Việt Nam hóa các quan tài (phần 2)

Ở Nghĩa trang Biên Hòa, cuộc thảo luận về thành công hay thất bại của cuộc Việt Nam hóa chiến tranh, cái đang sôi động diễn ra tại Sài Gòn ở gần đó, đã trở nên thừa thãi. Ở đây thì nó đã được hiện thực. Ở đây thì nó đã thành công, cuộc Việt Nam hóa các quan tài, như những người cay độc nói. Những người đã hy sinh trong tuần vừa rồi của Nam Việt Nam đến đây, chung quanh ngọn đồi của người chết ở Biên Hòa, có một ngôi chùa mái cong ngự ở trên đỉnh, trong một dãy đám tang không ngưng. Việc đào đất cho các ngôi mộ, dường như là vậy, được tiến hành với nhiều nhiệt tâm hơn là xây dựng vị trí và đào chiến hào ở ngoài mặt trận.

Dù là người theo đạo Phật hay Công giáo, dù giàu hay nghèo, dù cô độc hay được bao bọc bởi tiếng ta thán gây xúc động mạnh của gia quyến với vành khăn tang màu trắng, những người chết này có chung một điều: màu da vàng và lá cờ vàng với ba sọc đỏ như máu của Nam Việt Nam trên chiếc quan tài. Ở giới báo chí anglo-saxon thì điều đó là mốt, chê bai các thành tích chiến đấu của quân đội Sài Gòn. Những ngôi mộ này cho thấy có bao nhiêu dũng cảm và kiên cường đã được phía Nam Việt Nam đưa ra. Chính vì chẳng bao lâu nữa có thể sẽ thấy rằng họ đã hy sinh cho một sự việc vô vọng, nên người ta cần phải kính trọng những người đã chết này.

Tượng Thương Tiếc tại Nghĩa trang Biên Hòa
Tượng Thương Tiếc tại Nghĩa trang Biên Hòa

Ở gần ngọn đồi Golgatha của Nam Việt Nam này, trong căn cứ Mỹ khổng lồ ở Biên Hòa, cuộc di tản những người lính Mỹ cuối cùng đang diễn ra không gì ngăn lại được – những lời hứa hẹn trước cuộc bầu cử của tổng thống Mỹ cần phải được giữ cho đúng. Những người lính từ Tân Thế giới đã từng được các cô gái Nam Việt Nam choàng vòng hoa vào người khi đến đây. Lần bỏ đi diễn ra gần như là trong sự nhục nhã. Lính quân cảnh dữ như gấu để cho chó đánh hơi tìm ma túy trong đồ đạc của những người trở về quê hương. Tiêu thụ bạch phiến trong số người Mỹ ở Đông Dương đã đạt tới một quy mô đáng sợ, và bây giờ thì người ta lo rằng trận đại dịch này có thể sẽ lan về quê hương. Một quân đội mất tinh thần chiến đấu đang biến đi khỏi đây, và trông có vẻ thật kỳ quái, khi những người thích khoa trương nào đó trước khi leo lên chiếc máy bay vận tải về Guam đã bật nút một chai rượu sâm banh hay làm dấu hiệu V như “Victory” trước các nhiếp ảnh gia báo chí đã tụ tập lại đây. Đĩ điếm và ma túy đã làm tiêu tan quân đội này, có những người nào đó nói như vậy. Điều này là phóng đại rất nhiều, ngay cả khi người ta nghĩ đến lời nói của Tướng von Mackensen từ Đệ nhất Thế chiến, người sau lần xâm chiếm Romania nhanh như chớp của ông đã tuyên bố: “Tôi đã tiến vào Bukarest với một đạo quân những người lính; tôi sẽ rút ra khỏi đây với một đám lợn.” Một vài người lính Mỹ mang những tấm nhỏ trên quân phục: “Tôi không còn sợ địa ngục nữa; tôi đã trải qua nó ở Việt Nam.” Nhưng điều đó ở phần lớn các trường hợp thì chỉ là khoác lác. Trung bình thì nhiều lắm là chỉ có một phần hai mươi lính Mỹ đã thật sự chạm địch. US-Army luôn luôn có ưu thế vật chất đè bẹp. Mỗi một người bị thương đều được máy bay trực thăng chở tới những phòng phẩu thuật hiện đại nhất trong thời hạn ngắn nhất. Các điều kiện chiến đấu của người Pháp trong cuộc chiến Đông Dương của họ thì ngược lại hết sức là tuyệt vọng. Thời đó, một vết thương nhẹ trên ruộng lúa thường đồng nghĩa với bản án tử hình vì bị thối hoại và không có tính cơ động. Trong những quán rượu trên đường Tự Do, nơi những người Mỹ trong bộ quân phục màu xanh và những cô gái bán bar ít khi nào ngồi không, ngày càng có những bài ca phản đối phát ra từ chiếc máy hát nhạc tự động thường xuyên hơn. “Bring them home” là một trong những bài hát đó. Các boys cần phải sống, người Việt cần phải tự lo liệu lấy.

Ở gần khu “Tam giác Sắt”, nơi Việt Cộng được tăng cường bằng chính quy Bắc Việt và lại giật lấy phần chủ động, một hậu đội của Sư đoàn First Cavalry nổi tiếng vẫn còn giữ cứ điểm hỏa lực “Melanie”. Trước đây bảy năm, khi người Mỹ bắt đầu tham chiến đầy hy vọng ở Việt Nam, những người lính GI đã cố thủ trong những pháo đài hình ngôi sao giống vậy, như thể cần phải tiến hành một cuộc chiến tranh mới chống người da đỏ và tiến hành thành công một chuyến phiêu lưu Miền Tây Hoang Dã hiện đại. Tại các kỵ binh trực thăng cuối cùng của “Melanie”, mà tiền thân của họ – thời đó còn cưỡi ngựa – đã tiến hành trận đánh đầy chết chóc chống người da đỏ “Little Big Horn”, thì chỉ còn lại dư vị nhạt nhẽo từ các mong đợi chiến thắng lừa dối. Soldier Blue của những cuộc chiến chống người da đỏ đã trở thành Soldier Green của Việt Nam. Các nhà sản xuất phim ở Hollywood bất thình lình phát hiện ra, rằng có thể tái tạo lại một sự liên quan đáng sợ giữa lần tiêu diệt các bộ lạc người da đỏ bởi những chiếc áo màu xanh nước biển của thế kỷ 19 và cuộc thảm sát Mỹ Lai bởi những chiếc áo màu xanh lá cây điên rồ của viên thiếu úy béo mập Calley. Các tiền đồn của Sư đoàn Kỵ binh Thứ nhất đã trở thành những người canh giữ nghĩa trang của các căn cứ khổng lồ đã bị bỏ trống quanh Sài Gòn. Họ canh giữ những phần đổ nát của một đạo quân khổng lồ đã bốc hơi đi mất. Hàng ki-lô-mét phế liệu chất cao như núi ở các bãi rác, chất thải của chiến tranh. Trên một cái xác xe tăng, tôi đọc đường hàng chữ viết vụng về: “Give peace a chance!”

(Còn tiếp)

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s