong đó. Những người Pháp trồng cao su đã có thể kịp thời chạy về Sài Gòn. Bây giờ thì chính quyền của Mặt trận Giải phóng hầu như không biết phải làm gì với sản lượng cao su nhỏ bé này. Không có khả năng xuất khẩu. Các nữ công nhân cao su trẻ tuổi từ miền Nam cười khúc khích quan sát những người lính cách mạng đang cố gắng trồng rau và khoai mì trên loại đất đá ong cằn cỗi này. Thái độ vui vẻ của những người phụ nữ này dường như làm cho các anh chàng bộ đội cảm thấy không được tự tin.

Trong một ngôi nhà kho rộng rãi được lấy làm trường học, trẻ em của Minh Hoa đang chờ chúng tôi đến thăm và chờ chúng tôi quay phim. Đó là một lớp học hoạt bát và vui vẻ. Hẳn là trẻ em đã làm quen nhanh hơn với nhịp điệu xã hội chủ nghĩa của thời kỳ mới. Chúng tôi cho người dịch lại lời một bài hát của các em: “Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ”, các em hát như vậy, “râu Bác dài tóc Bác bạc phơ. Bác mỉm cười Bác khen em ngoan, Bác gật đầu Bác khen em ngoan.”

Bên cạnh trẻ em, người cộng sản đặc biệt xem phụ nữ trẻ tuổi trong các vùng “giải phóng” như là những người hỗ trợ tiềm năng cho cách mạng. Trong một trường dành cho người trưởng thành, các nữ công nhân trẻ tuổi học đọc và viết. Bên cạnh những khóa học Mác-xít cấp tốc, vinh quang tư tưởng dân tộc Việt Nam cũng thuộc vào các đề tài thống lĩnh. Các cô gái viết chính tả vào những quyển vở của họ về lịch sử thành hình dân tộc Việt trong huyền thoại, truyền thuyết về Vua Hùng và Hoàng hậu Âu Cơ, mà từ thủa xa xưa, năm mươi người con trai và năm mươi người con gái đã ra đời từ một trăm cái trứng – tương tự như hạt giống rồng của Cadmus.

Vào buổi chiều, những người lính chơi bóng đá, và dân chúng đứng xem. Thậm chí người ta còn dàn cảnh cho chúng tôi xem một cuộc diễn tập bộ binh nhỏ với những khẩu AK-47 không thể thiếu và súng bazooka loại B-40 đã qua được thử thách. Mặc cho mọi tò mò, chúng tôi không hề nhìn thấy vũ khí hạng nặng. Chỉ một lần ở bìa rừng, chúng tôi phát hiện được dấu xích của hai chiếc xe tăng. Trong lúc đánh bằng lưỡi lê, kẻ thù được thể hiện qua một con búp bê bằng rơm dưới một cái nón của Mỹ.

Vào buổi tối, những người tháp tùng chúng tôi tỏ vẻ bồn chồn. Có một cái gì đó giống như tiệc mừng đang sắp đến. Chúng tôi đã ở chỗ Việt Cộng một tuần rồi, và chuyến đi dã ngoại không tình nguyện của chúng tôi tiến gần tới kết thúc.  Chúng tôi đã quay những mét phim cuối cùng. Những cái bình ắc-quy, đã chống chọi lại được với cái nóng bức và ẩm ướt một cách tuyệt vời, đã cạn. Đại úy Tac và trung úy Trung đã mang lại cho chúng tôi một bữa ăn tối thịnh soạn: canh gà có thịt, cơm, cá mòi hộp Ma-rốc và một ổ bánh mì, nhưng trong đó đầy giòi. Hoàn toàn bất ngờ, Trung bất chợt phù phép ra hai chai rượu vốt-ka. Rượu vốt-ka này xuất phát từ Hà Nội, được nấu bằng gạo, và bên cạnh nhãn hiệu Việt có một hàng chữ Nga. Chúng tôi đã mặc đồ ngủ của chúng tôi. Hai viên sĩ quan đang vội. Họ dọn bàn và lau chùi thức ăn vương vãi. Chúng tôi luôn ngạc nhiên khi thấy các cấp chỉ huy của “Quân đội Giải phóng” không hề ngần ngại trước những công việc làm thấp kém nhất, và cũng còn tham gia mang vác thiết bị quay phim của chúng tôi nữa. Bây giờ, Tac căng thẳng nhìn vào bóng tối của rừng rậm. Những con đom đóm đã bắt đầu nhảy múa. Bất thình lình có tiếng ồn của một động cơ. Một chiếc xe Jeep xuất hiện từ trong bóng tối. Hai sĩ quan già của Quân đội Giải phóng leo ra khỏi chiếc xe và bước vào căn nhà của chúng tôi.

