Tan rã và bỏ chạy (hết)

Vài ngày sau đó, tài xế Nho chở chúng tôi đi trên con đường độc đạo số 1 về Đà Nẵng ở phía nam. Đúng ra thì người ta phải cho rằng con đường liên kết mang tính chiến lược này giữa mặt trận ở phía bắc và căn cứ không quân với tiếp tế chiến lược của người Mỹ ở Đà Nẵng phải bị tập kích liên tục. Nhưng ngay cả trên những khúc cua dẫn lên đèo Hải Vân, dòng tiếp tế vẫn lăn đi mà không gặp trở ngại nào. Những chiếc xe tải ngược chiều bật đèn pha chạy xuyên qua làn sương mù. Từ nỗi sợ hãi bản năng trước một cuộc phục kích bất thình lình, những người tài xế bám sát vào nhau gần cho tới mức bất cứ một vụ thắng gấp nào cũng phải dẫn tới thảm họa. Trời mưa không ngưng. Xuyên qua làn hơi nước, chúng tôi nhận ra những chiếc tháp canh của quân đội chính phủ như những bóng dáng mờ ảo. Trong phong cảnh này, cuộc chiến đã đánh mất mọi hiện thực. Ở bên kia của Col des Nuages, lớp mây chợt tách ra. Sau những nhánh tre của một khúc quanh, vịnh Đà Nẵng mở ra ở phía dưới sâu. Những chiếc thuyền buồm nổi bật lên trên biển nhợt nhạt, bất động như trên một bức họa mực tàu.

Quân đội Nam Việt Nam đang hành quân để tái chiếm lại Quảng Trị
Quân đội Nam Việt Nam đang hành quân để tái chiếm lại Quảng Trị

 

Mười bốn ngày sau đó, chúng tôi quay trở lại vùng phía bắc. Thời tiết đã thay đổi. Mặt trời thiêu đốt không thương xót từ trên bầu trời không một đám mây. Bùn lầy của mùa mưa đã tan rã ra thành bụi nhỏ, xuyên qua mọi kẻ hở và phồng lên thành những đám mây màu gỉ sắt ở phía sau các đoàn xe. Không thể đi tới Quảng Trị được nữa. Tỉnh lỵ bị người Bắc Việt bao vây. Chiến tuyến chạy theo sông Mỹ Chánh, nơi các marines của Nam Việt Nam trụ trong những cái lô cốt cũ của Pháp và kiên cường nhìn làn hỏa lực của Mỹ dập xuống địch thủ ở cách đó chưa tới hai trăm mét. Trong lúc đó, họ bình thản dùng đũa lùa cơm vào miệng.

Những người tỵ nạn đầu tiên từ Quảng Trị là những người dân thường. Họ kiệt quệ lết qua cây cầu Bailey của sông Mỹ Chánh. Xe bò chở đầy đồ gia dụng và trẻ con. Đàn ông và phụ nữ già nua đi khập khiễng trên những bàn chân bị thương và dùng gậy tre của họ để thay nạng. Những người bị thương tựa vào nhau. Người dân Quảng Trị đã xuyên qua những bãi mìn và pháo đại bác bắn chặn để đi về phương nam, vào trong cái được cho là sự an toàn.

Thiếu tá Price, cố vấn Mỹ của lính marines Nam Việt Nam, như là người quan sát của pháo binh đã điều chỉnh hỏa lực của Hạm đội 7 Hoa Kỳ xuống các vị trí đầu tiên của những người cộng sản và đồng thời cũng ghi nhận các vị trí rơi xuống của hỏa tiển từ những chiếc trực thăng Cobra. Nhưng bây giờ thì ông đứng thẳng dậy, vuốt bộ râu mép màu vàng đỏ của ông lại cho ngay ngắn, đội nón lên và mặc áo chống đạn vào. Ông nhận được một thông tin khàn khàn qua máy bộ đàm, cái mà ông chỉ miễn cưỡng báo cho chúng tôi biết. Vào sáng sớm, viên chỉ huy của Sư đoàn 3 Nam Việt Nam trong bộ chỉ huy của ông ở Quảng Trị đã mất tinh thần và đã bay ra ngoài bằng trực thăng. Các cố vấn Mỹ nối đuôi theo sau, và bây giờ thì những người còn ở lại lâm vào tình trạng hoảng loạn. Đầu tiên, lính Biệt Động Quân, nổi tiếng là một lực lượng tinh nhuệ, đã tịch thu xe cộ còn sử dụng được và khởi hành đi về phía nam, hầu như không bị người Bắc Việt ngăn cản. Những phần tan rã của Sư đoàn 3 đi tiếp theo sau đó trong sự sợ hãi vô cùng. Pháo đài Quảng Trị thất thủ mà không có chiến đấu, một điềm xấu cho những trận đánh sau này. Người Bắc Việt lẽ ra đã có thể khai hỏa để biến thảm bại này thành một cuộc tàn sát. Nhưng họ đã không làm. Có lẽ họ hy vọng có một làn sóng gây sốc tâm lý sẽ xuất hiện khi những con người đào ngũ này về đến nơi, một làn sóng mà sẽ làm sụp đổ toàn bộ cấu trúc phòng thủ của Trung Kỳ.

