Vị linh mục dũng cảm (hết)

Tôi được de Lattre de Tassigny mời ăn tối. Vợ của ông đến Hà Nội, điều được đánh giá như là dấu hiệu cho tiến độ chứng bệnh của ông. Bernard con trai ông, một anh thiếu úy rất trẻ, cũng là khách mời. Vài ngày tới đây, Bernard sẽ hy sinh ở vùng núi Hòa Bình. Cũng có một đại tá người Mỹ hiện diện, to tiếng lan truyền sự lạc quan và tỏ lời khen Madame de Lattre một cách thô thiển, khiến cho vị tướng bực mình thấy rõ. De Lattre không được vui. Cuộc thử nghiệm với thủ hiến Trí đã chứng tỏ là không có lợi. Đặt một kẻ thù của nước Pháp làm thủ hiến Bắc Kỳ thì còn có thể được, nhưng khi người đàn ông này chứng tỏ mình không có khả năng đưa ra một lực lượng ủng hộ mình đáng kể, thì người ta đã đánh cược sai. Vào buổi chiều cùng ngày, Nguyễn Hữu Trí trong cơn mưa phùn quen thuộc của mùa này đã kêu gọi triệu tập một cuộc biểu tình lớn trước nhà hát. Đó là một sự kiện thật đáng để thương hại. Người địa chủ tóc bạc đó, mà gương mặt của ông tiết lộ một nguồn gốc Ấn Độ nào đó, cuối cùng cũng đã thất sủng ở viên cao ủy.

Hai ngày trước đó, de Lattre đã gặp người đứng đầu nhà nước Bảo Đại trên chiếc du thuyền của ông ấy ở tại vịnh Bắc Bộ. Đã rất to tiếng trong lúc đó. Người cựu hoàng đế béo mập được cho là rất thông minh và hoàn toàn không có nét đặc sắc riêng. Ông là con cháu của Gia Long, người đã mang những người Pháp đầu tiên tới Huế, để làm giảm thiểu sự phụ thuộc của ông ấy vào Trung Quốc. De Lattre đã hoài công yêu cầu Bảo Đại hãy cố gắng hết sức mình vì sự thịnh vượng của tổ quốc ông ấy. Nhưng ông đã gặp phải một playboy uể oải, phản ứng với tất cả những lời đề nghị giống như một diva bị xúc phạm. Cuối cùng, theo một nhân chứng người Pháp, ông đã biểu lộ một gương mặt giống như một cu li xe kéo được trả công bằng một tờ tiền có mệnh giá lớn và không chịu đưa ra tiền thối lại.

Viên tướng đã không động đến thức ăn và chỉ uống một ly nước. “Mới đây”, ông bắt đầu như vậy, “tôi đã triệu tập sinh viên Sài Gòn quanh tôi. Tôi đã nói với họ, rằng chúng tôi muốn trao trả mọi quyền hành về quê hương của họ cho họ, nhưng tôi mong chờ ở giới trẻ của đất nước này, đặc biệt là giới tinh hoa trí thức Việt Nam, hãy hoạt động yêu nước. Những người con được hưởng đặc quyền của giới tư sản ở đây không thể cứ mãi mãi trông cậy vào những người con nông dân và công nhân Pháp đang chịu đựng rủi ro để ngăn chận chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản châu Á. Tôi đã kêu gọi họ: Messieurs, tôi khinh thường các anh khi các anh cứ tiếp tục theo đuổi những trò tiêu khiển và giải trí của các anh, trong khi người dân của các anh phải chịu đựng khổ nhọc và đang chết dần. Nếu thế thì tôi sẽ kính trọng các anh nhiều hơn rất nhiều, nếu như các anh đi sang phía bên kia và cùng với Việt Minh chiến đấu chống chúng tôi.”

Viễn cảnh cuối cùng của cuộc chiến trong những ngày đó: Theo lời khuyên của de Lattre, tôi đi xe về tỉnh Thái Bình ở cạnh biển. Chiến dịch “Thủy Ngân” đang diễn ra ở đó. Hai trung đoàn thuộc Sư 320 của Việt Minh bị bao vây ở đó, theo các bộ tham mưu tại Hà Nội.

Mây treo nặng nề trên bầu trời xám như chì. Một làn gió lạnh cắt da thịt thổi từ hướng bắc. Các đứa bé, cưỡi trên những con trâu giống như nhân vật Mowgli, có đôi chân tím ngắt vì lạnh. Quân đội của “Liên hiệp Pháp” là một đám quân lính đủ loại. Người Maroc mặc những cái áo djellaba dài có kẻ sọc nâu bằng lông cừu thật dầy. Người Algeria thì có thể nhận được qua những chiếc khăn quấn đầu của họ. Thời đó có ai mà biết được rằng mầm mống cho cuộc cách mạng Algeria cũng đã được gieo xuống tại những cánh đồng lúa này. Người dân vùng Maghreb bị nhiễm virus chủ nghĩa dân tộc ở Đông Dương. Khi một chiếc xe tải được đánh dấu với huy hiệu đỏ-xanh của lực lượng lính lê dương, những câu nói tiếng Đức vẳng sang phía chúng tôi. Có những đơn vị nào đó của bộ binh thuộc địa Pháp đã gồm một phần ba là người Việt. Người ta gọi điều đó là le jaunissement – vàng hóa đạo quân viễn chinh. Người Pháp từ nước mẹ là thiểu số trong tập hợp đủ loại này.

