“Hủy diệt để cứu thoát” (phần 1)

Việt Nam, thu 1967

Gần như đã thắng cuộc chiến rồi, các phát ngôn viên quân đội Mỹ tuyên bố ở Sài Gòn. Mỗi ngày, viên briefing officer đều biết tường thuật về hàng trăm structures, kho dầu và kho đạn, bị US Air Force phá hủy ở phía bắc và phía nam của vĩ tuyến 17. Lúc hỏi vặn thêm thì mới biết rằng với khái niệm structures, người ta thường chỉ muốn nói tới những ngôi nhà bằng tre ở trong vùng của địch quân. Toàn bộ nhiều hệ thống máy tính đã dựa trên con số body count được cẩn thận thâu thập về một mối mà tính toán ra rằng “main force” của kẻ địch về cơ bản là đã bị tiêu diệt, và các irregulars đã kiệt lực. Ở trên này, ở Cồn Tiên, nơi Bắc và Nam Việt Nam đụng đầu nhau, thì người ta ít nhận ra được điều gì từ những thông tin chiến thắng đó.

Trời lạnh và có gió thổi mạnh ở gần đường phân giới, cái mà đã trở thành mặt trận được giành giật dữ dội. Mây thấp và có màu xám. Mưa rơi xối xả thành dòng xuống một phong cảnh không có cây cối đang chìm vào trong bùn lầy. Tôi gặp một đoàn marines đang tiến ra các vị trí tiền tuyến. Ba con trâu, rơi vào một loạt đạn súng cối, nằm thối rữa ở hai bên của con đường đá ong trơn trượt và tỏa ra một mùi hôi thối ngọt ngọt. Những người lính marines mang vác nặng, ướt sũng và đầy bùn. Hình ảnh hằn lên bầu trời mang nhiều tính đe dọa của họ khiến cho người ta nhớ tới những tấm ảnh của Verdun. Ở đoạn này của cuộc Chiến tranh Việt Nam, người ta không còn nói về công thức thành công nhanh nhẹn search and destroy nữa. Máy bay B 52 của US Air Force với những thảm bom đã biến cái được gọi là “cổ chai” của Bắc Việt Nam, dãy đất hẹp cạnh biển giữa sông Bến Hải và thành phố Vinh, thành một phong cảnh như trên Mặt Trăng. “Chúng tôi sẽ ném bom người cộng sản trở về thời kỳ Đồ Đá”, Tướng Curtis Le May đã dọa. Mặc dù vậy, Tướng Giáp vẫn có thể đẩy hệ thống vị trí và công sự của ông cho tới sát cạnh tuyến của người Mỹ, và thậm chí mới đây ông còn mang được cả pháo binh hạng nặng ra chiến trường, chỉ có Chúa Trời mới biết làm như thế nào. Trong những khoảng cách thất thường, đạn pháo rơi xuống quanh các căn cứ của Mỹ, và đã ép buộc những người lính marines vừa chửi thề vừa đào hầm hố sâu vào trong lòng đất giống như đất sét. “Việc kẻ địch bắn phá đã hết sức khó chịu”, viên thiếu tá nói, người nhận dẫn tôi đi tham quan Cồn Tiên. “nhưng còn tồi tệ hơn rất nhiều là những con chuột mà chúng tôi phải sống chung với chúng trong sự dơ bẩn, và thỉnh thoảng còn tấn công cả người của tôi nữa.” Tiếng ồn của pháo binh và bom máy bay vang rền từ phía xa xa. Không nhìn thấy gì từ kẻ địch, mặc dù họ hẳn là đã đào hố ở phía sau dãy đất màu nâu. “Họ luôn có thể xâm nhập qua các vị trí của chúng tôi, tuy là có hàng rào kẽm gai và bãi mìn”, viên thiếu tá rủa sả và lau nước mưa ra khỏi mặt. “Chúng tôi chiến đấu chống lại một đạo quân chuột chũi.”

Vào mùa này, mặt trời tháng Mười Một khô ráo và ấm áp đang chiếu sáng trên Sài Gòn. Bonne société saigonnaise gặp nhau ở hồ bơi của “Cercle Sportif”. Câu lạc bộ sang trọng này mà trong đó vẫn còn lại một thoảng của thời thuộc địa Pháp, là một cái chợ tin tức tuyệt vời. Thuộc trong số những người khách quen trong những ngày đó là các tùy viên quân sự Đức và Hà Lan. Ông người Hà Lan là một sĩ quan thuộc địa đã bạc tóc ở Quần đảo Mã Lai, người mà người ta không thể bịa được điều gì với ông nữa. Trong nhân sự còn lại của đại sứ quán Đức, viên trung tá người Đức có tiếng là người bi quan. Trong lúc đại diện ngoại giao của Bonn ở trên đường Võ Tánh tường thuật về sự ổn định hóa có lợi cho người Mỹ, về chiến thắng nhất định sẽ đến của sự việc tốt, thì người tùy viên quân sự chìm đắm trong những lời tiên đoán bi quan và những lời tiên đoán thảm họa mà không ai màng nghe tới. Trong “Cercle Sportif”, người ta có thể hẹn gặp các quản lý đồn điền người Pháp. Đa số là các sĩ quan trẻ, những người sau thảm bại Algerie đã rời quân ngũ. Họ phải thương lượng hàng tuần với các chính ủy Việt Cộng, đóng tiền và giải quyết các câu hỏi về nhân sự, để tiếp tục lấy nhựa từ những cây cao su trong đồn điền của họ và được phép chở cao su thô đi. Giới tư sản Nam Kỳ coi “Cercle Sportif” như là nhà, và tụ tập trên các sân quần vợt. Tất nhiên là cũng có nhiều khách quen người Mỹ, nhưng nói tiếng Pháp được cho là lịch sự.

