Phong cách Mỹ ( phần 1)

Việt Nam, xuân 1965

Phong cách tiến hành chiến tranh của người Mỹ là một phong cách hoàn toàn khác. Người ta không coi trọng công sự phòng thủ. Hỏa lực riêng là tất cả. Trong những trường hợp khó khăn thì dựa vào không quân, và khi hết sức tồi tệ thì những chiếc trực thăng, những chiếc chopper không thể thiếu được, sẵn sàng để chở các cố vấn Mỹ bay ra. Tôi có trải nghiệm đầu tiên của tôi với cuộc chiến tranh lần thứ nhì, với cuộc Chiến tranh Đông Dương của Mỹ, ở Kontum trên cao nguyên của Trung Kỳ, cách biên giới ba nước không xa, nơi Việt Nam, Lào và Campuchia gặp nhau. Ở lân cận thành phố Kontum nhỏ bé có một nhóm Special Forces đóng quân, dựng lên những ngôi nhà xây sẵn  và kéo hàng rào kẽm gai. Nhóm Green Berets như họ được gọi vì chiếc mũ nồi xanh, đã được đích thân Tổng thống Kennedy hỗ trợ.

Ở Kontum, một thiếu tá gốc người Libanon chào đón chúng tôi. Ông và người của ông tạo một ấn tượng tự tin và cương quyết. Đó là dân chuyên nghiệp của chiến tranh, đã được đào tạo để chiến đấu trong rừng rậm, phá hoại và chống nổi dậy ở phía sau chiến tuyến của địch thủ. Dirty tricks cũng nằm trong chương trình đào tạo. Các nhà quan sát người Pháp nói rằng ba người của Special Forces có giá trị ít nhất là ngang với một đại đội Mỹ bình thường. Viên thiếu tá đầy sẹo đậu mùa ngụ ý nói rằng ông đã có một con đường công danh nhiều biến động ở sau lưng. Do biết tiếng Ả Rập toàn hảo mà ông đã được cử vào những nhiệm vụ đặc biệt, đầy phiêu lưu, ở Cận Đông. Nhưng bây giờ thì hầu như toàn bộ Green Berets đều được tập trung lại ở Nam Việt Nam, để đương đầu với thách thức cộng sản từ miền Bắc. Ở Kontum, họ đã tụ họp được một nhóm quân lính người địa phương đáng tin cậy, trung thành với họ. Họ là thổ dân cao nguyên. Người Mỹ đã tiếp nhận cách diễn đạt Montagnard của người Pháp cho họ. Tại dân tộc Việt ưu đẳng ở ven biển thì những con người có da màu đồng với mắt hẹp tí này, được cho là thuộc chủng tộc Polynesia, được gọi là “Mọi”, tức là mọi rợ. Nếu như không được Kitô giáo hóa bề ngoài thì họ vẫn còn theo các tín ngưỡng vật linh của họ. Họ chia ra thành nhiều bộ tộc với nhiều thứ tiếng rất khác nhau, nhưng có một điều liên kết họ lại: sự căm thù người Việt, những người trong thời gian nhiều thế kỷ đã đẩy họ ra khỏi những vùng đồng bằng màu mỡ lên vùng rừng núi hoang vắng một cách có hệ thống. Trong năm 1946 tôi còn nhìn thấy người Mọi ở quanh Đà Lạt trần truồng, chỉ một cái khố đi xuyên qua rừng rậm. Bây giờ thì phần lớn đàn ông mặc quân phục màu xanh của Mỹ, và những người phụ nữ đã che dấu bộ ngực có hình dạng đẹp của họ. Tôi đi thăm một ngôi làng nhà sàn của họ ở gần Kontum. Ngôi nhà chung nhô lên ở giữa với đầu hồi nhà cao, giống Mã Lai. Đối với người Âu, những con người đơn giản này rất tin cậy và thân mật. Một vài người già tự giới thiệu mình là lính phụ trợ của quân đội thuộc địa Pháp và chào theo kiểu quân đội. Chúng tôi phải hút uống thứ bia có mùi vị như mục nát của họ, hay gọi thứ nước uống gớm ghiếc này như thế nào đi nữa, từ những cái bình thật to. Trong lúc đó thì không thể lừa gạt được, vì người Mọi dùng một cái phao nhỏ để kiểm tra xem chúng tôi có uống thật nhiều từ thứ nước được mang ra chào khách đó hay không.

Kontum nóng và nhiều bụi vào ban ngày. Những người thuộc Special Forces nhanh chóng làm quen với chúng tôi với phong cách không câu nệ nghi thức của Mỹ. Những người lính nhà nghề này, phần lớn đều xăm hình trên ngực hay cánh tay, không phải là đại diện đặc trưng cho quốc gia của họ. Họ cứng rắn hơn rất nhiều khi so với những người lính Mỹ khác mà chúng tôi đã gặp ở Sài Gòn và vùng lân cận. Đa số là người mới nhập cư hay ít nhất là những công dân Mỹ không hòa hợp được với các suy nghĩ rập khuôn của xã hội Mỹ. Một người Mễ, một người Phần Lan và một người da đỏ thuộc trong nhóm nhỏ này ở Kontum, nhưng chỉ có một người da đen. Các Green Berets vẫn còn được giới báo chí Mỹ ca ngợi như là những người anh hùng, nhưng về cơ bản thì họ là những người không thích nghi trong đất nước chịu nhiều ảnh hưởng Thanh giáo của họ, đất nước mà không còn có thể sử dụng những con người đứng ngoài cuộc này vào việc gì được nữa, kể từ khi thời của những người săn da thú và anh hùng súng lục đã qua rồi.

