Phong cách Mỹ ( phần 2)

Ngôi nhà đồ sộ nhất của Kontum là nhà của đức giám mục. Ngôi trường dòng sát cạnh giống như một trại lính thuộc địa Pháp. Trường dòng đóng cửa, nhưng đức giám mục, Moseigneur Seitz, một người vùng Alsace nguyên thủy, nhiều râu, vẫn còn ở lại vị trí của mình. Ông còn gửi các linh mục của ông tới những ngôi làng hẻo lánh nhất của người Mọi, để ban phước và giảng giáo lý. Những nhà truyền giáo người Pháp hiểu biết Việt Cộng tốt hơn là các chuyên gia tình báo của Special Forces. Họ thường hay gặp phải các du kích đỏ và thỉnh thoảng còn bị họ bắt đi. “Tôi biết rất tốt người đối thủ của tôi, viên chính ủy chỉ huy của Việt Cộng”, đức giàm mục nói. “Ông ấy là một nhà đấu tranh lão thành, đã chiến đấu từ năm 1946 trong bí mật. Ông ấy là một người lý tưởng quên mình, gần như là một ông thánh, người ta sẽ nói như vậy nếu như ông ấy đứng bên cạnh chúng tôi. Trong tháng Bảy 1954, ngay trước lần ngưng bắn, khi trại lính Páp rút đi, lúc đó tất cả họ đã bước từ trong rừng ra, và đã thiết lập một dạng hành chánh xã hội chủ nghĩa ở Kontum trong vòng vài tuần. Thể theo Hiệp định Genève, họ được rút về miền Bắc vài tuần sau đó. Nhưng bây giờ thì họ lại có mặt ở đây. Sư đoàn Nam Việt Nam, đóng quân ở chỗ chúng tôi và miễn cưỡng lắm mới dám bước ra khỏi vùng lân cận của thành phố Kontum, đã mất tinh thần chiến đấu rất nhiều và sẽ không có khả năng giữ vững được lâu nữa, ngoại trừ người Mỹ bước vào thay thế.”

Trong toàn bộ Thế giới thứ Ba, các nhà truyền giáo thuộc vào trong số những nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy nhất. Có lẽ là các linh mục Công giáo vượt trội hơn các đồng nhiệm Tin Lành của họ trong tính khách quan của các phân tích của họ. Trong con mắt của họ, nếu như nhận thức thần học của họ vẫn còn nguyên vẹn, thì thế giới vẫn là một thung lũng nước mắt, và họ biết rằng không một ai có thể nắm quyền trong sự vô tội. Trong lúc lắng nghe Monseigneur Seitz, tôi phải nghĩ những nhà tu dòng Phan-xi-cô của Lashio ở Bắc Miến Điện, những người trong mùa Xuân 1952 đã có thể cung cấp cho tôi tin tức về tình hình cuộc nội chiến rối rắm giữa người cộng sản, “cờ trắng và đỏ”, giữa người Karen, Shan và Kachin chính xác hơn là các tùy viên quân sự trong thủ đô Rangoon rất nhiều. Con người vùng Alsace này có tính khí khác hẳn với ông người Pháp buồn rầu của dòng Sa-lê-diêng, người mà thời đó với sự tuyệt vọng trong giọng nói, ở giữa đống đổ nát vì bom đạn của Mandalay, đã thừa nhận sự thất vọng sâu sắc của ông đối với những người Miến Điện được giao cho ông. “Tôi cho họ là những đứa trẻ con”, ông ấy ta thán lúc đó, “nhưng bây giờ tôi mới phát hiện ra rằng họ là những đứa trẻ con xấu.” Monseigneur Seitz không chia sẻ một sự bi quan như vậy. Ông gắn kết với những người Montagnard của ông, và kiên cường đấu tranh để cứu vớt linh hồn của họ trước ảnh hưởng xấu xa của những nhà ý thức hệ Mác-xít. Ông vẫn còn hình thể và niềm tin Chúa của một hiệp sĩ Thập Tự Chinh.