Vào buổi trưa, những nhóm quân lính chạy trốn đầu tiên về tới cây cầu Mỹ Chánh, một hình ảnh tan rã đáng xấu hổ. Họ một phần say rượu và bắn bừa vào không khí. Những chiếc xe tải và xe xích lao đi với vận tốc cao nhất về hướng nam, giống như thể quỷ sứ đang đuổi theo họ. Để vẫn còn giữ được thể diện trong tình huống mất phẩm cách đó, những người lính đào ngũ giả vờ đùa giỡn thô bạo và dùng xe tăng của họ để rượt gà và chó. Trên đường trở về Huế, chiếc Citroën đen của chúng tôi đã bị ba người lính có ánh mắt hung tợn chận lại bằng những tràng đạn từ các khẩu M-16 của họ. Họ dồn vào băng ghế trước bên cạnh người tài xế. Chúng tôi mời họ hút thuốc lá để trấn an. Họ càng cách xa mặt trận bao nhiêu thì lại trở nên hòa nhã bấy nhiêu. Trước Huế, họ xin lỗi với mọi thể thức cho lối đối xử không hay của họ, cảm ơn cho chuyến lift và vẫy tay một lúc lâu ở phía sau chúng tôi. Họ vẫn là những đứa con của một dân tộc hết sức văn minh.

Tâm lý chiến bại, như đã được dự định trước, lan về đến cố đô. Hai phần ba người dân cùng với những chiếc xe thô sơ và gói hành lý đi trên “Con đường không vui”, cực nhọc tiến về cảng Đà Nẵng được cho là an toàn. Khi Thượng Hải bị đánh chiếm và quân đội Tưởng Giới Thạch tan rã hẳn là cũng phải giống như vậy. Quang cảnh trông thật đáng sợ, vì đám đông người đang đổ mồ hôi, thở hắt dưới gánh nặng đó im lặng đẩy mình đi hầu như không có tiếng động và điệu bộ hướng về phương nam, giống như một con thú đã bị trọng thương. Phẩm cách vẫn còn được giữ ngay cả trong sự tuyệt vọng. Trong thành phố Huế về đêm, ánh lửa đỏ sáng rực trên dòng sông. Có tiếng súng bắn. Những người lính cướp bóc bây giờ đã chuyển sang cướp phá và phóng hỏa chợ, sau khi người bán từ chối không giao rượu của họ ra mà không nhận được tiền. Trong lúc đó, những người lính đã bị quân cảnh chống lại. Mìn nước nổ dưới sông Hương. Chúng có nhiệm vụ ngăn chận không để cho người nhái Bắc Việt giật nổ cây cầu duy nhất và không thể thiếu được.

