Gương mặt mới của chiến tranh

Sài Gòn, đầu 1951

Bốn năm sau đó, tôi ngồi trong chiếc máy bay Paris – Sài Gòn, trong một chiếc DC 4, cái cần đến ba ngày và hai lần ngủ qua đêm ở Cairo và Karachi mới tới được điểm đến. Phần lớn hành khách đều là những người đàn ông khỏe mạnh trong tuổi đi lính. Họ có tóc hớt kiểu bàn chải của quân đội, nhưng tất cả đều mặc thường phục, vì các cơ quan ở Calcutta, những người miễn cưỡng đã đủ khi nhân nhượng cho chiếc máy bay của Air France này đỗ lại, không muốn nhìn thấy quân phục Pháp. Giới báo chí Paris đã đưa những tin xấu từ Viễn Đông bằng những cái tít thật to. Đầu tiên, các kế hoạch bảo vệ đồng bằng sông Hồng đã rơi vào tay của địch thủ vì bị phản bội. Rồi đến viên tổng tham mưu Pháp lúc bấy giờ, người có cái tên đáng ngờ là “Revers”, cái có nghĩa là thất bại hay bại trận, đã quyết định rút các đồn lính ở biên giới quá muộn, những đồn lính có nhiệm vụ che chắn Bắc Kỳ trước các tỉnh láng giềng của Trung Quốc.

Lính của tiểu đoàn 1 dù lê dương đang chiến đấu trên Quốc lộ 4, tháng 9 năm 1950
Lính của tiểu đoàn 1 dù lê dương đang chiến đấu trên Quốc lộ 4, tháng 9 năm 1950

Các tiền đồn đó nằm trong mối nguy chết người kể từ khi quân đội toàn thắng của Mao Trạch Đông tiến quân vào cho tới vùng phía nam của Quảng Đông và Vân Nam. Nước Cộng hòa Nhân dân đã đứng rõ về phía của Hồ Chí Minh, cung cấp vật liệu cho những người đồng minh đỏ và đào tạo cho quân đội cách mạng Việt Nam ở Nam Ninh theo các phương pháp đã được thử thách của cuộc chiến tranh giải phóng nhân dân. Trên đường rút lui từ thành phố Cao Bằng nhỏ ở biên giới, một đoàn quân ba ngàn người của Pháp đã bị phục kích trên những khúc quanh chữ chi của con đường xuyên rừng trên núi và trên thực tế đã bị tiêu diệt. Đồn Lạng Sơn chỉ tự cứu thoát được mình bằng cách hấp tấp tháo chạy bỏ lại toàn bộ vật liệu. Với lần chiến thắng của cuộc cách mạng Mao, vành đai ngăn chận của Pháp ở phía Bắc của Đông Dương không còn có thể giữ vững được nữa. Báo chí ở Paris chuẩn bị cho giới công chúng Pháp, giới công chúng mà trước sau gì thì cũng xa lánh cuộc chiến ở Viễn Đông, nếu như họ không giận dữ đấu tranh chống lại nó, về lần chiến bại mang tính quyết định của đạo quân viễn chinh trong tam giác của sông Hồng. Cuộc chiến tranh Đông Dương có tên là cuộc chiến tranh bẩn thỉu – la sale guerre – trong những quyển sách nhỏ của ĐCS Pháp, và ở Marseille, nơi các công nhân bốc xếp ở bến tàu thường đình công tại những chiếc tàu đi đến Sài Gòn, lực lượng tăng cường phải xuống tàu trong sự che chở của bóng tối. Ngay đến quan tài của những người đã hy sinh cũng được bí mật mang xuống tàu.

