Tù nhân của Việt Cộng (phần 2)

Chúng tôi bị đánh thức dậy bởi tiếng gà cục tác và tiếng gọi của lính canh. Trong đêm, hẳn là lực lượng canh giữ chúng tôi đã trao đổi vô tuyến với bộ tổng chỉ huy các lực lượng cách mạng ở Lộc Ninh. Một cô y tá trẻ măng với tấm băng đeo hồng thập tự đến chăm sóc cho chúng tôi. Mỗi người chúng tôi phải dùng nước nóng, mà người ta đưa cho chúng tôi do thiếu trà, để uống một viên thuốc Chinin. Như sau này chúng tôi biết được, phần lớn tổn thất trong số người Bắc Việt đều có nguồn gốc từ sốt rét. Trong tô canh còn có cả một miếng thịt bé tí hon bơi ở trong đó nữa. Viên đại úy nói với chúng tôi, rằng chúng tôi sẽ bị giữ ở lại với Mặt trận Giải phóng ít nhất là thêm một vài ngày nữa. Vì chúng tôi không có xà phòng, vật dụng cạo râu, khăn tay, nón lẫn thức ăn nên ông muốn cho người đi tìm mua những thứ cần thiết cho chúng tôi. Chừng ba giờ nữa, đoàn xe Honda hàng ngày về Lai Khê sẽ khởi hành. Ông muốn gửi người thông dịch Thanh của chúng tôi về Quốc lộ 13, và chúng tôi cần phải ghi lại cho anh ấy những thứ gì chúng tôi cần và đưa tiền cho anh ấy. Rồi vào buổi chiều, Thanh sẽ trở về với đoàn xe.

An Lộc, 1972
An Lộc, 1972

Tôi lấy một tấm danh thiếp ra, nhưng thay vì những thứ cần thiết thì tôi ghi trên mặt sau: “We are prisoners of the Vietcong near Road 13. Please prevent immediately German Embassy in Saigeon for liberation. Help!” Khi tôi thì thào đọc những hàng chữ đó cho Jean-Louis, anh ấy buồn cười nhất là ở từ cuối cùng. “Anh xem nhiều phim Beatles quá rồi đấy”, anh ấy nói. Tôi nhắc đi nhắc lại cho Thanh rằng hãy trở về Sài Gòn ngay tức khắc, và báo động cho tòa đại sứ Đức và Pháp ở đó biết. Tôi bảo anh nên tránh cảnh sát Nam Việt Nam. Dù trong bất cứ trường hợp nào thì anh cũng đừng nên trở về với phía Việt Cộng. Mưu mẹo này thànnh công. Bịp được những kẻ âm mưu chuyên nghiệp trong giới đấu tranh bí mật ở Việt Nam thì thật là một điều làm cho tôi hài lòng một ít.

