Tù nhân của Việt Cộng (phần 1)

Nam Việt Nam, tháng Tám 1973

Chúng tôi không tin vào mắt mình. Giống như cánh cổng đi vào thế giới thần linh, một cái cổng khổng lồ vươn cao lên trên phong cảnh hoàng tàn. Chúng tôi để cho những người tài xế của chúng tôi phiên dịch hàng chữ tiếng Việt màu đỏ trên thanh ngang ở phía trên. Đó là về giải phóng người dân, về chủ nghĩa xã hội và tái thống nhất. Bay phấp phới trên cây cột ở bên cạnh là dấu hiệu của cách mạng, lá cờ xanh đỏ của Việt Cộng với ngôi sao vàng ở giữa. Một con chim bồ cầu hòa bình bằng kim loại kêu lạch cạnh trong gió. Quốc lộ 13 dưới vòm cổng bị chận lại bởi một cái lũy đất cao độ khoảng 50 cm. Mãi sau này chúng tôi mới biết là mìn chống tăng đã được lấp vào trong đó.

An Lộc, 19 tháng Tư 1973, Hình Bettmann / CORBIS
An Lộc, 19 tháng Tư 1973, Hình Bettmann / CORBIS

Cho tới lúc đó, ít có sự kiện gì xảy ra trên chuyến đi. Tôi muốn khảo sát xem con đường ngưng bắn hay – chính xác hơn – mặt trận mới nằm ở đâu trên con Quốc lộ 13, cũng còn được gọi là Road to Peace, con đường mà đã được tranh giành ác liệt trong năm vừa rồi. Không ai ở Sài Gòn có thể đưa ra thông tin chính xác. Chúng tôi bọc một vòng rộng qua trụ sở chỉ huy sư đoàn ở Lai Khê, 40 ki-lô-mét về phía bắc của thủ đô, nơi mà thông thường thì những người không có trách nhiệm đều bị chận lại và buộc phải quay trở về. Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên về một nhóm dân thường người Việt, đứng chờ ở một trạm kiểm soát với những chiếc xe gắn máy Honda chất đầy hàng và bị lính của chính phủ Sài Gòn chận lại. Họ phất tay cho chúng tôi đi qua, vì nghĩ rằng – như người ta tường thuật lại cho chúng tôi về sau này – chúng tôi là thành viên của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Một vài công sự bằng bao cát cuối cùng của Nam Việt Nam, có cây cờ vàng với những sọc đỏ bay ở trên đó, một cái tháp canh, và rồi chúng tôi một mình ở trên một phong cảnh của cái chết. Ở cả hai bên của dãy nhựa đường bị hư hỏng, những đống đổ nát của chiến tranh được gom lại, xe tăng rỉ sét, xe tải tan nát, những vị trí phòng thủ và khẩu đội pháo bị ném bom. Cỏ đã mọc um tùm vượt quá những đống phế liệu của chiến tranh. Bầu trời mùa mưa thấp và nặng như chì. Bầu không khí thật ngột ngạt trong sự cô độc mang tính thù địch này. Jean-Louis Arnaud, thông tín viên ở Sài Gòn của hãng thông tấn xã Pháp AFP, người mà vào tối hôm qua tại một tiệc cocktail tôi đã thuyết phục đi cùng tôi trên chuyến đi tìm hiểu này, đặt tay lên vai tôi. “Anh biết là tôi có một cái hẹn lúc 16 giờ với đại sứ Mérillon ở Sài Gòn”, anh ấy nhắc nhở tôi. Tôi trả lời, rằng chúng tôi cũng phải gửi phim đi chậm nhất là lúc 17 giờ. Chúng tôi chỉ cách Sài Gòn nhiều lắm là 50 đến 60 ki-lô-mét, và vẫn còn chưa tới 12 giờ trưa.