Cha sở của giáo phận là một người trí thức trầm tư. Ông nói về tấn bi kịch của Tổng thống Công giáo Ngô Đình Diệm. Ông thuật lại sự điên rồ của ông quan liêm khiết đó, người với thiểu số gần hai triệu người Công giáo đã cố gắng biến Nam Việt Nam thành một nền cộng hòa Công giáo theo kiểu của [Thủ tướng Áo] Dollfuß. Qua đó, ông đã gây ra phong trào chống đối của người Phật giáo. Điều dễ hiểu là các môn đồ của Gautama đã chống lại chiến dịch chuyển đạo Kitô giáo đó của Diệm, nhưng rồi đã nhanh chóng trở thành lực lượng đối lập chính trị hiếu chiến. Lần đột biến của các chức sắc Phật giáo, cho tới lúc đó hoàn toàn trung lập, thành những nhà đấu tranh chủ đạo đầy nhiệt huyết cho cuộc lật đổ cách mạng thì chắc chắn không phải là hoàn toàn tự phát. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, Phật giáo không hề đóng vai trò nào hết. Dưới thời của Diệm, các phái viên của Việt Cộng đã thâm nhập có chủ đích vào chùa chiền. Lần biến đổi từ người chính ủy thành những nhà tu hành, từ phái viên Việt Cộng thành chức sắc thiền tu dễ như trò chơi trẻ con, ở nơi mà bất cứ Phật tử sùng đạo đều cần nên ở trong tu viện một khoảng thời gian ngắn của đời mình.

Với lần tăng cường tham chiến của Mỹ ở Đông Dương, hàng đoàn nhà báo Mỹ đã tới Sài Gòn. Họ đã đặt trụ sở lui tới thường xuyên của họ ở trong tầng cao nhất của khách sạn hiện đại “Caravelle”, được cho là thuộc nhà thờ Công giáo, ở trong một quán rượu khô khan, được điều hòa nhiệt độ quá lạnh, và nhanh chóng thống nhất với nhau trong đánh giá tình hình: Phải bỏ nhà độc tài Diệm, và người Phật giáo như là những người đại diện thật sự cho người dân Việt Nam, sẽ chỉ ra con đường cứu thoát tiến tới hòa bình và dân chủ giữa chủ nghĩa phát xít nhà thờ của “con người liêm khiết” và chủ nghĩa cộng sản của Mặt trận Giải phóng. Rằng các nhà sư Phật giáo nói chung là không hề đại diện cho dân tộc theo Nho giáo này, rằng học thuyết của Guatama như là tôn giáo trốn tránh của người dân nghèo chỉ tồn tại ở ngoài rìa và ở Nam Kỳ trước hết là nhờ vào láng giềng Campuchia mà phái Phật giáo Nguyên thủy mới có một sự hiện diện tương đối lớn hơn, những điều đó thì nhiều lắm là chỉ có một vài người ngoài cuộc của CIA là biết tới, những người mà không ai lắng nghe họ. Khi rồi thật sự là một vài chức sắc chọn con đường tử vì đạo, đổ xăng lên người trên đường phố và bùng cháy như những ngọn đuốc sống, thì sự phẫn nộ của giới tường thuật bùng nổ và được mang sang cho người đọc. Bà Nhu, cô em vợ đẹp và đầy quyền lực của Tổng thống Diệm, đã vô tình góp phần vào việc đó khi bà tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn rằng bà không thể ngăn cản các nhà sư tổ chức buổi nướng thịt riêng của họ.

