Nam Kỳ đầu 1946 (phần 2)

Với những lỗ châu mai, thành lũy và tháp của nó, pháo đài cũ của Pháp ở Tây Ninh nằm – nhìn từ xa – giống như một món đồ chơi trong mặt trời về chiều. Nó xuất phát từ thời đầu của cuộc thuộc địa hóa, khi những người Pháp đầu tiên xâm chiếm ở Nam Kỳ còn phải chống lại cướp sông. Màn chống muỗi được giăng ra trên những cái giường xếp. Bóng tối đến bất chợt, và màn đêm oi bức dính da. Những người lính ăn khẩu phần của họ. Rượu vang đỏ được lấy ra từ ở đâu đó. Người ta ồn ào trong những công sự của cái pháo đài xưa cũ. Vào buổi chiều đã có một nhóm cảnh sát chính trị đặc biệt từ Sài Gòn đến, phần nhiều là người Âu Á. Họ đã hỏi cung tù binh. Đã có tra tấn trong lúc đó, như chúng tôi nghe được lúc đến pháo đài. Người ta nhúng đầu của các nghi phạm vào trong một cái thùng nước cho tới khi họ chịu cung khai. Đó được gọi là la baignoire – bồn tắm. La gégène, cực hình bằng điện nhờ vào một cái máy phát điện nhỏ, thời đó vẫn còn chưa thông dụng ở Đông Dương. Nhưng những người Á, người ta nói thế, có những biện pháp tinh xảo và đáng sợ để bắt những kẻ cứng đầu cũng phải nói. Đau khổ cho những người Âu nào còn sống mà lọt vào tay của du kích quân! Chúng tôi đã nhiều lần thấy xác chết người Pháp trôi nổi trên sông nước của Nam Kỳ mà tinh hoàn của họ bị nhét vào mồm và đã bị đóng cọc xuyên qua người bằng một cây tre. Trong khi nhóm lính làm ồn ào và đòi gái Campuchia, những nhóm tiền đồn hai người hay ba người đóng ở rìa của khu rừng. Trong sự đơn độc nguy hiểm này, sự hoang dã dường như đầy những tiếng ồn của thế giới động vật. Một con côn trùng càng nhỏ thì lại càng gây ra nhiều tiếng động. Trong lúc đó có những cái gì đó chạy vụt qua và kêu sột soạt. Một cuộc săn đuổi và giết nhau không thương xót đang diễn ra trong thiên nhiên về đêm. Chỉ có nỗi lo sợ phải xấu hổ là ngăn chận những người lính đang đóng ở bên ngoài bắn bừa vào cái thế giới xung quanh đang kêu lách cách, rì rì và ken két đó, thế giới mà người ta không nghe thấy được những người do thám của quân địch có thể đang bò tới trong sự che chở của nó.

Lực lượng Commando Parachutiste Ponchardier trên Rue Catinat, Sài Gòn, ngày 30 tháng 19 năm 1945
Lực lượng Commando Parachutiste Ponchardier trên Rue Catinat, Sài Gòn, ngày 30 tháng 19 năm 1945

            Trong một căn phòng trong tháp, các sĩ quan đánh giá thông tin do một nhân viên tình báo từ Sài Gòn vừa trình bày cho họ. Người chuyên viên của Phòng Nhì là một người lai người Hoa, với một khuôn mặt chim, rình rập. Ông đã đóng phần chính trong các cuộc tra tấn. Người Pháp đã đánh mất phần lớn những ảo tưởng mà họ đã quay trở lại Đông Dương cùng với chúng vào lúc ban đầu. Thời đó, các đặc phái viên của de Gaulle – một phần còn trước khi Nhật Bản đầu hàng – đã nhảy dù xuống những vùng nổi dậy của người dân bản xứ, vì ở Paris người ta tin rằng các du kích quân chống Nhật sẽ chào đón họ như bè bạn và người giải phóng. Phần lớn những con người liều lĩnh đó đã bị giết chết rất nhanh chóng dưới những cực hình đáng sợ. Những người sống sót – theo thủ tướng sau này Pierre Messmer – phải mừng là các du kích quân đỏ đã nhốt họ lại trong cũi tre, nơi họ phải chịu dựng sự phỉ nhổ của người dân và bị ném trứng thối.