Chúng tôi không bao giờ biết được cấp bậc của họ. Có lẽ họ đứng ở hàng đại tá, và một người thì tương đối chắc chắn là một cadre supérieur – một chính ủy ở cấp cao. Cả hai đều xuất hiện hết sức tự tin và tự giới thiệu mình là Tung và Hung. Đó chắc chắn là bí danh, vì danh tánh thật sự được giữ bí mật tuyệt đối trong tổ chức du kích Nam Việt. Tung có một nét giống với viên tướng Giáp tổng chỉ huy hoạt bát ở Bắc Việt Nam, trong khi Hung với một ít tưởng tượng thì tương ứng với kiểu khắc khổ của người sếp chính phủ Hà Nội, Phạm Văn Đồng. Chúng tôi hy vọng có một cuộc trao đổi thông tin chính trị cấp cao, thế nhưng đã thất vọng. Ngược lại, Tung và Hung rất sẵn sàng kể chuyện về cuộc đời của họ. Một người đã đứng trong cuộc đấu tranh bí mật từ 27 năm nay – ông bây giờ 47 tuổi –, người trẻ tuổi hơn cũng đã tham gia đấu tranh trước đây 20 năm. Rõ ràng là thời gian đáng sợ này đã không làm cho họ kiệt sức. Họ nói đặc biệt nhỏ giọng, và nụ cười không bao giờ rời đôi môi của họ. Những gì tồi tệ nhất thì đã vượt qua được rồi, họ xác nhận, từ khi những người du kích quân không còn phải sống dưới mặt đất cả ngày lẫn đêm như những con chuột nữa. mặc dù vậy, cuộc chiến này đã thử thách họ thật đáng sợ. Họ đã xa rời gia đình họ, từ các thành phố Nam Việt Nam Cà Mau và Cần Thơ, từ nhiều năm nay rồi. Hung không biết hai đứa con gái của ông giờ này ra sao. Tung mất một người con trai trong chiến tranh; một người thứ nhì đã bị thương nặng. “It is a dignity and a glory”, thông dịch viên Trung dịch lại. Rồi cả hai người đại tá biến mất, cũng bất thình lình như khi họ đến. Họ trở về trong nguyên tố sống thật sự của họ trong hai mươi nắm vừa rồi, trở về trong bóng tối và rừng rậm.

Chúng tôi trở về với hậu cứ ban đầu của chúng tôi ở gần Quốc lộ 13 và chuẩn bị vượt qua đường ranh. “Cha Albert” với nụ cười rụt rè và tốt bụng của ông lại đến với chúng tôi. Chúng tôi lo rằng chắc chắn chính quyền Sài Gòn sẽ tịch thu số phim của chúng tôi ngay khi chúng tôi xuất hiện. Liệu chúng tôi có thể để cho phim chuyển qua Lộc Ninh, Hà Nội, Bắc Kinh và Moscow sang Tây Âu được không. Nhưng lời đề nghị này chỉ tạo nên sự vui nhộn ở các du kích quân. “Chúng tôi sẽ tìm được cách giao phim cho các anh ở Sài Gòn mà không bị hư hại”, Cha Albert lạc quan nói. “Nhưng rồi thì các anh phải tìm cách mang lậu phim đó ra khỏi Nam Việt Nam mà không bị kiểm soát. Chúng tôi sẽ báo tin cho các anh ngay khi các anh về tới Sài Gòn an toàn.”

