Nam Kỳ đầu 1946 (phần 1)

Ngay khi đoàn xe vừa rời khỏi Sài Gòn và tới những đồn điền cao su của tỉnh láng giềng ở phía tây-bắc, những dấu vết của cuộc chiến tranh du kích đã có thể nhận thấy rõ. Đường trải nhựa bị đào nát bởi những con hào sâu, những con hào mà người nông dân thường xuyên phải đào chúng vào ban đêm dưới sự chỉ huy của các chính ủy đỏ. Những cái hố đó đều đặn cho tới mức chúng được người Pháp gọi là “phím dương cầm”. Bầu trời ban mai có màu xanh vàng ở hướng Đông. Chúng tôi đi xe về hướng Tây Ninh, và chẳng mấy chốc, ở bên kia của những lá dừa và những cánh đồng lúa vô tận, chúng tôi khám phá ra một ngọn núi đen, đe dọa nhô lên từ đồng bằng bằng phẳng. Ngọn núi đó có tên là “Bà Đen”, và báo hiệu biên giới của Campuchia. Thời đó đã có ai mà đoán trước được rằng đến một ngày nào đó, các lính Mỹ sẽ ngước lên nhìn ngọn “Black Virgin” này như ngước lên nhìn một nữ thần trả thù.

Special Forces của Mỹ chuẩn bị tấn công núi Bà Đen, 1964
Special Forces của Mỹ chuẩn bị tấn công núi Bà Đen, 1964

Chúng tôi bỏ xe và con đường lại ở phía sau. Hàng bầy khỉ chạy vút qua trong rừng tre. Mặt trời lên đến đỉnh quá nhanh. Tiếng chim hót chết dần với độ nóng tăng lên. Màu xanh của cây cỏ trở thành đen. Không khí lung linh. Đối với đội Commando, đây là một cuộc hành quân thông thường. Những người lính đi như những hình bóng có thể nhận thấy rõ ràng trên các con đê chia cắt ruộng lúa trần trụi, cho tới khi người ta nhắm bắn họ từ ở đâu đó. Có rất ít nguy hiểm, các du kích quân Việt Nam thời đầu được trang bị vũ khí rất nghèo nàn và được đào tạo còn tồi tệ hơn nữa. Người Pháp chỉ có tổn thất khi thành viên của “Kempeitai”, hiến binh Nhật, những người bị truy lùng ở Sài Gòn như những kẻ phạm tội chiến tranh, tiếp sức và chỉ huy quân nổi dậy. Cuộc hành quân đã kéo dài nhiều giờ rồi, di chuyển trong một vòng cung bán nguyệt quanh “Núi Bà Đen” đến biên giới Campuchia. Ruộng lúa đã bị mặt trời đốt thành gạch cứng như đá. Như trong cơn sốt mê man, những người đàn ông trong đội Commando nhìn xuống các đường nứt trong đất bùn và mẫu hình không đều đặn của gốc cây khô. Mồ hôi chảy vào mắt gây xót. Vài tiếng súng phát ra từ một ngôi nhà nằm ẩn trong tre. Những người Pháp xác định phương hướng, cắm lưỡi lê lên những khẩu tiểu liên Sten loại đã được rút ngắn để đánh giáp lá cà, rồi vừa bắn từ ngang hông vừa xung phong về phía bụi rậm đó. Vài bóng người chạy vụt qua ruộng lúa, sa vào trong loạt đạn của khẩu liên thanh hạng nhẹ đã vào vị trí, và ngã xuống.

            Chúng tôi tiến đến gần người chết. Đó là một hình ảnh thật đáng thương: những con búp bê vàng nhỏ bé với tứ chi vặn vẹo. Những khẩu súng Lebel đã lỗi thời của họ nằm bên cạnh họ giống như những món đồ chơi. Những đôi chân gân guốc gầy còm lòi ra từ chiếc quần ngắn. Không thể nói là đồng phục, nhưng trên chiếc áo màu đen của mình, họ đã may mảnh vải đỏ với ngôi sao vàng đó lên, biểu tượng cho cuộc cách mạng Đông Dương. Tức là những người đã tử trận này không phải là thành viên của giáo phái Cao Đài kỳ lạ đó, những người sở hữu ngôi đền thánh khoa trương của họ ở Tây Ninh và cũng chiến đấu chống lại người Pháp, mà là du kích quân của Việt Minh, mặt trận giải phóng Việt Nam đó của cộng sản mà từ bây giờ trở đi dưới những tên gọi thay đổi sẽ làm cho công chúng thế giới ngẹt thở ba mươi năm dài.