Lần này tôi đến Sài Gòn như là một nhà báo. Tôi tìm thấy “Pasha” mà không cần lâu lắm. Ông ấy ngồi tháo mồ hôi trong một căn hộ trên đường Catinat và loay hoay đầy trìu mến cạnh một cái máy phát, cứ như thể đó là một cái máy của địa ngục. Không nhận ra được, rằng hiện giờ ông đã có hai ngôi sao đô đốc đầu tiên. “Pasha” đang lập một đội Commando mới từ lính hải quân. “Anh đừng ở lại Nam Kỳ”, ông khuyên tôi. “Ở đây chỉ còn có việc thường ngày và sự cẩu thả thôi. Anh hãy ra miền Bắc, hiện chúng tôi đang chơi những lá bài cuối cùng của chúng tôi ở đấy.” Hai ngày trước đó, một trận tấn công lớn của Việt Minh, được tiến hành bởi bốn mươi tiểu đoàn trong những đợt xung phong sát nhau để chiếm pháo đài Vĩnh Yên, đã sụp đổ trong làn đạn của người Pháp. Quân đội cách mạng, sử dụng phân nửa của toàn bộ lực lượng của họ và sau khi tràn ngập được cứ điểm Việt Trì đã tin là nắm được phần thắng, đã mất 8000 người trong trận đánh kéo dài năm ngày. Tổng tham mưu Việt Nam Giáp, một lãnh tụ du kích quân thận trọng, đã chống lại lần mạo hiểm đánh trận công khai này, thế nhưng ông ấy đã bị phủ quyết trong Bộ Chính trị của Đảng “Lao Động”, đảng cộng sản nòng cốt cứng rắn của Việt Minh. Người Việt đỏ không may. Họ bất thình lình phải đối diện với một viên tổng chỉ huy mới của người Pháp, tướng de Lattre de Tassigny, người đích thân ra đến tận chiến tuyến đầu để tạo can đảm cho quân lính, và là người đã sắp xếp mới các sư đoàn Pháp đang có được lại thành các combat teams cơ động. Nhưng mang tính quyết định trước hết là sự can thiệp của không quân, đã được tăng cường bởi những cung cấp hết sức vội vã của người Mỹ. Các nhà chiến lược của Việt Minh đã không chuẩn bị trước cho lần ném bom napalm. Kể từ chiến thắng cuối cùng của Mao Trạch Đông, các chiến binh đỏ đã có được một hậu phương khổng lồ, bất khả xâm hại. Thế nhưng người Pháp, chuyến phiêu lưu thuộc địa muộn màng của họ mới đây đã còn là một cái gai trong mắt của giới ngoại giao Washington, bây giờ lại có thể dựa vào sự giúp đỡ và tình đoàn kết nhiều hơn nữa của người Mỹ, kể từ khi Hoa Kỳ bị vướng sâu vào trong cuộc xung đột Triều Tiên.

Hình ảnh của thành phố Sài Gòn đã biến đổi hoàn toàn trong vòng bốn năm vừa qua. Những dấu vết cuối cùng của sự đổ nát và dơ bẩn, hậu quả từ lần chiếm quyền lực ngắn ngủi của các nhà cách mạng Việt Nam trong năm 1945, đã được dọn dẹp từ lâu. Hơn bao giờ hết, bây giờ Sài Gòn giống như một préfecture êm đềm của Pháp ở miền nhiệt đới. Trong những cửa hàng trên Rue Catinat có hàng hóa xa xỉ. Giới Mafia Corse và những kẻ đầu cơ khác làm giàu qua traffic de la Piastre. Tiền tệ của Đông Dương, Piastre, bị những kẻ đầu cơ gom mua với giá rẻ đến buồn cười trên thị trường chợ đen và được chuyển khoản với giá chính thức cao gấp nhiều lần về nước mẹ. Trong lúc đó, những lứa sĩ quan trẻ tuổi của ngôi trường chiến tranh Saint Cyr lại đổ máu trên đồng ruộng. Những người đi phép gầy gò, bị bệnh sốt rét hành hạ căm ghét nhất là các sĩ quan tham mưu béo mập ở hậu phương, những người với cái đầu đỏ chiều chiều ngồi trên hàng hiên của khách sạn “Continental” uống rượu cognac và vào ban đêm kéo đi những cô gái điếm Việt Nam đẹp nhất. Hiện giờ, lực lượng chiến đấu phải hài lòng với Parc aux buffles, cái chiếm một diện tích khổng lồ ở đầu đại lộ Galiéni. “Công viên Trâu” là một nhà chứa của quân đội, nơi có khoảng một ngàn cô gái bán dâm An Nam và Campuchia vừa ồn ào và cười khúc khích vừa hành nghề của họ. Họ tranh điểm sặc sỡ, hầu như không mặc quần áo và phần đông xinh đẹp đến mức đáng ngạc nhiên. Những người lính, vừa mới bước vào sân trong của Công viên Trâu qua điểm canh gác ở cổng và hầu như không tin vào mắt họ, thật sự là đã bị lột quần ra.

Quân đội Đông Dương diễu hành ở Sài Gòn năm 1951
Quân đội Đông Dương diễu hành ở Sài Gòn năm 1951

Tuy vậy, cuộc chiến cũng không dung thứ hoàn toàn cho thành phố Sài Gòn vừa quê mùa đồng thời cũng vừa không biết ngượng này. Vào ban ngày, quán rượu, nhà hàng nào cũng được bảo vệ bởi một tấm lưới có mắt dầy, kể từ khi những kẻ ám sát của Việt Minh hay quẳng lựu đạn vào người mặc quân phục. Vào đêm, hỏa châu chập chờn trên những cánh đầm lầy của Rừng Sát ở bên kia sông Sài Gòn. Vào lúc đó, không phải là không có nguy hiểm khi đi xe xích lô vào khu phố Chợ Lớn của người Hoa, nơi mà một xã hội đóng kín của một triệu người Hoa, những người hưởng lợi từ chiến tranh nhiều hơn là tất cả các người Pháp cộng lại, cứ làm như là họ hoàn toàn không có liên quan gì đến việc bắn nhau và giết người đó. Trong các sòng bạc của “Grand Monde”, những cái giỏ mạt chược chỉ còn dành cho dân nhà nghèo, trong khi các thiên tử khá giả đặt những số tiền khổng lồ với những gương mặt như hóa đá tại các thiết bị đánh bạc chạy bằng điện hiện đại xuất phát từ Hoa Kỳ. Ở ngay cạnh “Grand Mode” và những thói xấu của nó có những ngôi nhà bằng gỗ ván nghèo nàn nằm nép mình cạnh bờ sông hôi thối, đầy chuột. Hàng trăm chiếc thuyền là nhà ở kết lại với nhau ở đây, và các chính ủy của Việt Minh đi lại trong khu phố nghèo này giống như con cá trong nước đã được trích dẫn nhiều lần.