Thế rồi bất thình lình chúng tôi đi đến cái cổng này, cái hiển thị rõ ràng ranh giới của lãnh thổ Việt Cộng. Không có một được phân giới thật sự ở giữa hai phe của cuộc nội chiến này, và mặc cho Hiệp định Paris, những cuộc bắn nhau vẫn chưa từng bao giờ chấm dứt. Vị trí của các bên xen kẽ sát với nhau. Người ta nói về cái được gọi là tấm da báo, những khu vực do bên đỏ kiểm soát lốm đốm giống như vậy. Tốt hơn thì nên so sánh nó với một vết mực trên một tờ giấy chậm mà rìa của nó cứ ngày càng lan rộng ra. Tôi để cho hai chiếc limousine quay lại trước cổng, để đi trở về ngay lập tức. Tôi muốn nhanh chóng tiến hành một bình luận, một báo cáo tình hình, trước cái biểu tượng này của cuộc cách mạng việt nam. Trong khi chúng tôi còn đang dựng chân chống của máy quay phim lên thì có tiếng động sột soạt ở chung quanh, trong những bụi cỏ cao, và với những khẩu tiểu liên ở trên tay, độ chừng hai mươi người lính mặc quân phục xanh bước tới chúng tôi không một tiếng động. Không còn nghi ngờ gì nữa: chiếc nón màu xanh lá cây, vũ khí kiểu AK-47, chiếc quần rộng, xăng-đan Hồ Chí Minh cho thấy nhóm lính này là du kích của Việt Cộng hoặc là lính chính quy Bắc Việt.

Những người đàn ông rất trẻ này, những người đang bao vây chúng tôi, có những gương mặt nông dân cởi mở. Tôi đi tới người đứng đầu và bắt tay anh ta. Điều này xuất phát từ một kinh nghiệm cũ trong những thời loạn lạc ở Congo và Katanga. Thời đó, qua cử chỉ cổ truyền của sự thông hiểu này, người ta tạo một ít tín nhiệm ở nhóm lính da đen đang nổi loạn đó, những người luôn căng thẳng đặt ngón tay lên cò súng. Ngoài ra thì trong lúc bắt tay, một người có vũ khí không thể bắn được. Ở Việt Cộng thì những nỗi lo sợ như vậy dường như là thừa. Nhóm lính này có kỷ luật. Hoàn toàn không có kích động, các du kích quân yêu cầu chúng tôi tìm nơi ẩn nấp ở con rãnh bên vệ đường. Rõ ràng là họ nghĩ người Nam Việt Nam sẽ khai hỏa gây rối. Họ dẫn hai chiếc limousine nặng nề của chúng tôi chạy vòng qua cánh cổng về hướng bắc. Ở khoảng cách 200 mét, các chiếc xe được ngụy trang bằng cành cây. Rồi họ dẫn chúng tôi vào một ngôi nhà gỗ, được dùng làm điểm kiểm soát chính thức. Phim quay bị tịch thu, nhưng sau khi người quay phim của chúng tôi phản đối dữ dội thì người ta đã trao cho ông một tờ biên nhận có đóng dấu của Mặt trận Giải phóng. Có khó khăn trong cố gắng thông hiểu nhau, và chúng tôi không biết ai là người sĩ quan có trách nhiệm. Việt Cộng không đeo quân hàm. Tôi yêu cầu những người đi cùng chỉ nói tiếng Pháp với các lính canh, và trong bất cứ trường hợp nào cũng không được dùng tiếng Anh. Người thông dịch tên Thanh, một người cháu của cộng tác viên người Việt Tran Van Tin của chúng tôi, người mà với nhiều mưu mẹo và với sự giúp đỡ của người chú đã không phải đi lính cho quân đội Nam Việt Nam, dường như hết sức sợ hãi. Anh ta tái nhợt và hầu như không nói được gì nữa. Các du kích quân không quan tâm nhiều lắm tới hộ chiếu của chúng tôi, giấy tờ tùy thân tiếng Pháp của Jean-Louis Arnaud cũng không. Họ thông báo với Thanh rằng họ nghi ngờ danh tính nhà báo của chúng tôi, và không ai có thể bảo đảm rằng chúng tôi không phải là điệp viên của CIA. Chúng tôi ngồi xuống một băng ghế và chờ. Ánh mắt của những người lính cộng sản trẻ tuổi mang tính tò mò nhiều hơn là thù địch. Các cấp cao hơn để cho người ta nhận ra mình bằng cách giữ một khoảng cách nghi kỵ.

