Người đàn ông quý tộc và những tin xấu

Hà Nội, đầu 1951

Đường băng của sân bay Gia Lâm ở phía Đông của Hà Nội óng ánh trong cơn mưa phùn lạnh lẽo. Những chiếc máy bay tiêm kích ném bom mới được người Mỹ cung cấp xếp thành hàng ở rìa đường băng. Người Pháp vẫn còn dùng một phi đội Ju 52 cũ kỹ để chuyên chở vật liệu và quân lính. Hà Nội nằm ở bên kia sông Hồng, con sông mang tên của nó thật là đúng. Căng qua trên con sông đang dâng lên cuồn cuộn là các vòm sắt và trụ sắt của cây cầu Paul Doumer, cái mà dưới thời Đệ Tam Cộng hòa đã có lần được ca ngợi là một công trình kỳ diệu của kỹ thuật. Cây cầu này hoàn toàn không thể đáp ứng đủ cho tiếp vận quân đội. Nó bị nghẽn bởi những chiếc xích lô chở quá nhiều hàng hay xe bò của người dân địa phương. Thêm vào đó, tàu hỏa từ và đi Hải Phòng cũng qua đây. Con đường liên kết duy nhất qua sông Hồng này được bảo vệ bởi một lực lượng lính thuộc địa da đen đông đảo, những người mà người ta gọi chung là “người Senegal” , mặc dù phần đông trong số họ đến từ Thượng Volta. Những người da đen lạnh rùng mình trong cái ẩm ướt. Với những con mắt buồn, trên những ngương mặt đen thui như than trông to như một cái đĩa ăn, họ nhìn xuống những đoàn kiến bận rộn của người Việt bé tí hon, những người đứng còn chưa đến vai của người châu Phi cao lều nghều. “Người Senegal”, chẳng bao lâu sau đó đã lộ ra là hoàn toàn không có khả năng chiến đấu chống du kích ở châu Á. Họ cảm thấy lo sợ và nhớ nhà trong sự xa lạ thù địch này. Tất nhiên là họ cũng có vợ bé người Việt của họ, những người bị người dân bản xứ hết sức khinh miệt, vì người Á rất coi trọng sắc tộc. Thường hay có những vụ đâm nhau bằng dao được báo cáo từ các đơn vị da đen, và lúc nào cũng là vì ghen tuông và đàn bà. Các sĩ quan người Pháp thích nhất là gửi họ trở về châu Phi. Trong trường hợp tốt nhất thì có thể dùng họ làm lực lượng canh gác, và cũng chỉ vào ban ngày.

Cầu Long Biên đầu thế kỷ 20. Hình: Wikipedia
Cầu Long Biên đầu thế kỷ 20. Hình: Wikipedia

            So với Sài Gòn, Hà Nội là một thành phố yên tịnh và khắc khổ. Nhịp cuộc sống đập chậm hơn. Trong nước của con Hồ Nhỏ giữa khu trung tâm buôn bán và khu phố người Hoa, các bức tường sặc sỡ của một ngôi chùa nhỏ tạo thành vết màu sắc duy nhất trong sự buồn thảm của cái ngày nhiều mưa này. Ngay đến cái lễ hội nghèo nàn thu hút được một vài đứa bé đi chân đất cũng không có khả năng lan truyền đi được sự vui tươi. Chiếc xe Jeep đón tôi ở phi trường chạy qua những con đường rộng có cây ở hai bên. Các nhà quy hoạch thành phố người Pháp đã thêm thanh danh vào cho tiếng tăm của họ, khi họ phác thảo khu phố hành chính với các dinh thự màu hoàng thổ mà viên toàn quyền Đông Dương thuộc Pháp đã từng làm việc ở trong đó. Chúng tôi đi ngang qua pháo đài, được xây theo kiểu hầm công sự Vauban tối tăm và vào thời gian người Việt Minh nổi dậy trong tháng 12 năm 1946 đã phục vụ cho dân thường người Âu như là nơi trú ẩn. Rồi chúng tôi rẽ vào trong một tổ hợp nhà tương đối đẹp, biệt thự hai tầng sơn màu vàng, trước đó có lính đứng canh. Tôi đã tới trại dành cho báo chí, được một hạ sĩ quan dẫn vào trong một gian phòng rộng với một cái giường khổng lồ và màn chống muỗi, và giới thiệu tôi với viên thiếu tá đang trực, chịu trách nhiệm cho cơ sở này. Thiếu tá Roëllec là một người béo phì vui sống của vùng Bretagne. Mặc cho mặt trời nhiệt đới, ông ấy vẫn còn trắng bệch và cái đầu hói của ông để cho ông trông có vẻ già hơn tuổi tác. Ông bị thương ở ruộng lúa vì một mảnh đạn pháo ở mông, việc mà luôn được bình luận bằng những chuyện tếu lâm rẻ tiền giống nhau trong đám hỗn tạp chủ yếu là nhà báo người Pháp đó. Roëllec là dân nhậu rất cừ, và bất cứ lúc nào có thể thì đều khoe khoang về sức lực tình dục của mình. Mười lăm năm sau đó, khi tôi gặp lại ông ở Lào như là đại tá của lính nhảy dù, niềm tin vào lính dù Pháp của tôi đã bị sốc nặng.