Tôi được mời ăn tối tại tổng lãnh sự Pháp Tomasini, một người xứ Corse bẳn tính, khi còn trẻ đã nổi bật trong lực lượng kháng chiến ở Savoyen và trong lực lượng du kích quân của Vercors. Mặc dù tóc ông đã bạc, người ta vẫn còn nhận ra được tính thích mạo hiểm của ông. Chúng tôi biết nhau từ thời hỗn loạn ở Kantaga, nơi ông như là tổng lãnh sự ở Elisabethville đã lo lắng rất nhiều cho những người lính đánh thuê của Pháp, và đã bị thương nặng qua một vụ mưu sát. Bữa ăn tối chỉ có hai chúng tôi, trong ngôi biệt thự kiểu cũ trên đường Hai Bà Trưng. Cả một bảo tàng những vật quý báu của Đông Á đã được những người tiền nhiệm của ông sưu tập lại ở đây. Sau khi người phục vụ đi khỏi, Tomasini lấy một cái phong bì dầy ra khỏi két sắt. “Cái mà anh nhìn thấy ở đây là một thông điệp của Việt Cộng”, viên tổng lãnh sự bắt đầu nói. “Một người chủ đồn điền của chúng tôi, Jean Dufour, một người đã có tuổi, đã sống ở Đông Dương suốt cuộc đời của ông, và ngược với lời khuyên của chúng tôi vẫn cứ khăng khăng ở lại đồn điền của ông ấy cạnh con quốc lộ cũ lên Đà Lạt, đã biến mất từ nhiều tuần nay. Người Việt đã bắt ông vào lúc về đêm, và đã mang ông về nơi họ đang ẩn náu. Kể từ lúc đó, chúng tôi hoài công cố gắng bắt liên lạc với Dufour. Tối hôm qua, tôi đã được một sứ giả của Mặt trận Giải phóng bí mật tới thăm, một người Việt trung niên lịch sự, chắc chắn là đã có lần đi học trong trường lớp của chúng tôi. Ông phải thông báo cho tôi một tin rất buồn, người sứ giả tuyên bố khi chúng tôi còn lại một mình. Rất đáng tiếc là Monsieur Dufour đã qua đời trong tù. Mặt trận Giải phóng rất tiếc là buộc phải giam giữ ông, sau khi ông ấy vẫn cứ tiếp tục cuộc phát quang có ảnh hưởng không tốt tới an ninh của du kích quân trong khu vực đó, ngược lại với những chỉ thị rõ ràng của chính quyền cách mạng. Dulour lâm bệnh nặng trong tù, và đã qua đời mặc dù người ta đã cố gắng chữa trị, trước khi người ta có thể chở ông ấy về Sài Gòn và trả tự do cho ông ấy. Nhân danh “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”, ông có nhiệm vụ đưa cho người tổng lãnh sự Pháp những vật dụng cá nhân của ông mà Dulour đã mang theo người trong lúc bị bắt đi, và cũng trao trả cả số tiền mà người ta đã tịch thu tại người chủ đồn điền. Người ta đã trừ ra phí tổn thuốc men từ số tiền đó, nhưng trong phong bì màu vàng có một danh sách chi tiết về việc này. Ngoài ra, Mặt trận Giải phóng muốn thành thật chia buồn với thân quyến của Dufour về trường hợp số phận đau buồn này. Có thể đó là một niềm an ủi cho họ khi biết rằng Monsieur Dufour lúc trước khi qua đời đã ghi nhận những ý định của cuộc cách mạng Việt Nam, và đã tự phát đồng tình với các mục tiêu của nó.” – Tomasini lắc đầu. “Thật là cảm động”, ông nói, “ông Dufour đáng thương đã được Việt Cộng ban phép thánh trước khi đi gặp Karl Marx.”