Con đường bất thình lình nhộn nhịp lên. Đoàn xe Honda mà chúng tôi đã vượt qua họ ở điểm kiểm soát Nam Việt Lai Khê, dồn lại trước chiếc cổng Việt Cộng. Ở đây, ngay trong vùng căng thẳng giữa hai chiến tuyến, vẫn còn tồn tại một cái gì đó tựa như giao thông xuyên biên giới. Thị trấn Chơn Thành ngay trước khi ngưng bắn chính thức đã bị người Bắc Việt bao vây, nhưng không bị chiếm đóng. Các phe nội chiến đã thỏa thuận một phương thức và cho phép người dân Chơn Thành đi xe về Lai Khê vào mỗi buổi sáng để mua lương thực thực phẩm. Vào buổi trưa, họ lại quay trở về. Tất nhiên là cả phía cộng sản cũng hưởng lợi từ thỏa thuận này, chứ nếu không thì họ khó mà chấp nhận việc đó. Pháo đài An Lộc nắm tiếp đó 30 ki-lô-mét về phía bắc, vẫn còn được lính nhảy dù Nam Việt Nam đóng giữ, chỉ còn có thể được tiếp tế từ Sài Gòn bằng trực thăng.

Trực thăng của Sư đoàn Không kỵ Số 1 Hoa Kỳ đáp xuống Lai Khê để chở lính của Sư đoàn 2 Việt Nam tới An Lộc. Hình Bettmann / CORBIS
Trực thăng của Sư đoàn Không kỵ Số 1 Hoa Kỳ đáp xuống Lai Khê để chở lính của Sư đoàn 2 Việt Nam tới An Lộc. Hình Bettmann / CORBIS

Vào buổi tối, một chính ủy trẻ tuổi xuất hiện, nhìn dọ xét chúng tôi thật dữ tợn và không nói lời nào. Ông có sáu người mang vũ khí tháp tùng. Ông cho chúng tôi hiểu rằng chúng tôi cần phải được dẫn vào một nơi cư ngụ ở trong rừng. Đoạn đường kéo dài bảy ki-lô-mét về hướng tây bắc. Những người canh giữ chúng tôi cầm sẵn sàng các khẩu AK 47 của họ, để phá hỏng bất cứ một cố gắng chạy trốn nào. Viên chính ủy cầm một trái lựu đạn, lúc nào cũng sẵn sàng giật kíp an toàn. Vùng đất chúng tôi đi xuyên qua đã bị bom B 52 của người Mỹ phá tan hoang. Những cái phễu khổng lồ chứa đầy nước và ở rìa đã lại có một vết thẹo màu xanh bằng cỏ. Ở hướng tây, mặt trời về chiều biến mất với sự vội vã của vùng nhiệt đới vào sau một bức tường bằng mây màu đen kỳ lạ. Chúng tôi đi mà không có đồ đạc, vì dụng cụ quay phim đã bị Việt Cộng lấy, và chúng tôi thậm chí còn không mang theo một cái bàn chải đánh răng hay thuốc chống sốt rét cho chuyến đi ngắn trong ngày của chúng tôi, còn nói chi đến một chiếc áo để thay. Arnaud và các thành viên trong đội mang giày thành phố hay xăng-đan. Tôi là người duy nhất mang giày ủng Pataugas cao, vì từ lần đến Đông Dương đầu tiên, tôi chỉ đi xuống ruộng với giày bền chắc.

Chúng tôi thâm nhập vào một khu rừng rập ẩm mốc khi chạng vạng kéo đến. Bất thình lình, chúng tôi gặp một vài ngôi nhà bằng tre và công sự bằng đất. Cứ điểm nhỏ bé của Việt Cộng này được bào vệ bằng dây kẽm gai và tre được vác nhọn. Một viên sĩ quan, có lẽ ở cấp bậc đại úy, tiếp nhận chúng tôi. “Các anh đừng cố bỏ trốn”, ông ấy để cho người phiên dịch cho chúng tôi, “các anh nhất định sẽ dẫm phải mìn mà chúng tôi đã đặt khắp chung quanh trại này.” Những người lính, không để cho chúng tôi một mình đến một giờ đồng hồ, rất cảnh giác nhưng cư xử đúng cách. Họ đội những cái nón tròn màu xanh lá cây và quân phục màu xanh lá cây. Những người tài xế của chúng tôi, trong tối hôm đó sẽ bị tách ra khỏi chúng tôi, thì thầm báo cho chúng tôi biết rằng những chiến binh trẻ tuổi này qua giọng địa phương của họ có thể nhận ra rõ ràng là người Bắc Việt. Tức là chúng tôi không ở tại du kích quân của Việt Cộng Nam Việt Nam, mà ở tại một đơn vị chính quy từ miền Bắc, Sau khi tôi giả vờ đi tiêu chảy nhiều lần, để tìm một khả năng chạy trốn, viên đại úy cho người gọi tôi vào ngôi nhà của ông. Đêm đã ập xuống. Những người lính hát các bài ca thật buồn. Ông ấy lo cho sức khỏe của tôi, viên chỉ huy nói. Trong lúc chờ có thuốc tốt hơn, ông khuyên tôi nên xoa Tiger Balm lên bụng tôi, và thật sự là ông đã đưa cho tôi một cái lọ thuốc xoa đó, cái mà người Đông Á cho rằng nó có một tác dụng chữa bệnh gần như là kỳ diệu. “Tốt hơn thì ông nên cho những người đi cùng với tôi thứ gì đó để ăn và cho chúng tôi một chỗ ngủ”, tôi đáp lại. Quả thật là chúng tôi đang ngồi hết sức khó chịu trên những tấm ván, trong khi những người lính căng võng nhựa màu xanh của họ ra.