            Trong quầy rượu của trại báo chí có treo nhiều tấm bản đồ lớn. Vừa đang có một cuộc họp báo. Thông tín viên AFP Lulien, người mà tôi quen biết từ Paris, thì thầm giải thích cho tôi rằng quầy rượu này không phải được thiết lập riêng cho giới nhà báo. Trước chiến tranh, tổ hợp này của chúng tôi là một nhà chứa hạng sang, và có những trang bị nội thất nhất định xuất phát từ thời gian đó. Viên đại úy Pháp ở cạnh tấm bản đồ là một người lịch sự nhưng không thân mật, hơi kiêu căng. Có lẽ ông ta cũng chỉ lạnh lùng như vậy vì ông phải thường xuyên thông báo tin xấu, và vì ông có một ác cảm rất Pháp, không thể vượt qua được, đối với nhóm nhỏ các thông tín viên chiến tranh anglo-saxon đã tới Hà Nội sau trận đánh ở Vĩnh Yên. Người Mỹ và cả người Anh quan sát các cố gắng tuyệt vọng của quân đội Pháp ở Bắc Bộ như những người kiểm duyệt nghiêm khắc. Họ tin chắc rằng họ có thể tiến hành cuộc chiến này có hiệu quả hơn nhiều, vâng có thể chiến thắng nó trong thời gian ngắn. Sẽ hoàn toàn không thể chịu đựng được người Mỹ, nếu như diễn tiến của chiến dịch Triều Tiên, bắt đầu trong mùa hè vừa qua, không làm cho họ cảm thấy không chắc chắn. Các thông tín viên người Anh thường là các cựu chiến binh già từ chiến tranh Miến Điện và Thái Bình Dương. Người này hay người kia đã từng là sĩ quan, và lắc đầu nhìn những con gà trống Gallia này, hoàn toàn không phải là niềm ưa thích của [nhà văn] Kipling. Người Pháp cá cược với nhau rằng nhà báo Anh nào là cư dân ngụy trang của Intelligence Service.

            Cuộc họp báo quân đội tương đối ngắn và ít thông tin. Viên đại úy thông báo rằng vào buổi tối tới đây, viên tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Viễn Đông và cao ủy cho Đông Dương, tướng Jean de Lattre de Tassigny, sẽ đến thăm và dùng bữa ăn tối với họ. Người Anglo-Saxon bình thản trước lời thông báo này, nhưng các nhà báo người Pháp thì lại thảo luận sôi nổi vì nó. De Lattre không phải là một viên tướng bình thường. Khi còn là sĩ quan trẻ tuổi, ông đã được phòng tình báo quân đội Đức “Fremde Heere West” phát hiện và ghi nhận. Sau lần sụp đổ của nước Pháp trong mùa hè 1940, con người dòng dõi quý tộc trẻ tuổi này từ vùng Vendée sùng Công giáo đã gia nhập lực lượng “Etat Français” của thống chế Pétain, và chữ ký của ông – sợ kinh hoàng – còn nằm trên một văn kiện của một tòa án quân đội Vichy, tuyên án tử hình “Đại tá” de Gaulle. De Lattre tự phục hồi danh dự khi phiêu lưu chạy trốn sang Bắc Phi năm 1942, sau một cố gắng nổi dậy không thành chống người Đức đang tiến quân về miền Nam nước Pháp. Hoạt động không ngưng nghỉ, ông đã thành lập Đệ Nhất Quân đoàn Pháp, đổ bộ lên vùng Provence trong mùa hè 1944, tiến qua vùng Bourgogne vào tới Alsace, và trong những trận đánh nhiều tổn thất đã có thể lấy lại vinh quang đó, cái mà nước Pháp bị tổn thương đang hết sức cần tới nó.