Vào buổi trưa, chúng tôi được chuyển sang một nơi mới. Bây giờ, chúng tôi sống trong một trại lớn ở trong rừng, là vị trí hậu cần và nghỉ ngơi ở tuyến đầu của một tiểu đoàn người Bắc Việt. Họ thay nhau ở đó hàng tuần. Mặt trận thật sự cách xa nhiều lắm là năm ki-lô-mét, và chúng tôi nghe được tiếng súng pháo binh vào ban đêm. Việt Cộng là bậc thầy trong việc ngụy trang. Từ trên không, chắc chắn là không nhận ra được trại của chúng tôi. Những ngôi nhà lá dẫn chuyển tiếp xuống các hang động dưới mặt đất, là nơi trú ẩn tránh đạn pháo trong trường hợp khẩn cấp cho chúng tôi. Chúng tôi cột võng màu xanh lá cây bằng nylon và mùng của chúng tôi trong những con hào có mái che chống mảnh đạn. Thức ăn của quân đội giải phóng rất thanh đạm, viên đại úy để cho người thông dịch cho chúng tôi. Nhưng chúng tôi sẽ nhận được những thứ tốt nhất trong khả năng có được. Nước mà người ta đưa cho chúng tôi đã được nấu chín và không có mầm bệnh. “Chúng tôi sẽ không đòi hỏi nhiều”, tôi trả lời, chúng tôi thích ăn cơm, và nếu như chúng tôi có thêm được một ít nước mắm, thứ nước xốt làm từ cá ươn thông dụng trong đất nước này, giống như những người nông dân Việt Nam, thì chúng tôi đã rất hài lòng rồi. Viên đại úy ngượng ngùng: “Vâng, chúng tôi có đủ gạo, nhưng nước mắm đối với chúng tôi là một thứ xa xỉ không thể có được. Chúng tôi dùng nước muối để pha vào cơm.” Chúng tôi không được phép rời phạm vi của ba ngôi nhà đó, những ngôi nhà mà người ta phân cho chúng tôi hai người vào một nhà. Lính canh không rời mắt khỏi chúng tôi. Nhưng người ta đưa cho chúng tôi một cái ra-đi-ô bán dẫn, và một người lính trẻ tuổi từ Bắc Kỳ kể lại cho một người tài xế của chúng tôi, rằng anh ấy và đồng đội của anh thường xuyên nghe BBC. “Đài BBC không nói láo”, Việt Cộng nói như vậy. Tinh thần của chúng tôi không phải đang ở trên đỉnh cao. Căng thẳng hồi hộp của những giờ đầu tiên đã nhường chỗ cho một sự trầm cảm nào đó. Vào buổi chiều, một người sĩ quan gầy gò trông có vẻ nghiêm khắc bước đến với chúng tôi. Ông báo cho chúng tôi biết với giọng nói đầy khiển trách, rằng người thông dịch Thanh, thay vì mua đồ dùng cho chúng tôi và quay trở lại đây, hẳn là đã vội vã chạy về với “những tên bù nhìn” ở Sài Gòn để báo cáo. Điều này không có lợi cho chúng tôi. Chúng tôi quả quyết là chúng tôi vô tội, nhưng bây giờ thì cả hai tài xế người Việt, sợ sệt hơn chúng tôi rất nhiều, bị cách ly nghiêm ngặt, và chúng tôi không còn có khả năng để thông hiểu nhau nữa. Vào chiều tối, Josef Kaufmann tìm được làn sóng của BBC và rồi bất thình lình chúng tôi nghe được tiếng reo hò mừng rỡ của anh. Người đọc tin cho hay rằng một đội truyền hình Đức và một thông tín viên Pháp của AFP đã bị Việt Cộng bắt giữ. Ủy viên của Mặt trận Giải phóng đã tuyên bố rằng những người bị bắt có tình trạng sức khỏe tốt. Qua đó, chúng tôi bớt đi được nỗi lo âu lớn nhất, ở Sài Gòn người ta không nhận ra rằng chúng tôi đã biến mất. Chúng tôi chúc lành cho Thanh và không biết là vào thời điểm đó, anh chàng đáng thương này, bị quân cảnh Nam Việt Nam bắt được ở Lai Khê, đang ngồi trong một phòng giam ẩm ướt và sợ đến gần chết.

Hàng ngày vào buổi chiều chúng tôi nghe được tiếng đập bóng và tiếng cười nói của những người chơi bóng chuyền. Về đêm, người Bắc Việt hát những ca cách mạng. Có một bài khiến cho chúng tôi nhớ mãi, vì điệp khúc cứ lập đi lập lại vô tận: “Việt Nam, Hồ Chí Minh! Việt Nam, Hồ Chí Minh! Việt Nam, Hồ Chí Minh!” Người ta hầu như không quan tâm đến chúng tôi. Người ta mang thức ăn và chinin đến cho chúng tôi, và rõ ràng là đang chờ chỉ thị từ sở chỉ huy ở Lộc Ninh. Những lời quả quyết của chúng tôi, chúng tôi là nhà báo vô hại, và không muốn gì hơn là trở về khách sạn của chúng tôi ở Sài Gòn, chỉ gặp phải sự im lặng và những nét mặt lầm lì. Ngày thứ ba bắt đầu với linh tính không hay.