Lại chính là Tổng thống Kennedy, người Công giáo đầu tiên đứng đầu nhà nước Hòa Kỳ, đã cho lật đổ nhà độc tài Công giáo Diệm trong mùa thu 1963 và bắt đầu một chương nhục nhã nhất của nền ngoại giao Mỹ. Kennedy, người ta cho là như vậy, đã mù quáng tin vào tường thuật của thông tín viên New York Times David Halberstam, một người tích cực chống Diệm. David là một người bạn cũ từ thời loạn lạc ở Congo và chiến tranh ở Kantaga. Nhưng đối với chiều sâu khó hiểu của sự kiện ở Đông Nam Á thì anh còn có ít cảm giác hơn là đối với thế giới giàu sang tươi đẹp của Bờ biền Đông, cái mà anh biết cách mô tả nó thật sắc sảo. Cuối cùng, Ngô Đình Diệm trở thành nạn nhân của một âm mưu Mỹ mà giới tướng tá Nam Việt Nam có nhiệm vụ phải tiến hành nó. Việc người đứng đầu nhà nước bị giết chết trong lúc đó có thể là một sự cố. Trong sự kiêu hãnh của ông ấy và danh dự của ông ấy, rõ ràng là Diệm đã từ chối lời mời chạy trốn của các trung gian người Mỹ và thích cái chết hơn. Nhát dao đâm vào con người yêu nước cứng nhắc nhưng chính trực này từ đó đè nặng toàn bộ chính sách Việt Nam của Mỹ như một dấu ấn của Cain [đã giết chết người em ruột của mình].

Cha sở của giáo phận Kontum có nghe kể rằng trong những tháng thống trị cuối cùng, nhà độc tài bị hy sinh đó qua sự giúp đỡ của Pháp đã cố gắng tiến hành đối thoại với Hồ Chí Minh, để cứu thoát dân tộc Việt Nam khỏi lần quốc tế hóa cuộc nội chiến đang sắp sửa xảy ra. Các tiếp xúc này đã tăng tốc cho quyết định đầy thảm khốc đó của Nhà Trắng. Tiếp theo lần thủ tiêu Diệm là một chân không trong hình dạng của một chính phủ quân đội lòe loẹt do tướng Dương Văn Minh đứng đầu, thời xưa được người Pháp gọi là le gros Minh, bây giờ là Big Minh. Nhưng Big Minh cũng nhanh chóng bị người Mỹ nghi ngờ. Con người uể oải chậm chạp này đã nhận được những quân hàm đầu tiên của ông trong quân đội Pháp, và vẫn còn giữ lòng trung thành hết sức bất ngờ với thế lực thuộc địa cũ cũng như với tướng de Gaulle. Chẳng bao lâu sau, Dương Văn Minh bị lật đổ qua một cuộc đảo chính do người Mỹ dàn dựng và được đưa đi lưu vong sang Bangkok. Giờ bi kịch của ông mãi trong tháng Tư năm 1975 mới tới, vào đêm trước của lần người cộng sản tiến vào Sài Gòn, khi ông được gọi ra đứng đầu nền Cộng hòa Nam Việt Nam đang phân rã và chỉ còn được phép tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Sau khi trục xuất Big Minh, tướng lãnh sân khấu và chính trị gia bù nhìn đã thay thế nhau trong Dinh Norodom, dinh toàn quyền Pháp ngày xưa, cái mà người ta đã đổi tên thành “Palais Độc Lập”, “Đinh Độc Lập”. Cuối cùng, đại sứ Mỹ quyết định chọn tướng Khánh trò trịa mà chòm râu dê của ông đã gây ra nhiều lời đùa cợt. Khánh là con trai của một diễn viên và qua đó là thành viên của một giai cấp bị coi thường ở Việt Nam. Đối với Hoa Kỳ, ông là một đồng minh quá nhún nhường, hoàn toàn không đủ khả năng trong tình huống khủng hoảng cực kỳ này

Ông cha sở đã thố lộ xong và bây giờ thì mỉm cười độc ác ở sau đôi mắt kính dầy cộm của ông. “Từ sau vụ giết chết Diệm thì rất hiếm khi người ta còn nói về người Phật giáo nữa”, ông nói. “Thời gian sau này, CIA đã tóm lấy các điệp viên của Việt Cộng và đưa người của họ vào trong chùa. Nhiều lắm thì Phật giáo chính trị đã cố thủ ở thành phố Huế của các hoàng đế trước đây như là pháo đài cuối cùng.”

(Còn tiếp)

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on “Phong cách Mỹ ( phần 2)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s