Việt Nam hóa các quan tài (hết)

Road to peace – Con đường đi đến hòa bình”, công binh Mỹ đã gọi Quốc lộ 13 như vậy khi họ được cử tới để mở rộng nó. Một câu nói đùa khủng khiếp, vì Quốc lộ 13 dẫn từ Sài Gòn theo một đường thẳng về hướng bắc tới thị trấn An Lộc nhỏ bé đó, cái mà người ta với một ít thống thiết đã đặt tên cho nó là “Verdun của Việt Nam”. Ngay từ khi đợt tấn công dịp Phục Sinh của người Bắc Việt bắt đầu, An Lộc đã bị bao vây và dồn ép. Lính dù của Tướng Thiệu đã dũng cảm đứng vững trước đợt tấn công bất thình lình ập vào họ với xe tăng Nga và Trung Quốc từ vùng biên giới Campuchia. Tiếp theo sau đó về phía Nam, các lực lượng tinh nhuệ của Hà Nội đã tiến dọc theo Quốc lộ 13 hướng về Sài Gòn và chỉ còn cách thành phố 70 ki-lô-mét, trước khi họ bị chận lại một cách hết sức khó khăn nhờ sử dụng ba sư đoàn và một khối lượng vật liệu khổng lồ.

An Lộc, 1972
An Lộc, 1972

Qua những đồn điền cao su và làng mạc nhộn nhịp, chúng tôi đến được bộ chỉ huy sư đoàn Nam Việt Nam ở Lai Khê, nơi hỏa tiển của địch quân đã làm nổ tung kho đạn trước đó vài ngày. Ngay sau đó, tiếng ồn chiến sự đã tăng lên, đầy quân nhân và súng đại bác ở khắp nơi. Ở rìa của thị trấn Chơn Thành nhỏ bé, chúng tôi chạm chiến tuyến đầy đe dọa và ở rất gần này. Vào cái ngày đó, các cố vấn Mỹ có những gương mặt lo âu, vì cuộc phản kích của Sư đoàn 21 ARVN, được điều từ đồng bằng lên đến đây, không tiến lên được. Quan hệ giữa các advisers này và đội ngũ sĩ quan Nam Việt Nam rất căng thẳng.

Lính đào ngũ Nam Việt Nam đang xây công sự. Họ chất chồng bao cát lên với nhau, những cái nhiều lắm thì chỉ chống được mảnh đạn. Người Nam Việt Nam cũng như người Mỹ luôn luôn cho rằng mình có một ưu thế toàn phần ở trên không,và xuất phát từ giả định rằng đối phương không có hỏa lực đáng kể. Một vài vị trí của người Bắc Việt ở hai bên của dãy nhựa đường đã được chiếm lĩnh. Các lô cốt một cho tới hai người này được đào như những cái hố của chuột chũi. Lực lượng tấn công của Tướng Giáp còn có thể làm được gì khác ngoài bám xuống đất thật sâu và càng nhanh càng tốt, để thoát được napalm và làn sóng áp lực của những quả bom. Mùi xác chết nằm trên mặt đất bằng phẳng hoang tàn. Bên cạnh một tiền đồn pháo binh có một tù binh Bắc Việt Nam bị thương đang ngồi xổm. Chân của anh ta bị xích lại, anh hoàn toàn lãnh đạm với thế giới bên ngoài.

Những đống đổ nát viền hai bên “con đường hòa bình”. Hỏa tiển và đạn pháo của người cộng sản ít khi rơi xuống, nhưng rồi thì thường là chúng trúng mục tiêu. Vùng giao chiến giữa hai đạo quân thù địch rất sôi động. Máy bay cường kích Mỹ bay vòng không ngưng, lao xuống từ trên trời xuống như những con chim ưng và ném napalm và chất nổ. Chúng tôi tự hỏi lính bộ binh Bắc Việt làm sao mà có thể đứng vững và sống sót qua được cơn mưa đạn không thể diễn tả này hàng tuần được. Một nhóm nhà báo nhỏ đã tháp tùng theo đội tiền quân Nam Việt Nam cho tới tuyến đầu tiên. Một vài kẻ mang bệnh nhớ nhà từ cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp có ở đó với gương mặt tự cao tự đại. Chúng tôi lắc đầu ghi nhận, rằng người Việt Nam cũng tiến hành phương thức xa xỉ đó của người Mỹ, không bao giờ phá vỡ sự chống cự của địch quân bằng cách sử dụng bộ binh, mà luôn chờ cho tới khi đối phương bị kiệt quệ và hao mòn qua không quân và pháo binh. Nhưng biện pháp này không thành công ở lực lượng tinh nhuệ của Hà Nội cạnh Quốc lộ 13. Những người Bắc Việt hàng đầu tiên đã đào hầm hố ở đó, nơi các quả bom napalm tạo ra những cục khói màu đen và bắn tung bụi bẩn lên cao. Họ tránh bắn trả để không làm lộ vị trí của mình. Vào buổi chiều, tiền quân ARVN với sự hỗ trợ của xe bọc thép cố gắng tiến vài trăm mét về phía bắc hướng tới An Lộc, nhưng họ bị chận lại và lại yêu cầu pháo binh hỗ trợ. Trong khi đó thì pháo đài An Lộc bị bao vây đã có thể nhìn thấy rõ được với ống nhòm ở bên kia một vùng trũng, còn cách khoảng chừng mười hai ki-lô-mét. Thậm chí người ta còn nhìn thấy được những bức tường màu trắng đã vỡ tan của tòa thị chính. Thật là khó tin, khi quân đội Nam Việt Nam với một số lượng vật liệu và con người khổng lồ như vậy mà không đẩy bật được vài trăm người Bắc Việt ra khỏi vòng kẹp của họ được. “Thật là muốn đá vào mông những anh chàng này để họ xung phong lên”, một cựu sĩ quan xe tăng Đức chửi thề, người là phóng viên truyền thanh đã không hề bỏ qua bất cứ cảnh chiến tranh nào, và được các đồng nghiệp Mỹ gọi là Galoping Major.

Vào chiều tối, nhóm nhỏ các nhà quan sát chiến trường chúng tôi ngồi trên hàng hiên của “Continental” với một ly Pernod. Bài ca chống đối của Édith Piaf vang ra từ những chiếc loa “Non, je ne regretted rien”. Năm 1962, bài hát này đã trở thành bài hát phản kháng của lính dù Pháp, khi họ buộc phải bỏ Algerie sau khi đảo chánh de Gaulle không thành. “Không, tôi không hối hận gì hết”, Piaf hát. “Người Mỹ sẽ không hát được như vậy đâu, khi họ đi khỏi nơi này”, cựu chiến binh Điện Biên Phủ Rouget nói, người vừa ngồi xuống với chúng tôi. “Je me fous du passé – Tôi đếch cần quá khứ”, bài hát chấm dứt như vậy.

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s