Việc mà chúng tôi vẫn còn có chỗ ngồi trong chiếc máy bay Air Vietnam về Sài Gòn được đặt chỗ trước gấp nhiều lần là nhờ vào người tháp tùng và thông dịch viên Tran Van Tin của chúng tôi. Với cái giá trả thêm là một trăm dollar xanh, người ta có thể mua được một sự ưu tiên như vậy, và không ai hiểu việc đó tốt hơn là Tin. Ông nhỏ người như tất cả người Việt, và hầu như không nhìn thấy gì khi không có chiếc kính mắt. Làn da trắng của ông cho thấy có một dòng máu Trung Hoa. Từ hơn mười năm nay, Tran Van Tin đã phục vụ một cách đáng tin cậy và với một hiệu quả gần như là huyền thoại cho cả hai đài truyền hình Đức. Không có giấy phép quay phim nào, không lần gia hạn chiếu khán nào, lần giải quyết vấn đề nào với hải quan mà ông không tiến hành được trong thời hạn ngắn nhất. Thêm vào đó, ông là một thiên tài ngoại ngữ. Bên cạnh tiếng Pháp, tiếng Trung và tiếng Anh, ông còn tự học được tiếng Đức tốt cho tới mức ông gây ngạc nhiên cho bất cứ người nào mới tới đây. Tin nhiều tuổi hơn là vẻ ngoài. Có những thông tin mâu thuẫn với nhau về con đường sự nghiệp của ông. Ông là trẻ mồ côi ở Huế, rồi trong cuộc chiến tranh của người Pháp, ông được một viên đại tá lính lê dương nhận làm con nuôi, người ta nói như vậy. Sau này thì lại được quả quyết rằng ông chỉ là người mang lại may mắn cho trung đoàn đó, mà ông cũng không thể hoàn toàn không có gia đình, vì ông thỉnh thoảng có nói về người mẹ già cần sự giúp đỡ của ông và về một người anh em là nhân viên cảnh sát đã bị người cộng sản bắn chết. Tin là một người luôn hối hả, và tính hay bồn chồn của ông đã mang những thông tín viên truyền hình nào đó tới ranh giới của một lần phát điên. Sau vài năm làm việc gắn bó với hai đài truyền hình ARD và ZDF, ông có được hai chiếc xe limousine kiểu Mỹ, tuy cũ nhưng vẫn còn dùng được, chỉ huy một nhóm tài xế, trợ lý quay phim và phu khuân vác, những người thường được ông giới thiệu là chú, anh em họ hay cháu và tất cả đều bị trả tiền lương rất tệ. Tài năng kinh doanh của ông đi đôi với tài lăn lộn để sống còn. Người ta quả quyết rằng thời trước, Tin thân cận với chính quyền của nhà độc tài Công giáo Ngô Đình Diệm, trước khi ông phải tiến hành một bước ngoặc nhanh như chớp và tìm những người bảo hộ mới. Về cá nhân, tôi có một quan hệ hoàn toàn không có vấn đề gì với ông. “Đối với tôi, ông giống như một người cha”, thỉnh thoảng ông nói với tôi như vậy, một lời quả quyết mà tôi không muốn đặt lên chiếc cân vàng. Nhưng tôi chưa từng bao giờ bị Tin lừa dối hay bỏ rơi. Người trưởng nhóm thu hình kỳ lạ này, cũng giống như những người đồng hương nào đó của ông, là một người mơ mộng về chính trị. Ông đã trình bày trong một bản thảo dầy ba trăm trang về việc người ta có thể giải phóng nền cộng hòa Nam Việt Nam ra khỏi tham nhũng và suy đồi đạo đức như thế nào, và xây dựng một nhà nước chống cộng sản thành công ra sao. Tuy vậy, rất nhiều nguyên tố suy đồi cần phải được diệt trừ không thương xót trước đó, người ta đọc trong đó như vậy.

Thế nào đi chăng nữa thì Tin vẫn mang được chúng tôi lên chiếc máy bay về Sài Gòn mặc cho hàng ngàn người đang chờ đợi, và ông rất thích thú với lần xác nhận này, rằng ông là người không thể thiếu được. Lúc đáp giữa chặng xuống Đà Nẵng, một nữ hành khách xinh đẹp người Việt trong chiếc áo dài thanh lịch đã khóc thét lên sau một cuộc trao đổi ngắn với một sĩ quan không quân. “Có việc gì vậy?” tôi hỏi người nam tiếp viên Việt Nam. Người này phát ra một tiếng cười châu Á cao giọng. “Người ta vừa mới báo cho bà ấy biết là chồng bà, phi công của Không quân Việt Nam, đã bị bắn rơi vào ngày hôm qua.” Người tiếp viên hàng không bất chợt nhận ra rằng tiếng cười của ông, cái chỉ để làm chủ hoàn toàn lòng thương xót và sự bối rối của chính mình, có thể bị những người da trắng đang lắng nghe hiểu lầm, và rồi tạo một nét mặt nghiêm trang chết người.

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s