Tôi rời Sài Gòn đi về hướng Nam vào sáng sớm. Cả ở Nam Kỳ, cuộc chiến cũng có một gương mặt mới. Con đường trải nhựa đến Mỹ Tho và Cần Thơ có những tháp canh gỗ viền ở hai bên, một quang cảnh khiến cho người ta nhớ đến các trại lính La Mã. Những cái tháp canh này, được xây trong tầm mắt nhìn thấy để có thể báo tín hiệu cho nhau, được cho là xuất phát từ một phát minh của tướng Galiéni, người trong thế kỷ 19 với chiến lược “vết dầu loang” của ông ấy đã bình định được đảo Madagascar. Các vị trí xung quanh những công sự lỗi thời này được che chắn bởi chướng ngại vật bằng tre sắc như dao. Vì cách thức bảo đảm an toàn này chôn chân quá nhiều lực lượng, nên bộ tổng chỉ huy Pháp chuyển sang thay thế quân lính của mình bằng “lực lượng trợ giúp tình nguyện” người Việt, bằng những người tình nguyện chống cộng sản. Các đồng minh mới này của Pháp trông không gây nhiều tin tưởng cho lắm.Họ mang quần áo màu đen của người nông dân trồng lúa. Đặc biệt là về đêm, tinh thần của các binh nhất và hạ sĩ quan Pháp, những người chỉ huy các chiến lợi phẩm-du kích quân, bị thử thách cao độ. Vì vào lúc đó, ở trong các ruộng lúa bắt đầu có tiếng xào xạc, tiếng bò trườn và tiếng súng bắn. Loa phát thanh bất thình lình hét to những bài hát hay câu khẩu hiệu cộng sản và dân tộc từ trong bóng tối và khiến cho ếch nhái câm lặng. Chỉ một vài người lính canh trong các công sự đơn độc là có những biện pháp tâm lý chống lại, như người hạ sĩ quan có râu từ Auvergne, người đêm đêm đặt những cái đĩa hát trầy trụa của mình lên, và nhờ vào một cái máy khuyếch đại mà để cho các bài nhạc valse Wien kêu ầm ngược lại.

Người Pháp nắm tương đối chắc Nam Kỳ ở trong tay. Các giáo phái chiến đấu, Cao Đài và Hòa Hảo, đã ký kết hòa bình của họ với Paris. Trong lãnh thổ của họ, họ lo sao cho những người Việt Minh thâm nhập vào bị săn lùng một cách không thương tiếc. Họ cũng hăng hái tương tự như người Cộng sản và từng trải trong chiến tranh du kích. Đặc biệt là người của Hòa Hảo không hề lùi bước trước bất cứ một sự tàn nhẫn nào. Trong tỉnh Bến Tre, các giáo phái được tăng cường bởi lực lượng của một viên thiếu tá Công giáo, một người nửa Âu nửa Á được gọi là Leroy. Leroy không để cho người khác đùa với mình. Trong khu vực quanh Sài Gòn – Chợ Lớn, người Pháp đã bước vào một liên minh hết sức phi đạo đức với một đảng cướp trên sông, Bình Xuyên. Những kẻ cắt cổ người này không những được trao cho quyền hành cảnh sát của Sài Gòn mà còn cả lợi nhuận khổng lồ của các sòng bạc trong “Grand Monde” ở Chợ Lớn nữa. Người dân sợ và căm ghét dân Bình Xuyên. Họ làm việc hiệu quả đến mức đáng ghê sợ, và có những tin đồn kinh khiếp về những phương pháp hỏi cung của họ. “Chúng tôi đã lún sâu lắm rồi”, Pasha cười khi tôi gặp lại ông ở phi trường Tân Sơn Nhứt, để bay ra Hà Nội với chuyến bay đặc biệt của ông. “Lúc còn ở Tây Ninh, đã có ai nghĩ rằng những kẻ ngu ngốc của Cao Đài đó sẽ có lần là chiến hữu không thể thiếu được của chúng tôi chứ?”

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on “Gương mặt mới của chiến tranh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s