Viên thiếu tá người Libanon, một người theo Cơ đốc giáo của Giáo hội Maronite, như được nhanh chóng biểu lộ, bình luận về việc tăng cường hoạt động của Mỹ ở Đông Nam Á với một sự hoài nghi thật sáng suốt. Năm 1964 là một năm đen tối cho quân đội quốc gia Nam Việt Nam. Các cố vấn Mỹ tính toán rằng hàng tháng đã tiêu diệt được lực lượng chiến đấu tương đương với một tiểu đoàn đầy đủ của Việt Cộng. Người cộng sản bây giờ chuyển sang giai đoạn tấn công của cuộc chiến tranh cách mạng, và mới đây đã tấn công với lực lượng cỡ trung đoàn. Special Forces chế nhạo các sĩ quan tham mưu từ Hoa Kỳ, những người đã huấn luyện quân đội Sài Gòn hướng tới một sự lập lại của Chiến tranh Triều Tiên, đã trang bị cho họ nhiều vũ khí hạng nặng và nhiều xe thiết giáp đến mức phi lý. “Cứ như là người Bắc Việt sẽ lăn qua vĩ tuyến 17 với xe tăng Nga vậy”, viên trung úy người Phần Lan cười to. Lần đổ bộ các đơn vị Mỹ đầu tiên – đi đầu là một trung đoàn marines, lội nước vào bãi biển gần Đà Nẵng và được thiếu nữ Việt trao vòng hoa ở đó – được những người đàn ông ở Kontum xác nhận với sự chế nhạo rõ ràng: “Ở đây là một cuộc chiến tranh du kích, còn marines thì thích nhất là chỉ muốn lập lại Guadalcanal và Okinawa thôi.” Cả việc ném bom các mục tiêu chiến lược ở Việt Nam do Tổng thống Johnson ra lệnh cũng không gây ấn tượng cho họ. “Người ta không nghiền nát kiến bằng xe lăn đường”, người da đỏ nói.

Vào sáng ngày hôm sau, viên thiếu tá mời chúng tôi đi xem giờ giảng dạy chiến đấu. Ở gần làng Montagnard Dak Seng, chỉ cách biên giới Lào vài ki-lô-mét, một trinh sát người bản địa đã phát hiện ra một căn cứ của Việt Cộng, cái mà thật sự thì hẳn là được lính chính quy Bắc Việt đóng giữ. Trên bãi cỏ của phi trường Kontum, thời đó không lớn hơn một sân bóng đá nhiều cho lắm, có một tá chiếc trực thăng đang chờ đợi. Lính người Việt, vũ trang với súng tiểu liên M-16, nón Mỹ nặng nề trên đầu, quá lớn cho những anh chàng nhỏ bé đó, leo lên trực thăng. Phần lớn đều mặc áo chống đạn, vì thêm hay bớt một ít trang bị không hề đóng vai trò nào đối với những người châu Á dẻo dai này. Phi công hầu hết là người Mỹ. Ở độ cao thấp, chúng tôi bay phành phạch qua rừng rậm và làm hoảng loạn một bầy voi ở nửa đường. Không thể nhận ra một đường băng trong rừng rậm. “Đường mòn Hồ Chí Minh khả nghi đó trông giống y như thế này chứ không khác gì cả”, viên phi công hét to át tiếng ồn của động cơ. Bất thình lình, những chiếc trực thăng bay thành đội hình giống như một bầy ong. Ba chiếc chopper khai hỏa vào một mô đất hầu như không thể nhận ra được và bắn hỏa tiển, những cái nổ tung với khói sậm màu. Chúng tôi lơ lửng tựa như đứng yên tại chỗ, chỉ còn cách mặt đất một mét. Cùng với những người lính Việt Nam, chúng tôi nhảy ra ngoài và tìm chỗ ẩn nấp ở rìa của cái trảng. Trận đánh đã qua rồi. Cuộc tấn công đã diễn ra hoàn toàn bất ngờ. Nếu như người Bắc Việt không nhanh chóng tháo chạy thì họ đã nằm cạnh các hàng rào bằng tre như những xác chết đã cháy thành than hết nửa. Đó là một cách tiến hành chiến tranh mà người Pháp thậm chí còn không dám mơ tưởng tới. Sau vài phút, chúng tôi lại leo lên chiếc trực thăng của chúng tôi và bay trở về. Người Nam Việt phải hành quân đường bộ về Kontum. Họ có nhiệm vụ tìm quân địch. Viễn cảnh này không tạo hân hoan.

(Còn tiếp)

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on “Phong cách Mỹ ( phần 1)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s