Tôi thuật lại cho ông nghe trải nghiệm trong tuần vừa rồi của tôi. Các cố gắng của tôi, tiến hành một cuộc trao đổi trực tiếp với đại diện của Việt Cộng cuối cùng cũng đã thành công. Đầu tiên, tôi đã cố nhờ một nữ luật sư trung lập, bà Ngô Bá Thành, người mà nhờ vào sự thúc ép của những tổ chức tự do Mỹ đã được trả tự do do sau khi bị giam giữ khá lâu trong một nhà tù ẩm ướt của Sài Gòn. Bà Thành là một phụ nữ mạnh mẽ và hăng hái, là một luật sư có tiếng trên trường quốc tế. Bà bị giám sát quá chặt nên không thể giúp gì cho tôi được, bà nói. Ngoài ra thì bà vẫn tiếp tục hoạt động chính trị, và bà bảo đảm với tôi rằng cái được gọi là lực lượng thứ ba của Việt Nam trong liên minh với những người Phật tử yêu nước sẽ đưa ra một cơ hội thật sự để chấm dứt chiến tranh và chuẩn bị cho một tương lai tự do. Việc mà bà bị cấm hoạt động chính trị sau khi người cộng sản nắm quyền ở Sài Gòn, và bà bị chính quyền cách mạng quản thúc tại gia, việc này thì thời đó bà Ngô Bá Thành không ngờ tới.

Cuộc gặp bí mật cuối cùng được sắp xếp qua trung gian của một sản xuất nút áo Sài Gòn mà truyền đơn phe đối lập thỉnh thoảng được in ở trong phòng chứa dụng cụ của ông ấy. Điểm hẹn là một nhà hàng-quán nhảy ở cạnh xa lộ dẫn ra Biên Hòa. Dấu hiệu nhận ra người trao đổi với tôi là một cái áo mưa vắt trên cánh tay. Sự lựa chọn quán ăn này khiến cho tôi bất ngờ. Ngay lúc mới bước vào, tôi đã được tiếp đón bởi những cô chiêu đãi viên rất bạo dạn và có ngụ ý rõ rệt. Nhân viên cao cấp và sĩ quan của chính quyền Sài Gòn thường hay tiêu khiển ở đây. Bà chủ duyên dáng của quán này, người không ngần ngừ dẫn tôi tới một cái bàn nằm ở nơi vắng vẻ trong ngôi vườn, là người tình của phó sếp cảnh sát Sài Gòn. Sau một lúc, có ba người thường dân Việt tiến đến gần. Một người vắt chiếc áo mưa qua cánh tay như đã thỏa thuận. Họ tự giới thiệu và tôi cố gắng nhớ tên của họ, mặc dù chúng rõ ràng là được nghĩ ra. Người lớn tuổi trong số ba người, như ông bảo đảm một cách đáng tin, là một cán bộ công đoàn già, đã hoạt động từ thời Pháp trong số công nhân cảng. Người thứ nhì là một nhà trí thức đặc trưng của Việt Nam với mắt kính dầy cộm và trong diễn tiến của buổi tối hôm đó đã tự bộc lộ mình là người đại diện về tư tưởng hệ. Người thứ ba là một gã lực lưỡng, ít nói, có lẽ là đã được đào tạo về quân sự. Chúng tôi đặt nhiều món ăn Việt và chẳng bao lâu sau đó đã được những người phục vụ để yên cho. Những gì mà tôi biết được tại buổi tối bí mật này đều hoàn toàn không phải là điều giật gân. Điều mà tôi khâm phục là sự tự tin mà những người đàn ông này có thể nói là đã đi vào hang cọp với nó. Tôi quan tâm tới trước hết là những ý định cho tương lai của “Mặt trận Giải phóng”. Nhà tư tưởng hệ trẻ tuổi trả lời. Nhà tường thuật người nước ngoài không nên để cho người khác đánh lừa mình qua thông tin chiến thắng của những tên Đế quốc Mỹ và của những con rối Sài Gòn của chúng, fantoches, như ông diễn đạt. Nhân dân Nam Việt Nam đang chờ đợi giờ của họ, giờ của cuộc nổi dậy dân tộc. Chẳng bao lâu nữa, thế giới sẽ biết được các lực lượng cách mạng của Việt Nam có những khả năng nào. Rượu vang và rượu đế mà các sứ giả của Việt Cộng uống rất nhiều cuối cùng đã tạo nên một sự thư giãn nhất định. Hai người trẻ vẫn cẩn thận. Người công đoàn thì ngược lại kể những câu chuyện từ cuộc đời của ông và về những trải nghiệm của ông trong hai mươi năm hoạt động bí mật. Ông ấy là một kiểu người niềm nở, đối xử giống như một người cha già, và sau này tôi đã rất thương xót khi biết rằng ông đã bị bắt và bị tra tấn trong diễn tiến của chiến dịch “Phượng Hoàng”. Hai người kia ra sao, họ có tử trận trong lần nổi dậy lớn vào năm mới đó hay không, cái mà họ đã tuyên bố hầu như không che đậy với tôi, điều này thì tôi không bao giờ biết được.

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on ““Hủy diệt để cứu thoát” (phần 1)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s