            Người đàn ông của Phòng Nhì nói về một thay đổi trong tình hình chính trị ở Tây Ninh. Vào lúc ban đầu, đạo quân viễn chinh còn tìm kẻ thù chính ở Đông Dương trong các giáo phái và các nhóm người thỏa hiệp với người Nhật và hy vọng được độc lập nhờ vào lòng khoan dung của Nhật Hoàng. Ở các tỉnh quanh Tây Ninh thì đó trước hết là giáo phái pha trộn Cao Đài với một triệu rưỡi người. Ở đồng bằng sông Cửu Long, ở rìa của những cánh đồng lau sậy, thì là phong trào của các chiến binh phật tử Hòa Hảo, có tròn 600.000 người theo đạo. Nhưng mới đây, những người tôn giáo quá khích rối rắm này, sở hữu lực lượng dân quân có khả năng chiến đấu, nhìn thấy họ bị đe dọa bởi lần trỗi dậy của mặt trận cách mạng đỏ của Việt Minh. Họ phản ứng với sự thù địch mang tính bản năng chống lại hệ tư tưởng duy vật của các cán bộ cộng sản, những người với sự nhiệt tình của một tông đồ đã xúi giục người nông dân nổi dậy, và ngay từ bây giờ đã tìm cách hòa hoãn với thế lực thuộc địa trước đây, dưới điều kiện là người Pháp sẽ tôn trọng quyền tự trị của Cao Đài và Hòa Hảo. Từ bây giờ thì đã rõ, rằng các giáo phái này có thể sẽ trở thành những đồng minh quý giá, vì dường như chỉ riêng họ mới sở hữu được động lực tinh thần không thể thiếu được để đứng vững trước làn sóng tấn công ý thức hệ của chủ nghĩa cộng sản.

            Phe chống cộng sản của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam vẫn còn nhìn thấy trước mắt mình cảnh tượng đáng thương hại của hoàng đế An Nam, Bảo Đại, nghĩa là “Người gìn giữ cái lớn”, người trong tháng 4 năm 1945 đã được người Nhật tuyên bố trở thành người đứng đầu của một vương quốc Việt Nam độc lập và trong lúc đó đã dựa trên đảng Đại Việt thân Nhật và các quan lại ở Huế. Bảo Đại, năm 1925 trở thành hoàng đế lúc mười hai tuổi, chỉ có thể tự khẳng định mình được một vài tuần trước người dẫn đầu du kích quân có chòm râu dê đó từ vùng Bắc Kỳ ở phương Bắc, người dưới cái tên Hồ Chí Minh đã tuyên bố thành lập nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Hồ Chí Minh không phải là kẻ xa lạ đối với các cơ quan mật vụ Pháp. Ông ấy đến Pháp như là một người thợ rửa ảnh trẻ tuổi và ngay từ năm 1920 đã có mặt trong lúc thành lập Đảng Cộng sản Pháp ở Tours như là một đồng chí từ Viễn Đông. Sau đó, ông đi qua trường lớp của Đệ Tam Quốc tế trước khi bắt đầu cuộc đấu tranh chống người Nhật trong Đệ nhị thế chiến từ ở biên giới Nam Trung Quốc với một nhóm nhỏ những người trung thành. Trong thời gian đó, điều ngược đời là Hồ Chí Minh còn hưởng được sự trợ giúp của mật vụ Mỹ OSS đóng ở tỉnh lỵ Trung Quốc Côn Minh và giúp đỡ Việt Minh, phong trào tập hợp quốc gia của những người cộng sản Việt Nam, với vũ khí và tiền bạc.

            Trong những ngày đó, “Pasha” vẫn còn hy vọng rằng đội Commando của ông ấy có thể sẽ được triệu tập để thực hiện những hoạt động lớn lao. Trong nửa phần phía Nam của Đông Dương, qua một chiến dịch, quân đội viễn chinh Pháp đã có thể đứng vững được nhờ vào lòng rộng lượng của Anh quốc. Nhưng ở phía Bắc của vĩ tuyến 16 – ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và ở Bắc Lào –, theo như trong Hiệp định Potsdam quy định, được giao trách nhiệm tước vũ khí người Nhật là quân lính Trung Quốc của Tưởng Giới Thạch, các sư đoàn của Quốc Dân Đảng. Họ đã đứng vững như là thế lực chiếm đóng mới, và rõ ràng là hoàn toàn không hề nghĩ đến việc trao trả lần chinh phục bất ngờ này lại cho các ông chủ thuộc địa Pháp ngày xưa. Nếu như theo ý muốn của Roosevelt, người kiên quyết chống chính sách thuộc địa một cách mơ mộng, thì lẽ ra đã không còn có một người lính Pháp nào được phép quay trở lại Đông Dương. Nhưng Roosevelt đã chết khi Nhật hoàng đầu hàng, và người Anh rất muốn nhìn thấy người Pháp và người Hà Lam bấu chặt vào các sở hữu trước kia của họ, những cái mà người Nhật đã để lại trong loạn lạc và lộn xộn. Có lẽ họ cần phải hướng cơn bão của chủ nghĩa dân tộc châu Á đến một vùng đệm ở Đông Dương và Indonesia mà trong sự bảo vệ của vùng đệm này, Liên hiệp Anh – trong con mắt của người Pháp vẫn còn là “nước Anh xảo trá” – bắt đầu tiến hành chính sách Thịnh vượng Chung tự do và có tầm nhìn xa của mình trên tiểu lục địa Ấn Độ.

(Còn tiếp)

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s