Trao đổi tù binh

Hai Thon, trong mùa hè 1954

Người ta bắt đầu trao đổi tù binh ngay sau khi Hiệp định Genève được ký kết. Trong những cuộc hành quân dài, Việt Minh đã dẫn một phần của quân đội đóng ở Điện Biên Phủ về thành trì của họ tại tỉnh Thanh Hóa ở cạnh biển, nơi mà người Pháp chưa từng bao giờ có thể đứng vững ở đó trong mười năm của cuộc chiến. Hải quân Pháp về phần mình đã đưa ra một chiếc tàu đổ bộ kiểu LSM, để chở một trăm người Việt Minh bị bắt giam đến điểm gặp trong vùng đất của kẻ địch.

Những người lính Việt Minh bị bắt tạo một ấn tượng kỷ luật. Các nữ y tá Pháp, những người phải chịu đựng sóng biển nhiều nhất trên con tàu phẳng này, phản đối việc nhiều mối tình bạn đàn ông hết sức thân mật đã thành hình giữa những người Việt Nam này trong những năm dài sau hàng rào kẽm gai. Một thiếu úy cụt tay của Sư đoàn 320 nắm quyền chỉ huy. Tại lần chuyên chở đầu tiên này, đa số là người bệnh và bị thương. Người phát ngôn chính thức của nhóm là một người đàn ông trẻ tuổi gầy gò, đã hồi phục một cách đáng ngạc nhiên từ những vết bỏng napalm nặng của ông. Ông quả quyết mình là một người lính bình thường. Thật sự thì ông hẳn là một chính ủy. Ông nói trong tiếng Pháp ngập ngừng về niềm tin của mình, rằng sự thống trị của những tên thực dân mới và của những kẻ độc quyền rồi cũng sẽ sụp đổ ở Nam Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mang lại hòa bỉnh và sự công bằng cho dân tộc của ông. Trong tương lai, bất cứ một tù binh nào cũng sẵn sàng hy sinh tất cả. Bài diễn văn của người cựu sinh viên với ánh mắt cuồng tín không nổi bật bởi tính độc đáo. Mang tính bi kịch nhiều hơn là trường hợp của một người lính cụt chân theo đạo Công giáo từ tỉnh Phát Diệm. Ông ấy không muốn dính líu gì tới chủ nghĩa cộng sản. Thế như Bác Hồ đã tạo lập một mặt trận yêu nước rộng rãi mà trong đó bên cạnh người Mác-xít cũng có chỗ cho người Cơ đốc giáo. Nhìn chung thì những người tù binh trên con tàu đổ bộ này lo lắng nhiều hơn là hân hoan. Hẳn là họ tự hỏi cuộc tiếp đón bởi các cơ quan đỏ vào ngày hôm sau sẽ như thế nào.

Vào sáng sớm, chúng tôi đến được cửa sông của con sông Mã và mắc cạn đến ba lần. Cuối cùng, một chiếc tàu buồm tiến đến gần mà một lá cờ trắng với chữ thập đỏ đang bay trên cột buồn của nó. Ba sĩ quan Việt Minh trong bộ quân phục xanh màu cỏ ngồi xổm ở mạn tàu. Theo thỏa thuận, họ không được phép mang theo vũ khí, nhưng dưới một tấm bạt bị trượt đi thì người ta có thể nhận ra được vài khẩu súng. “Tính tin người của họ thật là làm cho người ta cảm động”, viên thiếu tá thuyền trưởng cao nghều chỉ huy cuộc trao đổi tù binh bên phía Pháp cười to. Rồi ông nhảy xuống một cái xuồng nhỏ và chèo vào đất liền cùng với người bác sĩ quân y, trong khi một hoa tiêu địa phương lái chiếc tàu của chúng tôi cho tới gần bờ. Nấp ở phía sau bụi rậm của con dốc là ngôi làng đánh cá nghèo Hai Thon. Khối đồ sộ màu xanh của núi Thanh Hóa lấp lánh ở chân trời. Trong lúc cánh cửa rộng ở đầu con tàu đổ bộ nặng nề mở ra, những người tù binh bắt đầu xếp thành hàng. Chúng tôi nhảy xuống chiếc bè tre đang đi về phía chúng tôi và lội nước ở đoạn cuối cùng cho tới bãi cát. Khoảng ba mươi người lính Việt Minh và sĩ quan đang chờ chúng tôi. Họ không mang quân hàm lẫn huy chương. Ở cách xa một đoạn, người dân thường đứng chen chúc với nhau trong bộ quần áo nông dân màu nâu đen.