Vẫn còn là ban đêm, khi chúng tôi đi ngược trở lại bảy ki-lô-mét đó giữa cứ điểm và Quốc lộ 13. Lính vũ trang đầy đủ tháp tùng chúng tôi. Lần này thì họ xuất hiện để bảo vệ chúng tôi. Buổi sáng nhợt nhạt và xám xịt. Chúng tôi tới cái cổng Việt Cộng đáng ngờ đó ở cạnh Quốc lộ 13, và nấp trong bụi rậm của cái dốc. Với tính chính xác kì bí, cả hai chiếc xe limousine của chúng tôi cũng có ở đó cùng với tài xế, những người mà bảy ngày nay chúng tôi đã không nhìn thấy. Các tài xế có vẻ được ăn uống đầy đủ. Hai chiếc ô tô một phần vẫn còn được phủ bằng cành lá ngụy trang. Trong làn sương mù sáng sớm, trực thăng Nam Việt Nam bay phành phạch ở phía trên chúng tôi hướng về phía bắc và tiếp tế cho căn cứ An Lộc bị bao vây. Đại úy Tac nhảy lên đường nhựa. Ông dùng súng chỉ vào đoàn xe gắn máy, cái mà vào buổi sáng này cũng đến từ Chơn Thành, đang chạy đến hướng chúng tôi rất đúng giờ. Cha Albert chạy vội đến với chúng tôi trong ánh mắt chập chờn hồi hộp. “Những người lái xe Honda này là đội bảo vệ tốt nhất của các anh, nếu như các anh muốn chạy vượt qua đường ranh về với quân đội Sài Gòn”, ông thì thào; “nếu như các anh một mình với hai chiếc ô tô của các anh trên đường thì có các an có nguy cơ sẽ bị phía bên kia nhắm bắn. Các anh hãy chen chen vào những người đi qua ranh giới này với xe của các anh!” Chúng tôi ôm choàng lấy nhau như những người bạn cũ. Tôi cũng ôm choàng lấy người đại úy Tac. Đó là một khoảnh khắc xúc cảm thật sự. Ngược lại, tôi chỉ chìa tay ra cho con người phiên dịch trẻ tuổi từ Cuba. Được kẻ thù giai cấp ôm hôn đối với ông ấy hẳn là một việc hết sức ngượng ngùng.

Tac mở cửa ô tô và khích lệ các tài xế của chúng tôi. Chúng tôi vòng qua bức tường đất ở dưới cổng, mà trong đó có mìn chống tăng, và chạy rầm rầm qua một con hào đi về hướng tiền đồn của Nam Việt Nam. Những chiếc xe Honda từ Chơn Thành chạy lạch cạch ở bên phải và bên trái chúng tôi. Chúng tôi bỏ đường biên giới của vùng Việt Cộng và chiếc cổng danh dự ở lại phía sau chúng tôi còn chưa được một ki-lô-mét thì đã bị những người lính Sài Gòn la hét dữ dội chận lại. Họ đội nón sắt của Mỹ và áo chống đạn. Họ cầm khẩu M-16 đã lên đạn và bắn chỉ thiên khi những người tài xế của chúng tôi không thắng lại ngay lập tức. Ba người lính dồn lên ghế bên cạnh chúng tôi. Họ rất kích động và chỉa súng vào chúng tôi. Dần dần, bầu không khí bớt căng thẳng. Bây giờ chúng tôi được những chiếc Jeep của quân cảnh tháp tùng ở phía trước và phía sau, và rẽ vào một vị trí đóng quân của một trung đoàn có lá cờ Nam Việt Nam đang bay ở trên đó. Một thiếu tá nhảy dù trong bộ quân phục được cắt may hết sức thanh lịch đang chờ chúng tôi. Ông ấy gầy nhom và thắt một cái khăn màu xanh nhạt ở cổ áo. “Mặc dù vậy cũng xin được phép chào mừng các anh ở đây”, viên thiếu tá chào. “Chắc các anh cũng đã ngán ăn thịt chuột lắm rồi, vì ở bên phía cộng sản thì chắc không có gì tốt hơn thế đâu.” Ông ấy đưa cho mỗi người chúng tôi một chai Coca-Cola được ướp lạnh. Cả một tuần liền, chúng tôi đã mơ ước có Coca-Cola ướp lạnh – trong lúc đang uống thứ nước ấm của chúng tôi –, vâng cái thức uống của Mỹ đó mà bình thường ra thì chúng tôi không hề ưa thích đã trở thành một sự tưởng tượng bắt buộc. Bây giờ thì chúng tôi thèm thuồng dốc ngược chai nước lên, nhưng thứ nước màu nâu đó có một vị thật nhạt.

(Còn tiếp)

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s