An Lộc, 1972
An Lộc, 1972

Vào sáng sớm ngày thứ ba, hai người lính dẫn chúng tôi tới một cái hố bom B-52 khổng lồ, đầy nước mưa trong vắt. Chúng tôi cởi bỏ quần áo đầy mồ hôi ra và tắm rửa, trong khi những người lính canh cầm sẵn sàng khẩu AK-47 của họ. Bước ngoặc lớn đến trong giờ nghỉ trưa oi bức. Một cái động cơ kêu ầm trong rừng rậm, một tiếng động hoàn toàn không quen thuộc. Một chiếc xe Honda đầy bùn dừng lại trước ngôi nhà của chúng tôi. Người lái xe chắc đã năm mươi tuổi và tuy mặc bộ quân phục màu xanh vẫn trông giống như một người dân thường. Ông bước đến ngay với chúng tôi, bắt tay chúng tôi và nhân danh “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam” mà chào mừng chúng tôi trong “vùng giải phóng”. Ông nói một thứ tiếng Pháp khá thanh lịch với giọng Việt nặng. “Xin lỗi là tôi đã đến muộn”, chính ủy Huyn Ba Tang nói và tự giới thiệu. “Đi lại giữa Lộc Ninh và trại này rất khó khăn trong mùa mưa. Nhưng tôi mang tin tốt đến đây. Các ông được ban liên lạc của chúng tôi ở Sài Gòn xác định đúng là nhà báo. Các ông không còn là tù nhân của chúng tôi nữa, mà được phép nhìn như là khách của chúng tôi. Nếu các ông muốn trở về Sài Gòn thì chúng tôi sẽ gửi các ông trở về càng nhanh càng tốt. Nhưng nếu như các ông muốn quay phim và tường thuật về chúng tôi trong vùng giải phóng, thì các ông có thể tự do làm điều đó.” Ông chỉ tay đến một đoàn người lính bước ra từ trong bụi rậm và giao lại cho chúng tôi toàn bộ thiết bị quay phim của chúng tôi, được bao bọc sạch sẽ trong túi nylon. Thậm chí ắc quy vẫn còn điện và có thể sử dụng được. Bước ngoặc trong số phận của chúng tôi gần như là một điều kỳ diệu. Những người canh gác đa nghi biến đổi thành những người chăm sóc mỉm cười, mời chúng tôi uống trà loãng trong những cái vỏ đạn. “Các ông sẽ phải thiếu thốn ít thứ”, Huyn Ba Tang nói, “nhưng chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để các ông được thoải mái dễ chịu ở chỗ chúng tôi.”

Chúng tôi yêu thích ông ngay lập tức, người đàn ông nhỏ con ít nói này, người mà sau này đã kể lại cho chúng tôi nghe rằng ông đã chiến đấu từ hơn hai mươi năm nay trong vòng bí mật như thế nào, lúc đầu chống người Pháp, rồi chống nhà độc tài Diệm, cuối cùng chống người Mỹ và Tổng thống Thiệu. Ông luôn bị cái chết va phải, hai lần bị bom B-52 rải thảm và đã sống sót qua được với tính dẻo dai của một con mèo. Chính ủy Huyn Ba Tang là một người ngoài cuộc và người đặc biệt trong số đồng đội cách mạng của ông. Ông xuất thân từ một gia đình trung lưu ở Sài Gòn. Cha ông trước đây đã làm việc cho chính quyền Pháp. Hẳn là Huyn Ba Tang đã không đạt tới những danh dự và cấp bậc cao ở tại các du kích quân. Chúng tôi nhanh chóng nhận ra rằng bây giờ có tiếng nói quyết địnnh ở trong quân đội này, quân đội đến từ trong rừng, là những “người chuyên nghiệp” cứng rắn từ miền Bắc, là những cán bộ Đảng và dân kỹ thuật của chiến tranh. So với họ, Huyn Ba Tang là một con người lý tưởng mộ đạo, một kẻ mơ mộng ngây thơ, nói ngắn gọn là một con người quá tốt. Dieter Hofrath nghĩ ra được một cái tên hiệu cho viên chính ủy kỳ lạ này, cái vẫn còn giữ được cho tới cuối cùng: “Cha Albert”. Có một cái gì đó giống như mục sư, giống như một nhà tu hành phát ra từ ở ông, và tôi phải nghĩ đến đức giám mục Seitz người vùng Alsace ở Kontum, người đã gọi đối thủ Việt Cộng của ông là một “ông thánh”.

(Còn tiếp)

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s