Trong ngôi nhà tiếp đón bằng tre có một cái bàn thương lượng được trải khăn vàng. Ngự ở đầu của nó, giống như trên một cái bàn thờ tổ tiên, là tấm hình Hồ Chí Minh dưới lá cờ đỏ có ngôi sao vàng. Đại diện của phía bên kia tự giới thiệu. Phát ngôn viên của họ là một thiếu tá khắc khổ. Giọng nói của cuộc đàm phán lạnh lùng và đúng mực. Người ta thống nhất với nhau là các tù binh Việt Minh lên đất liền trước, và tiếp theo sau đó là lần trả tự do cho một trăm người Pháp. Là người trở về đầu tiên, viên thiếu úy của Sư đoàn 320 bước đến gần người thiếu tá và báo cáo. Viên thiếu tá ôm chầm lấy ông ấy thật mạnh và vụng về cho tới mức người thiếu úy lảo đảo. Ủy ban tiếp đón của Việt Minh rõ ràng là cảm động, khi các tù binh trên những chiếc bè tiến tới gần và theo hiệu lệnh của viên chính ủy của họ mà hô to những câu khẩu hiệu đã được tập dượt sẵn, hoan hô Hồ Chí Minh, cách mạng và chiến thắng. Mỗi một lần muôn năm được người dân đánh cá tưởng thưởng bằng tiếng vỗ tay. Bây giờ, những người Việt Minh bị bắt ra vẻ mệt mỏi và ốm đau nhiều hơn là thật sự. Những người phụ nữ nông dân ôm chầm lấy họ, quạt gió cho họ và vuốt ve mặt họ. Những người trở về nhà nhanh chóng cởi bỏ bộ đồ Pháp ra khỏi người và đổi nó lấy bộ quân phục của Việt Minh.

Chúng tôi có thể đi lại tự do và nói chuyện phiếm tương đối thoải mái với đại diện của phía bên kia. Họ quan tâm tới các diễn tiến ở châu Âu, và có nhiều thông tin tới mức đáng ngạc nhiên. Cuộc trao đổi chấm dứt đột ngột khi người Pháp nhìn thấy các tù binh của họ. Họ bị trận đánh Điện Biên Phủ, chuyến đi vô tận về Thanh Hóa và những bệnh nhiệt đới hành hạ thật đáng sợ. Nhiều người nằm trên cáng dưới một cái mái che tạm bằng lau sậy. Rất ít người còn có thể tự đi lại. Họ chào mửng những người đồng hương đang tới gần với đôi mắt sốt, cảm ơn. Không, họ không bị hành hạ. Nhưng chuyến đi bộ qua rừng rậm thật là chết người, và rất nhiều người đã chết. Họ nhận được cùng thức ăn uống như những người lính Việt Minh, nhưng đối với một người Âu thì chúng hoàn toàn không đủ. Hầu như tất cả đều mắc bệnh lỵ và sốt rét. Các nữ y tá người Pháp, chăm sóc ngay lập tức cho đội quân gầy giơ xương đó, bây giờ nhìn thù địch và căm thù tới lực lượng chăm sóc người Việt. Cuộc chuyên chở ra bờ sông được bắt đầu trong bầu không khí buồn phiền. Trước khi họ lên tàu đổ bộ, những người Pháp trở về quê hương muốn, hẳn là đã nhìn thấy từ kẻ địch, bày tỏ lòng yêu nước và sự tin tưởng theo cách của họ. Nhưng họ chưa từng bao giờ học cách hô khẩu hiệu. Một nhóm người hét to “Hipp hipp hurra!” như trong sân bóng đá, và một người bị thương ở chân, đi cà nhắc, hô to “Vive la France!”, giống như ông ấy là de Gaulle vậy.