Sau đó, người ta mang đến cho chúng tôi cơm, nước nóng và một vài cọng rau không thể định nghĩa được. Người Bắc Việt cũng ăn bữa ăn thanh đạm giống như vậy. Viên đại úy chỉ cho chúng tôi một cái giường lớn. Những người đồng hành của tôi đã chấp nhận điều rủi ro này với một sự bình thản đáng ngạc nhiên. Người quay phim Josef Kaufmann lo lắng trước tiên là cho trang thiết bị của anh, lo ngại độ ẩm sẽ tác động đến các máy móc dễ hư hỏng và cố gắng dùng tiếng bồi để nói với những người đang canh gác chúng tôi, rằng họ có thể sẽ phải chịu trách nhiệm cho các trang thiết bị đắt tiền đó. Klaus Pattberg, một người từ Köln, điềm tỉnh và khôi hài, đã suy nghĩ ngay rằng chúng tôi có thể vượt qua được những ngày hay những tuần bị giam giữ này một cách lành lặn cả về tâm hồn lẫn thể xác như thế nào. Anh phác thảo một chương trình tập thể dục và ngay ngày hôm sau đã bắt đầu loay hoay làm một trò chơi cá ngựa thô sơ và trò chơi cờ nhảy. Dieter Hofrath, kỹ sư âm thanh từ Rheinhessen, nhô cao lên trên những người Việt như một người khổng lồ, đưa ra tính phớt tỉnh để chống chọi lại với sự không chắc chắn của tình trạng chúng tôi. Ông nói nửa đùa nửa thật: “Ở nhóm người Malteser hẳn cũng phải bắt đầu như thế này.” Có ý muốn nói đến ở đây là nhóm người Đức giúp đỡ đó của dòng tu Chiến sĩ Toàn quyền Malta, đã bị Việt Cộng bắt cóc trong một chuyến đi chơi vào ngày chủ nhật ở vùng lân cận của Đà Nẵng. Người ta đã bắt buộc các chàng trai và cô gái thiếu kinh nghiệm đó phải đi bộ nhiều tuần liền xuyên rừng rậm ra Hà Nội, và phần lớn đã không sống qua được những khổ nhọc đó. Tôi cũng nhìn thấy mối nguy hiểm lớn nhất là ở đó. Tôi tuyệt đối chắc chắn rằng chúng tôi sẽ không bị người Bắc Việt giết chết lẫn hành hạ. Tôi biết họ đã quá lâu rồi. Nhưng khi họ lôi chúng tôi đi qua những con đường rừng núi vô tận về hướng Bắc – ngay cả khi nhận được những khẩu phần ăn đặc quyền – thì rủi ro kiệt sức hoàn toàn hay mắc bệnh chết người là rất lớn. Anh chàng người Pháp Jean-Louis hưởng chuyến phiêu lưu mạo hiểm này với tính tò mò trí thức đặc trưng của quốc gia anh ấy. Chỉ thỉnh thoảng anh mới lo lắng vuốt bộ râu mép khổng lồ mà anh đã để cho nó mọc như thế theo kiểu thuộc địa Anh quốc để tưởng nhớ thời làm thông tín viên ở Delhi.

(Còn tiếp)

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s