            Những tuần cuối cùng của chiến tranh đã dẫn Đệ Nhất Quân đoàn Pháp xuyên qua vùng Rừng Đen cho tới tận Bodensee (Hồ Constance) và tới Vorarlberg. Hiện giờ họ đã tự khoác lấy cho mình câu khẩu hiệu tự cao “Rhein và Donau”. Các sĩ quan sợ ông ít nhất là cũng như kẻ thù sợ. Trong vùng chiếm đóng ở Đức, ông đã cư xử như một ông vua và được mọi người gọi là le Roi Jean (Vua Jean). Ở Sigmaringen, người ta cho rằng ông đã đuổi cổ thái tử của dòng họ Hohenzollern ra khỏi lâu đài vì cung cách cư xử của người này theo ông đã không xứng đáng với thời điểm suy tàn của nước Đức, và đã để lại cho ông ta một chiếc xe đạp để đi khỏi đó. Đối với de Lattre, người Pháp tóc không đủ vàng, mắt không đủ xanh và không đủ nhanh nhẹn. Những thói cẩu thả, những cái thật khó mà tẩy trừ ra khỏi các anh chàng ngự lâm pháo thủ Pháp, đã làm cho ông Vua Jean nổi cơn thịnh nộ. Những lần ông đến thăm không báo trước tại các bộ tham mưu và trại lính trong vùng đất người Schwaben lúc nào cũng tạo ra hoảng loạn. Uy quyền của con người kiêu căng này là một hiện tượng thật đáng ngạc nhiên.

Tướng Jean de Lattre de Tassigny
Tướng Jean de Lattre de Tassigny

            Điều đó cũng vẫn như vậy ở Đông Dương, nơi mà de Lattre tiếp nhận một tình trạng vô vọng tại thời điểm khó khăn nhất. Ngay từ đầu, ông đã biết rằng ông sẽ không giành được vòng nguyệt quế nào, thậm chí cũng không có được chiến thắng nào ở Bắc Bộ. Đó là một con đường hy sinh mà con người tự kiêu và nóng nảy này khởi hành. Vào thời điểm đó, chỉ có ông và người bác sĩ của ông là biết rằng ông mắc một chứng bệnh vô phương cứu chữa. Lúc đến Sài Gòn, de Lattre đã yêu cầu toàn bộ sĩ quan đoàn trình diện ở Tân Sơn Nhứt. Quy định phải mặc quân phục nhiệt đới màu trắng. Viên tướng với đôi mắt tinh tường phát hiện ra trong cái khối vuông màu trắng như tuyết đó một trung tá béo mập bất hạnh, xuất hiện trong ka ki từ những lý do nào đó. “Anh sẽ được chở về Pháp trong chuyến bay kế đến”, de Lattre rít lên, và rồi nói với những người đang ở đó: “Tôi nhìn thấy ở đây quá nhiều đại tá và quá ít thiếu úy.” Ông nói rất đúng.

            Ở trận đánh Vĩnh Yên, con người quý tộc miền tây nước Pháp này đã ở tuyến đầu cùng với người của ông, Kể từ lúc đó, ông được quân đội càng yêu mến hơn. Cả ở Hà Nội người ta cũng nhìn thấy các sĩ quan tham mưu vội vã chạy qua sân trại lính để đổ đi những mảnh giấy và rác cuối cùng, khi ông ấy sắp đến thanh tra. Lính thường chỉ có thể khoái trá những điều đó thôi.