            Người dân các làng lân cận đã bỏ trốn khi những người lính xa lạ kia đến gần. Đó là những căn nhà khiêm tốn hình chữ nhật. Trang bị đồ đạc chỉ gồm một cái giường gỗ rộng và một vài chiếc chiếu. Nhưng không ở đâu lại thiếu bàn thờ tổ tiên. Những ngôi nhà nhỏ nghèo nàn này hết sức ngăn nắp và sạch sẽ. Một người châu Âu cũng có thể sống ở đây. Những người lính đổ đầy bi đông nước của họ từ những vại sành to mà trước nhà nào cũng có. Nước có bùn và âm ấm. Thật không có gì đáng phải ngạc nhiên khi ngày càng có nhiều người mắc bệnh lỵ amíp. Người ta châm lửa đốt trước khi tiếp tục hành quân. Một que diêm là đã đủ, mái nhà bằng rơm cháy rực lửa. Những con trâu mà nông dân bỏ lại lúc chạy trốn bị bắn chết. Cả một đền thờ Cao Đài nhỏ cũng bị đốt cháy. Tôi còn có thể nhìn lần cuối xuyên qua làn khói vào đến cái bàn đơn sơ, nơi các thánh của tôn giáo pha trộn lộn xộn này được đặt thành hàng ở trên đó. Tôi để ý đến một ông phật nhỏ bằng đất, bụng to, giơ bàn tay nhỏ bé lên với một nụ cười tinh ranh và cưỡi trên một con cọp trong lúc đó.

            Trong lần tập kích kế tiếp, đội Commando bị tổn thất một chết và hai bị thương. Đổi lại, xác chết của mười du kích quân đỏ trôi trong làn nước hôi thối của con kênh nước tưới ruộng. Cuộc họp bàn về tình hình được tiến hành trong một ngôi nhà tương đối lớn. Đại tá Ponchardier, được những người lính của ông gọi là “Pasha”, bực tức. Đây không phải là một cuộc chiến tranh được ông ưa thích. Người đàn ông thấp người chắc nịch, có dáng như một người bắt bóng chày, đã có lần cùng với đội đặc biệt của mình thực tập nhảy dù xuống Singapore chung với Special Air Service của Anh. Cuộc chiến chống du kích quân ở Nam Kỳ không phải là một việc có thể thay thế được cho chuyện đó. Người ta không thể phân biệt được Ponchardier với những người lính của ông ấy, khi ông ở trần ngồi trên chiếc nón dã chiến của ông, khẩu tiểu liên bao giờ cũng nằm trong tầm tay. Ông đeo một cái kèn ô tô cũ kỹ ở thắt lưng, cái mà ông thỉnh thoảng lại để cho nó kêu thé lên trong lúc hành quân, giống như những người khác thổi kèn tập họp. “Pasha” với đơn vị nhỏ bao gồm 150 người của ông đứng trực tiếp dưới quyền của tổng chỉ huy Pháp ở Đông Dương. Lính của ông chỉ chào sĩ quan riêng của mình và nhìn ít nhiều khinh thường xuống các trung đoàn còn lại của quân đoàn viễn chinh, những người đã theo họ đến Sài Gòn.

            Là sĩ quan trẻ, Ponchadier đã gia nhập “Người Pháp Tự do” của de Gaulle ngay từ năm 1940 và trong thời gian bị chiếm đóng đã cùng với người anh em Dominique của ông, người trông hết sức giống ông, thành lập tổ chức kháng chiến “Sosias” trong bí mật. Nhờ một lần ném bom có chủ định trước của Royal Air Force mà ông đã giải phóng được những người của Résistance bị bắt giam trong nhà tù của Gestapo ở Amiens. Người anh em Dominique đã ghi chép lại các hoạt động nửa anh hùng nửa bất lương của cặp đôi kỳ lạ này trong quyển sách “Đá lót đường của địa ngục”, và đã mô tả lại cảm giác kỳ lạ mà người sếp của một nhóm bí mật đã trải qua khi lần đầu tiên phải dùng tay không bóp cổ cho tới chết một kẻ phản bội ở ngay trong hàng ngũ của mình. Vài năm sau khi chiến dịch Algeria kết thúc, Pierre Ponchardier, là đô đốc – vì xuất thân từ phi công của hải quân –, đã tử nạn vì rơi máy bay trên Senegal. Dominique ngược lại thăng tiến lên đến chức đại sứ ở Bolivia và cao ủy ở Djibouti. Nhưng cái mà ông ấy xem như là thành công lớn nhất của mình thì lại là lần xuất bản loạt sách gián điệp về những cuộc phiêu lưu của “Khỉ Đột”. Con “Khỉ Đột”, có lần de Gaulle đã nói như thế khi ông ấy tiếp đãi người đại sứ của mình, hẳn chính là Dominique.