Chuyến trở về Hải Phòng rất cực nhọc. Một ngọn gió mạnh thổi lên trên Vịnh Bắc Bộ. Những người sống sót của Điện Biên Phủ kể về trận đánh, về sự thất bại của giới chỉ huy, về sự ngạc nhiên khủng khiếp khi hỏa lực pháo binh bất thình lình dập xuống những vị trí không đủ chắc chắn của họ. Một tiểu đoàn Thái đào ngũ ngay lập tức. Lực lượng quân đội da màu còn lại của Union Française thụ động và tìm nơi ẩn nấp. Thật sự chiến đấu cho tới cái hố cá nhân cuối cùng và cho tới kết cuộc chỉ là những người lính nhảy dù Pháp và lính lê dương. Những người lính thuật lại đầy khinh bỉ về các sĩ quan của những đơn vị khác, những người đã không lo cho người của họ. Nhưng lính lê dương, cho tới tám mươi phần trăm là người Đức, thì đã bước ra để chết, giống như trong một trận đánh huyền bí của người Goth.

Hai viên thiếu úy kiệt lực không nhập cuộc. Họ đã bị Việt Minh bắt ngay từ lúc bỏ Cao Bằng vào cuối năm 1950. Các chính ủy cộng sản đã công kích họ nhiều năm trời – không ngày nào mà không có học tập chính trị và cải tạo nhiều giờ liền. Để sống sót, nhưng cũng từ một sự tò mò trí thức nhất định, các tù binh của trại sĩ quan Pháp – ngược với các hạ sĩ quan thô lỗ, giả điếc với các tuyên truyền viên đỏ – đã tham gia cuộc chơi và một phần còn giả vờ tin vào chủ nghĩa Mác và chống chủ nghĩa thực dân nữa. Điều kiện sống trong những trại tù binh này khủng khiếp đã đủ, nhưng khó có thể chịu đựng nhất về lâu dài là tính khăng khăng cứ cho mình là đúng, sự kiêu ngạo về tư tưởng hệ, thái độ kẻ cả ở những người thuyết giáo da vàng của cuộc cách mạng thế giới này. “Sau một năm, chúng tôi có cảm giác như mình là những con chuột lang mà người ta đang tiến hành những thử nghiệm đột biến tư tưởng hệ ở chúng. Điều đó tồi tệ và làm mất phẩm cách nhiều hơn là đói ăn và bệnh tật”, một viên thiếu úy nói. “Nhưng chúng tôi đã học được một điều”, người đi cùng với ông nói, “tức là chúng tôi đã tiến hành một cuộc chiến ngu ngốc, hoàn toàn không hợp thời. Ở đây trong châu Á và ngày mai hẳn là ở châu Phi, chúng tôi đối đầu với một cuộc “chiến tranh cách mạng”, và chỉ có thể tự khẳng định được chúng tôi ở nước ngoài khi chúng tôi đối phó với những người da màu với cùng những biện pháp tuyên truyền, với một sự nhồi sọ tàn bạo tương tự như Việt Minh đã dạy cho chúng tôi. Không biết là liệu chúng tôi có phải cải tạo người Pháp ở nước mẹ tương tự như vậy hay không, để họ học được rằng tình yêu tổ quốc, sự trung thành và ý thức kỷ luật là gì. Các chính khách và đảng phái của nền Đệ tứ Cộng hòa đã phản bội chúng tôi một cách thật nhục nhã và đã bỏ mặc chúng tôi, nhưng nếu cần thì chúng tôi sẽ dạy cho họ biết rằng đổi mới cách mạng là gì.” Viên thiếu úy thứ nhì nói giọng khàn khan và gần như là thì thầm. Bây giờ ông bị một cơn ho hành hạ, và mảmh vải sạch mà các nữ y tá đã đưa cho ông nhuộm màu máu. Sóng  biển mạnh tới mức người trên tàu – ngoại trừ các thủy thủ – đều buồn nôn. Chẳng bao lâu sau đó, chúng tôi bám chặt vào lan can tàu, để cho cơn bão oi bức thổi vào mặt và nôn mữa vào trong màn đêm đen như mực.

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s