            Thiếu tá Roëllec thích nhất là cử luôn cả các nhà báo trong trại báo chí đi quét tước và lau chùi, trước khi ông Vua Jean tới thăm họ. Thay vì vậy, ông đuổi nhóm phụ bếp như đuổi thỏ hết lên cầu thang lại xuống cầu thang, và động viên khích lệ những người đàn bà lau chùi quét dọn. Trưởng lão của các thông tín viên Pháp, Max Olivier của tờ “Figaro” ít ra thì cũng khám xét xem móng tay đồng nghiệp ông có sạch không. Việc đó diễn ra không phải là không có phản đối. Báo chí Pháp được đại diện ở Hà Nội tốt hơn là trong ban biên tập nào đó ở Paris. Ở đó có Olivier đã được nhắc đến, một ông khổng lổ theo đạo Tin Lành từ vùng Cévennen, một người mà không điều gì có thể làm cho ông ta mất bình tỉnh được, và là một người biết tường thuật về Ấn Độ một cách hết sức lôi cuốn, nơi mà ông là thông tín viên vào thời tuyên bố độc lập. Ấn tượng mạnh nhất của ông từ thời gian đó là đám tang của Gandhi: bệ thiêu xác cao của Mahatma bị ám sát mà hàng trăm ngàn con người giận dữ, la hét, khóc lóc chen chúc nhau quanh đó; đám đông người liên tục đổ tới nơi thiêu xác như một dòng dung nham; cảnh sát người Sikh khổng lồ dùng gậy của họ đánh vào đám đông và đập nát xương vai với xương sọ của những người ở hàng đầu. Ít lâu sau đó, Olivier được cho là đã làm quen với một người phụ nữ Hàn Quốc từ một gia đình danh giá trong lúc dự lễ nhà thờ Tin Lành ở Seoul, người mà ông đã kết hôn và hạnh phúc mang theo về Pháp.

            Julien của AFP được cho là một người có bản tính vui vẻ, đơn giản. Bên cạnh công việc làm, dường như ông đi tìm mục đích sống thật sự của mình trong những cuộc truy hoan không ngưng nghỉ, những cái mà người ta không tin là anh chàng gầy gò kiểu thầy giáo này lại có khả năng. Ai cũng biết rằng ông có một người đàn bà Á lai Âu rất đẹp ở Sài Gòn, điều mà hoàn toàn không làm cho ông buồn phiền ở Hà Nội. Số phận đến với Julien, khi ông ăn nằm với vợ của một phi công quân đội Pháp đúng vào lúc người này bị bắn rơi. Sự trùng hợp này có ảnh hưởng sâu đậm tới Julien, người mà người ta cho rằng ông hoàn toàn không có khả năng có những cảm xúc như vậy, tới mức ông kết hôn với người vợ góa và bắt đầu từ đó trở thành người chồng ngoan ngoãn nhất Đông Dương.

            De Lattre đến trong trang phục dân sự và làm cho tất cả mọi người đều ngạc nhiên. Ông cư xử hết sức lịch sự với đám báo chí, giống như ông đang giao thiệp với những người cùng đẳng cấp. Ông quan tâm tới trước hết là các nhà báo Mỹ. Tiếng Anh của ông thật tồi và khiến cho người ta nhớ tới giọng nói biếm của [diễn viên] Maurice Chevalier. Mặc dù vậy, de Lattre hoàn toàn không làm cho người ta cảm thấy buồn cười. Những tên yankee mà ông chinh phục được họ một cách nhanh chóng đến mức đáng ngạc nhiên, nhận thấy rằng viên tổng tư lệnh Pháp này giống người đồng nhiệm Mac Arthur ở Triều Tiên vể thể chất cũng như về tâm lý tới mức đáng kinh ngạc. De Lattre, ông hoàn toàn không che dấu điều đó, hoàn toàn không có ảo tưởng. Chỉ có thể nghĩ tới sự tự khẳng định của quân đội Pháp ở Đông Á khi nó là một phần của một thế lực lớn thuộc “Thế giới Tự do”, như người ta hay nói vào thời đó. Đứng trước cuộc cách mạng Mác-xít trên Trung Hoa lục địa, ông dựa vào lá bài tình đoàn kết Pháp Mỹ, nhưng hẳn ông cũng biết rằng một hoạt động như vậy chắc chắn là sẽ thất bại. “Khi người Trung Quốc đến…”, ông nói và rồi nhún vai trong một cử chỉ bất lực. Vị tướng dự định bay sang Washington trong thời gian tới đây, để quảng bá cho hoạt động của nước Pháp tại Đông Dương trong giới công khai, và, đây là điều mà ông phải cảm thấy thật bẽ mặt, kêu gọi Quốc Hội chấp thuận trợ cấp thêm về tài chính và cung cấp thêm vũ khí cho đạo quân viễn chinh của ông.

            Khi de Lattre đi khỏi, một thiếu úy của Service de Presse quay sang những người đang hiện diện với một câu hỏi: “Chúng tôi nhận được điện từ Sài Gòn, rằng có một nhà báo người Mỹ tên là Graham Greene đã tới đó. Có ai ở đây biết ông ấy hay không?” Tiếng cười rộ thật to trả lời cho ông.

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on “Người đàn ông quý tộc và những tin xấu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s