            Đội Commando của Ponchardier bị xem như là một nhóm thô lỗ của những kẻ thích phiêu lưu mạo hiểm và dân du côn. Nhưng trong số đó cũng có cả những đứa con trai ngoan ngoãn từ những gia đình được cho là tốt, những người muốn chạy trốn sự chật hẹp của môi trường trung lưu của họ. Không thiếu những người độc đáo: một chuyên gia về Trung Quốc với một con đại bàng khổng lồ xăm trên ngực, kẻ biết kể những mẩu chuyện thú vị nhất về các thiên tử; hai tên ranh mãnh từ Paris, có vẻ như xuất phát từ giới ma cô và là những người mà người ta tin rằng họ sẽ thực thi quyền được cướp của, người ta cho rằng đội Comando có quyền đó trong những vùng đang có giao tranh; một vài chiến sĩ đơn độc của cơ quan tình báo DGER, sau khi Nhật đầu hàng, họ đã nhảy dù xuống những vùng đồi núi của Bắc Kỳ và đã tìm thấy ở đó những đống đổ nát mất tinh thần của đạo quân Đông Dương cũ của Pháp, cái mà trong Đệ nhị thế chiến đã tuyên bố theo Pétain và trong tháng 3 năm 1945, khi họ vào giờ chót lại muốn liên kết với phe Đồng Minh, đã bị lính Nhật Hoàng đánh tan mà chẳng khó nhọc gì. Các tỉnh ở ngoài rìa và các sắc tộc thiểu số của Grande Nation có nhiều đại diện: người Alsace và Corse, người Breton và Basque. Người ta khó lòng mà tưởng tượng được, rằng sau khi hết động viên, những người đàn ông này sẽ tìm về cuộc sống dân sự bình thường như thế nào. Ngay đối với “Pasha”, họ cũng đáng nghi ngại phần nào. “Lần tới đây nếu như tôi thành lập một đội lính”, có lần ông ấy đã lầm bầm nói như thế, “thì tôi sẽ chọn những đứa ngoan ngoãn và đáng tin cậy. Về lâu dài thì chúng can đảm hơn và dẻo dai hơn là những thằng lưu manh hay nhanh chóng mất tinh thần.”

            Các sĩ quan của Commando đã có những số phận hết sức khác nhau. Tôi gặp lại đại úy Quilici, người trông giống như một Bandit d’honneur người Corse, hai mươi năm sau đó ở Tchad như là đại tá nhảy dù của Thủy Quân Lục Chiến [Parachutistes d’Infanterie de Marien – lực lượng đặc nhiệm của Pháp], nơi ông đang thanh tra các ốc đảo ở phía bắc trong sa mạc Tibesti và Ennedi. Trung úy Augustin, người ngay thời đó đã là hiện thân của một nhà tu, như thường hay gặp trong giới sĩ quan Pháp – ở đây, thanh kiếm với bình đựng nước thánh có thể ngoái nhìn lại những liên kết hết sức xưa cũ –, sau thảm họa Algérie đã quay lưng lại với quân đội và đã từ bỏ ánh hào quang của vũ khí để làm một thầy dòng trong một tu viện dòng Đa Minh. Đại úy Trinquier có con đường sự nghiệp bất ngờ nhất, người đã phục vụ trong bộ binh thuộc địa ở nhượng địa Pháp tại Thượng Hải, trước khi đến với nhóm lính của Ponchardier. “Pasha” ít có cảm tình với người đàn ông điển trai kiểu Địa Trung Hải, quá thanh lịch này, người ngay trong rừng rậm Đông Dương cũng đi lại với một cái khăn lụa quàng cổ và nổi bật với cách ăn nói lịch sự. Thời đó, không ai nghĩ rằng trong giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh Viễn Đông của Pháp, Trinquier đã tổ chức các tổ kháng chiến của nhóm người dân tộc Mèo theo Pháp ở phía sau chiến tuyến của Việt Minh hay trong Chiến dịch Bắc Phi ông ấy đã nhận nhiệm vụ triệt tiêu khủng bố không thương xót trong Kasbah của Algier. Cuối cùng, sau cú đảo chính của các tướng lĩnh chống lại de Gaulle và sau khi rời khỏi quân đội, có một thời gian ngắn ông ấy còn là tổng chỉ huy của quân đội Kantaga, phục vụ cho tổng thống Moise Tshombe.

            Trên đường tiếp tục hành quân, chúng tôi bất ngờ bắt gặp một nhóm nông dân người Camphuchia. Họ nối đuôi nhau tiến đến. Có thể nhận ra họ là người Khmer qua làn da sẫm màu, ở mái tóc xoăn và ở xà rông mà họ quấn quanh hông. Khi nhìn thấy lính Pháp, họ quỳ xuống và chắp tay lại với nhau theo một cử chỉ khuất phục xưa cũ. Chúng tôi đã đến vùng làng mạc Campuchia. Nhà dọc theo các dòng nước được dựng trên cột. Cả phong cảnh ở đây cũng thay đổi. Đồng ruộng ở đây được thống trị bởi những cây báng đứng đơn độc, bị gió thổi rối tung. Ở làng kế đến, nhiều người Campuchia khỏe mạnh được tuyển mộ làm phu khuân vác. Họ thích làm việc cho người Pháp khi vấn đề là giết những kẻ thù lâu đời của họ, người Việt. Trong trận đánh, họ nhanh chóng vượt qua được nỗi hoảng sợ đầu tiên của họ và lúc nào có bắn nhau thì cũng đều mừng rỡ như trẻ con.

Phan Ba trích dịch từ “Cái chết trên ruộng lúa – Ba mươi năm chiến tranh Đông Dương

Đọc các bài khác tại trang Cái chết trên ruộng lúa

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

2 thoughts on “Nam Kỳ đầu 1946 (phần 1)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s