Đừng sá chấm dứt ở bộ chỉ huy tiền phương của Groupe Mobile 10. Bên cạnh đó, một khẩu đội pháo bắn phá trong những khoảng thời gian thất thường. Bộ chỉ huy được đặt trong một ngôi đền thờ. Mặc cho khói thuốc lá dầy đặc, mùi nhang vẫn còn trong không khí. Ở ngoài kia, hai trung đội lính dù tiến đến tuyến đường làng cuối cùng trước biển. Cách xa nhau, họ lội qua nước và thường chìm xuống cho đến tận đầu gối ở giữa những cây lúa màu xanh nhạt. Chỉ có một hỏa lực yếu ớt chống trả lại họ ở rìa làng, cái hoàn toàn câm bặt khi họ tới được những ngôi nhà bằng đất đầu tiên. Lính dù chỉ cho chúng tôi xem những cái hố sâu dưới mặt đất do Việt Minh đào mà nhiều lắm thì chỉ có một đứa bé mười ba tuổi người Âu là có thể chui vào đó được. “Khi chúng tôi lục soát làng mạc thì họ kéo cỏ hay bụi rậm lên che đầu, và thế là chúng tôi có thể đi ngang qua họ hàng giờ liền”, những người lính nói.

Một vài người bị thương nhẹ bước tới chúng tôi từ con đường đất đắp cao. Họ lấm đầy bùn lầy. Ở tại một ngã tư, những người lính dù chỉa súng liên thanh kiểm soát một đoàn người tỵ nạn vô tận, bất thình lình xuất hiện cứ như là họ được dựng dậy từ bùn lầy. Bây giờ dân thường đổ từ khắp mọi hướng về đây. Việt Minh đã đẩy họ vào ô vuông cuối cùng của vòng vây dọc theo bờ biển, để có thể biến mất trong đám đông đó lúc khẩn cấp, và lén thoát được qua phòng tuyến của người Pháp. Các du kích quân của Sư đoàn 320 Việt Minh thế nào thì cũng đã mặc bộ quần áo màu đen của người nông dân trước khi họ thâm nhập vào vùng đồng bằng.

Người Pháp sàn lọc những người đàn ông trẻ tuổi ra. Chẳng bao lâu sau đó, họ tìm thấy các loại giấy tờ đầu tiên: thẻ quân đội, mệnh lệnh trung đoàn, những bài hát chiến đấu ý thức hệ, truyền đơn, hình Hồ Chí Minh, thậm chí một bức ảnh với thống chế Stalin nữa. Thế nhưng vũ khí nằm ở đâu đó trong ruộng lúa. Một chính ủy trung đoàn bị tình cờ phát hiện. Ông bị phát hiện ra trong cái hố dưới mặt đất của ông vì thiết bị dò mìn phản ứng với chiếc đồng hồ đeo tay của ông. Người đàn ông cứ lặng lẽ nhìn u uất ra phía trước và cự tuyệt không khai báo.

Mưa phùn rơi xuống hàng người tỵ nạn vô tận. Vùng Thái Bình là một trong những vùng quá tải dân số nhiều nhất trên toàn thế giới. Đó là một hình ảnh của sự khốn cùng. Khổ cực nhất là những người phụ nữ với con của họ, đã không có gì để ăn từ nhiều ngày nay. Trịnh trọng đi giữa những người phụ nữ nông dân còng lưng là các quan lại trong làng với chòm râu thưa và khăn quấn màu đen của giai cấp họ, các nhà sư Phật giáo trọc đầu và thỉnh thoảng có cả một vị linh mục Công giáo với chiếc mũ thuộc địa và áo linh mục, người dẫn đầu giáo xứ của ông như dẫn đầu một đại đội có kỷ luật. Những con trâu đồ sộ dẫm chân đi bên cạnh đó.

Vào buổi chiều, mặt trời xuyên qua các đám mây và phản chiếu trên đồng ruộng. Giữa những diện tích nước óng ánh và bầu không khí ẩm thấp, những cái dường như chỉ là một nguyên tố, chuỗi màu đen của những người tỵ nạn, bị dồn lại trước một cây cầu, nhìn từ xa trông giống như một chuyến bay tối tăm của những con chim di trú trong một bức họa Trung Hoa phi thực.

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

2 thoughts on “Vị linh mục dũng cảm (hết)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s